intTypePromotion=3

Ứng dụng luận điểm 4 trụ cột giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường

Chia sẻ: ViUzumaki2711 ViUzumaki2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
10
lượt xem
0
download

Ứng dụng luận điểm 4 trụ cột giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết với mục tiêu mô tả sự lồng ghép luận điểm trên vào công tác truyền thông giáo dục cộng đồng bảo vệ môi trường thông qua trường hợp nghiên cứu điển hình về hoạt động môi trường của sinh viên Đại học Quảng Nam cùng cộng đồng ở Hội An. Dữ liệu được thu thập trên 15 thôn/khối của 2 xã, phường đại diện qua đo đạc thực nghiệm tại hộ gia đình, và của toàn thành phố qua đánh giá có sự tham gia, phỏng vấn nhóm dựa trên khung cấp độ đồng quản lý và phương pháp nghiên cứu hành động cùng tham gia.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ứng dụng luận điểm 4 trụ cột giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường

ỨNG DỤNG LUẬN ĐIỂM 4 TRỤ CỘT GIÁO DỤC<br /> VÀO ĐÀO TẠO TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG<br /> THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG<br /> "Nghiên cứu trường hợp điển hình về hoạt động môi trường<br /> của sinh viên Đại học Quảng Nam cùng cộng đồng ở Hội An".<br /> Chu Mạnh Trinh 1<br /> Tóm tắt: Ứng dụng luận điểm 4 trụ cột của giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo<br /> dục cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường thông qua hoạt động quản lý rác thải sinh<br /> hoạt theo phương thức phân loại rác tại nguồn ở Hội An đã và đang đáp ứng được mục<br /> đích nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, hình thành thói quen, nếp sống văn minh đô<br /> thị, bảo vệ môi trường và trách nhiệm với cuộc sống, vì lợi ích mọi người, lợi ích thiên<br /> nhiên, hướng đến phát triển bền vững. Bài viết với mục tiêu mô tả sự lồng ghép luận điểm<br /> trên vào công tác truyền thông giáo dục cộng đồng bảo vệ môi trường thông qua trường<br /> hợp nghiên cứu điển hình về hoạt động môi trường của sinh viên Đại học Quảng Nam<br /> cùng cộng đồng ở Hội An. Dữ liệu được thu thập trên 15 thôn/khối của 2 xã, phường đại<br /> diện qua đo đạc thực nghiệm tại hộ gia đình, và của toàn thành phố qua đánh giá có sự<br /> tham gia, phỏng vấn nhóm dựa trên khung cấp độ đồng quản lý và phương pháp nghiên<br /> cứu hành động cùng tham gia.<br /> Keywords: 4 trụ cột giáo dục; Cộng đồng tham gia; Phân loại rác tại nguồn; Thay<br /> đổi hành vi.<br /> 1. Mở đầu<br /> <br /> 4 trụ cột giáo dục theo quan điểm UNESCO “học để biết, học để làm, học để cùng<br /> chung sống, học để làm người” [7] ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Học để biết. Học<br /> để có được kiến thức. Học để lĩnh hội được thông tin. Tuy nhiên, ngày nay với sự bùng nỗ<br /> của công nghệ, người học như được tắm mình trong biển cả của thông tin của tri thức. Vì<br /> vậy biết cái gì? vì sao cần phải biết? và làm thế nào để biết? là vấn đề quan trọng. Học để<br /> làm. Học để biết được cách làm. Học để làm được việc là nhu cầu của người đi học. Tuy<br /> nhiên, làm cái gì? làm cho ai? hoặc là vì sao phải làm? có làm được không? vẫn thường là<br /> các câu hỏi lớn trong xã hội. Vì vậy, học như thế nào để làm được? và làm ở đâu? cũng<br /> cần được quan tâm. Học để cùng chung sống. Đã từ lâu con người không thể tách rời khỏi<br /> gia đình, khỏi xã hội và đặc biệt trong thời đại ngày nay, con người càng không thể tách<br /> rời khỏi cộng đồng. Tuy nhiên, chung sống với ai? vì sao phải chung sống? và làm thế nào<br /> để được mọi người chấp nhận? là những câu hỏi lớn khi tiếp cận vấn đề này. Học để làm<br /> người. Học để có điều kiện khẳng định lấy mình là nhu cầu lớn đối với mỗi con người.<br /> Con người được thể hiện qua nhân cách? đạo đức?<br /> Quá trình sư phạm toàn diện bao gồm 2 quá trình bộ phận là quá trình dạy học và<br /> 1<br /> <br /> TS, BQL Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm<br /> <br /> 119<br /> <br /> CHU MẠNH TRINH<br /> quá trình giáo dục [2]. Quá trình dạy học cơ bản là trang bị tri thức khoa học cho người<br /> được giáo dục, trong khi quá trình giáo dục là hình thành nhân cách, hay nói cách khác là<br /> quá trình hình thành đức và tài cho người học. Giáo dục cộng đồng cũng là một quá trình<br /> giáo dục toàn diện hiện nay trong xã hội nhằm hình thành tính cách xã hội, phẩm chất tốt<br /> đẹp của mọi thành viên trong cộng đồng ấy [7]. Đối với tài nguyên và môi trường, đối<br /> tượng của giáo dục cộng đồng về lĩnh vực này được mở rộng với mọi tầng lớp trong xã<br /> hội [5]. Tuy nhiên, trong một không gian nghiên cứu nhất định, các đối tượng giáo dục<br /> gắn liền với nhà trường thường theo các trang lứa đều nhau, còn trong cộng đồng thì tính<br /> phức tạp cao hơn về các khía cạnh như tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần. Vai trò của cộng<br /> đồng, xã hội trong liên kết giáo dục với nhà trường nhằm đáp ứng được tính phức tạp của<br /> quá trình giáo dục [2]. Điều kiện làm việc của lao động sư phạm bao gồm không gian và<br /> thời gian [2], vì vậy tăng cường giáo dục cộng đồng càng tạo điều kiện thuận lợi cho lao<br /> động sư phạm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong quá trình dạy học và giáo dục.<br /> Người sinh viên được tào tạo về quản lý môi trường hôm nay sẽ là người cán bộ<br /> cộng đồng ngày mai đòi hỏi không những vững kiến thức đã học, mà còn phải biết thực<br /> hành, biết làm, biết vận động cộng đồng tham gia vào bảo vệ môi trường. Muốn vậy người<br /> cán bộ cộng đồng phải biết tập hợp được lực lượng, phải thành thạo các kỹ năng hỗ trợ<br /> cộng đồng xây dựng được tầm nhìn, triển vọng tương lai của phát triển bền vững tại địa<br /> phương, phân tích được các tình huống và giải quyết được các vấn đề theo khả năng của<br /> nội lực địa phương. Đồng thời người cán bộ cộng đồng phải hết sức mẫu mực, là tấm<br /> gương trong thực hành các nỗ lực bảo vệ môi trường [3]. Như vậy, nhu cầu của người học,<br /> người được giáo dục không chỉ là học để biết, mà học còn để làm, để cùng mọi người làm,<br /> để chung sống với cộng đồng và để có thể khẳng định lấy mình với chia sẻ trách nhiệm và<br /> lợi ích chung của mọi người của xã hội.<br /> Thông qua nghiên cứu khả thi về quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An,<br /> người sinh viên thực tập có được cơ hội lĩnh hội thông tin khoa học, tri thức xã hội, cộng<br /> đồng về tài nguyên, môi trường và rác thải chuyển đến người dân thông qua mục đích, nội<br /> dung, hình thức truyền thông và giáo dục nhằm thay đổi nhận thức, hành vi, hình thành<br /> thói quen, nếp sống hài hòa với thiên nhiên. Ở đây, người sinh viên được hướng dẫn thực<br /> hiện các điều tra khảo sát trực tiếp trong cộng đồng để phát hiện các quy luật phát sinh,<br /> vận hành và đến điểm cuối cùng của rác thải. Người sinh viên một lần nữa được kiểm<br /> nghiệm thực tế và đối chiếu với những kiến thức hàn lâm mà mình đã được học ở trường<br /> và từ đó hình thành nên kiến thức cho riêng mình [6]. Sinh viên được tiếp cận thiết kế bài<br /> giảng truyền thông về rác thải và quản lý rác thải cho cộng đồng. Sinh viên sẽ phải làm<br /> việc với các bên liên quan cơ bản trong cộng đồng như nhà quản lý, nhà khoa học, đồng<br /> doanh nghiệp và người dân để thuyết phục sự đồng thuận từ mọi người ở đây. Người sinh<br /> viên sẽ không thể thực hiện được nhiệm vụ này nếu như chỉ có một mình, mà phải cùng<br /> làm nhóm, có sự tổ chức và phân công một cách phù hợp. Đồng thời từ đó người sinh viên<br /> nhận ra được rằng quá trình giáo dục cộng đồng một cách toàn diện phải thực hiện bao<br /> gồm hai quá trình thành phần là quá trình truyền thông, truyền đạt, tổ chức hoạt động và<br /> quá trình giáo dục thường xuyên, liên tục thì mới chuyển đổi được hành vi, xây dựng thói<br /> quen và hình thành nhân cách [2,6]. Từ tinh thần được đào tạo và giáo dục, tham gia<br /> nghiên cứu khả thi này người sinh viên được chủ động chuyển sang vai trò là người ứng<br /> dụng luận điểm 4 trụ cột giáo dục truyền thông và giáo dục cộng đồng thông qua sản<br /> 120<br /> <br /> ỨNG DỤNG LUẬN ĐIỂM 4 TRỤ CỘT GIÁO DỤC…<br /> phẩm là người dân cần được biết, hiểu, làm, hợp tác, tổ chức thực hiện, chuyển đổi hành<br /> vi, thực hiện nếp sống văn minh, tích cực bảo vệ môi trường tại địa phương.<br /> Với mô hình thí điểm về đồng quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An [3],<br /> người sinh viên vừa tác nghiệp là người thực hiện nghiên cứu vừa với vai trò là nhà khoa<br /> học, bảo tồn, giáo dục cộng đồng. Hòa nhập thành phần này, người sinh viên là người giáo<br /> dục, truyền thông và sẽ thực hiện quá trình sư phạm bao gồm 2 quá trình thành phần là<br /> truyền thông, và giáo dục. Để làm tốt công việc này người sinh viên phải thực hiện đồng<br /> thời 3 chức năng lớn là nghiên cứu, giảng dạy và giáo dục đối với nhà quản lý, doanh<br /> nghiệp và người dân, cũng như tác động đến vai trò của 4 nhà trong quá trình thực hiện<br /> mô hình [2,6].<br /> 2. Nội dung<br /> 2.1. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu<br /> <br /> Đây là một nghiên cứu hành động (Participatory Action Research, PAR) của nhóm<br /> nghiên cứu và tham gia của cộng đồng dân cư địa phương từ việc phát hiện các vấn đề bất<br /> ổn trong quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hội An đến việc tìm ra và thực hiện<br /> phương cách giải quyết để tăng cường hiệu quả những nỗ lực bảo vệ môi trường thông qua<br /> ứng dụng luận điểm 4 trụ cột giáo dục vào đào tạo truyền thông giáo dục cộng đồng.<br /> 2.1.1. Dữ liệu định tính<br /> Nghiên cứu đã vận dụng một số công cụ đồng tham gia để khai thác thông tin định<br /> tính từ cộng đồng. Khung phân tích DPSIR (dẫn lực, áp lực, hiện trạng, tác động, đáp ứng)<br /> hướng dẫn cộng đồng nhận định các mâu thuẫn tồn tại trong hiện trạng quản lý rác thải địa<br /> phương để đưa ra các giải pháp cần thực hiện trong quá trình đồng quản lý (ĐQL). Khung<br /> phân tích này được sử dụng định kỳ trong khoảng thời gian 2012, 2013, 2014 để xác định<br /> các mâu thuẫn, cũng như các giải pháp bổ sung thực hiện. Nguyên tắc SMART (cụ thể,<br /> lượng hóa, thực thi, hợp lý, thời gian) hướng dẫn cộng đồng chọn lựa theo thứ tự ưu tiên<br /> các hoạt động thực tiễn để thảo luận trên cơ sở cụ thể, khả thi, thiết thực và mốc thời gian<br /> của quản lý rác thải; thường đi kèm hỗ trợ cho khung phân tích DPSIR. Ma trận SWOT<br /> (điểm mạnh, mặt yếu, cơ hội, thách thức) hướng dẫn cộng đồng nhận định về thế mạnh,<br /> điểm yếu của địa phương, cũng như phân tích các cơ hội và thách thức trong quản lý rác<br /> thải; thường đi kèm hỗ trợ cho khung phân tích DPSIR [1].<br /> 2.1.2. Dữ liệu định lượng<br /> Hướng tiếp cập “Khung cấp độ đồng quản lý” theo [4], giới thiệu từ năm 2011 được<br /> vận dụng để khảo sát và thu thập thông tin về hiện trạng đồng quản lý tại địa phương.<br /> Điểm chính yếu của khung cấp độ đồng quản lý là sự kết hợp 3 thước đo mức độ hành<br /> động của cộng đồng, cấp độ đồng quản lý và cấp độ tham gia theo các bước thông tin<br /> tương ứng từ thấp đến cao (Hình 1).<br /> Nghiên cứu đã khảo sát 300 mẫu điều tra xác định theo 4 nhóm đối tượng bao gồm<br /> nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, người dân, nhà khoa học, truyền thông và khách du lịch để<br /> thu thập thông tin về quản lý rác thải sinh hoạt bao gồm phân loại, quy định, cơ sở hạ tầng<br /> thu gom, xử lý, công nghệ và đầu tư, về trách nhiệm và lợi ích của cộng đồng dựa theo<br /> khung cấp độ đồng quản lý để đánh giá hiện trạng đồng quản lý theo thời gian.<br /> 121<br /> <br /> CHU MẠNH TRINH<br /> <br /> Cấp độ tham<br /> gia ĐQL rác<br /> thải Hội An<br /> vào năm<br /> 2014<br /> <br /> Quyết định<br /> <br /> Tự quản<br /> <br /> Thông tin<br /> <br /> Kiểm tra<br /> <br /> Tâm huyết<br /> <br /> Tư vấn<br /> <br /> Làm<br /> <br /> Hợp tác<br /> <br /> Bàn<br /> <br /> Thực thi, tuân thủ<br /> <br /> Chủ động<br /> <br /> Cố vấn<br /> Biết<br /> <br /> Thụ động<br /> Hướng dẫn<br /> <br /> Cấp độ đồng quản lý<br /> <br /> Hành động của cộng đồng<br /> <br /> Cấp độ tham gia<br /> <br /> Thời gian bắt đầu tháng 11/2012<br /> <br /> Hình 1: Khung cấp độ đồng quản lý [4]<br /> <br /> 2.1.3. Hướng phân tích<br /> Dữ liệu định tính được phân tích dựa trên một số công cụ đánh giá có sự tham gia<br /> của cộng đồng. Dữ liệu định lượng được phân tích theo phương pháp thống kê mô tả. Các<br /> thùng rác được đánh dấu theo thùng dễ phân hủy, thùng khó phân hủy và thùng rác tái chế<br /> hay rác ve chai. Tại mỗi thùng, rác được phân theo các nhóm dễ phân hủy, khó phân hủy<br /> và tái chế theo hướng dẫn chung của thành phố Hội An. Các nhóm rác phân loại được cân<br /> tổng khối lượng và được ghi chép theo dõi sự diễn biến của chúng theo thời gian.<br /> 2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> <br /> 2.2.1. Thiết kế mô hình đồng quản lý (ĐQL) rác thải sinh hoạt<br /> Sinh viên thực tập được tham gia thiết kế mô hình đồng quản lý (ĐQL) rác thải sinh<br /> hoạt theo phương thức phân loại rác tại nguồn (PLRTN) trên cơ sở khoa học về đồng quản<br /> ý, con đường đi của rác thải và định hướng chiến lược quản lý rác thải tại thành phố Hội<br /> An. Một giả định khoa học đặt ra là định hướng đó chỉ rõ rác thải được phân thành 3 nhóm<br /> riêng biệt bao gồm rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy và rác thải tái chế hay còn<br /> gọi là rác thải ve chai ngay sau khi nó được hình thành. Hành động phân loại rác thải sinh<br /> hoạt một cách song hành tại thời điểm rác thải được hình thành gọi là phân loại rác tại<br /> nguồn. Sau đó 3 loại rác thải sinh hoạt được thu gom và chuyển đến các điểm cuối cùng<br /> theo đúng quy định. Rác thải tái chế sẽ được chuyển đến các cơ sở thu mua phế liệu. Rác<br /> 122<br /> <br /> ỨNG DỤNG LUẬN ĐIỂM 4 TRỤ CỘT GIÁO DỤC…<br /> thải dễ phân hủy sẽ được chuyển đến nhà máy làm phân compost, hoặc các nơi làm<br /> compost hộ gia đình. Rác thải khó phân hủy sẽ được chuyển đến bãi rác Cẩm Hà. Mô hình<br /> được thực hiện mang nội dung và hình thức phát triển cộng đồng vì vậy để thuận lợi triển<br /> khai các hoạt động của mô hình ĐQL rác thải theo phương thức PLRTN cần phải xúc tiến<br /> công tác truyền thông nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng tiếp cận và tham gia<br /> các hoạt động của mô hình. Sự tham gia rộng rãi và tích cực của người dân, doanh nghiệp,<br /> nhà khoa học vào mô hình bao giờ cũng tỷ lệ thuận với hiệu quả triển khai hoạt động.<br /> Đồng thời mô hình sẽ tạo điều kiện kế thừa một cách có hệ thống và phối kết hợp với các<br /> chương trình, dự án có liên quan tại địa phương một cách phù hợp. Sinh viên được hướng<br /> dẫn xây dựng tài liệu truyền thông bao gồm tờ rơi, tài liệu hướng dẫn tập huấn kỹ thuật<br /> TOT, số tay PLRTN, hướng dẫn xây dựng kế hoạch quản lý rác thải địa phương là những<br /> phương tiện quan trọng giúp cho mô hình ĐQL PLRTN được triển khai hiệu quả. Tài liệu<br /> truyền thông dễ hiểu, dễ đọc, dễ tiếp cận, sinh động tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình<br /> chuyển hóa thông tin vào “nhận thức” của cộng đồng và từ đó phát triển thành ý thức.<br /> 1.000 tờ rơi PLRTN được thiết kế và in ấn để phục vụ cho hoạt động truyền thông, tập<br /> huấn kỹ thuật trong suốt thời gian đề tài được thực hiện. Nội dung tờ rơi phản ảnh quy<br /> định của Hội An về 3 nhóm rác thải cơ bản bao gồm rác thải dễ phân hủy, khó phân hủy<br /> và tái chế hay còn gọi là rác thải ve chai [8].<br /> <br /> Hình 2: Tờ rơi PLRTN [3]<br /> <br /> 123<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản