
Vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng!
Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ được đặt lên
hàng đầu trong việc đổi mới hệ thống chính trị của nhà nước ta trong
suốt thời gian qua. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt
Nam, nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy nhà nước đã
được thực hiện không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước,
đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội
toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng xác định nhiệm vụ chiến lược là xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là
nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ
chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
Song song với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính,
trong nhiều nghị quyết của Đảng đã đề ra cải cách tư pháp. Cải cách tư pháp
luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN ở Việt nam. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây
dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức
tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn
trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng
cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà
án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ

quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật
sư.
Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử được coi là khâu trọng tâm vì ở
đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt động trên
cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Tòa án nhân danh Nhà nước đưa
ra phán xét một người là có tội hay không có tội. Tính chính xác, khách quan,
hợp pháp của sự phán xét, cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân phụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ
phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của luật
sư với vai trò là người bào chữa cho bị can, bị cáo cũng góp phần không nhỏ
vào việc bảo vệ công lý. Hoạt động của luật sư tuy không phải là hoạt động
tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho
hoạt động tư pháp. Hoạt động của luật sư có thể xem như một công cụ hữu
hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích chính
đáng của mình. Như vậy, có thể nói tranh tụng là một mắt xích quan trọng
trong cải cách tư pháp. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta khi thể
chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết
của Bộ chính trị số 08- NQ/TW tại các quy định khác nhau đã khẳng định các
nguyên tắc như: “…bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa
và những người tham gia tố tụng khác; Việc phán quyết của tòa án phải căn
cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; các cơ quan tư pháp có
trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng...”. Qua
nhiều năm thực hiện đường lối của Đảng cũng như áp dụng các quy định
pháp luật, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng hoạt động điều tra,

truy tố và xét xử phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải
cách tư pháp. Trước tình hình đó, để khắc phục những bất cập tồn tại, Ban
chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 49- NQ/TW về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và tiếp tục khẳng định: Một trong
những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là“… xác định rõ hơn vị trí,
quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao
chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của
hoạt động tư pháp”. Điều này cho thấy các nghị quyết của Bộ chính trị đã xác
định việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính
cấp thiết và mang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp.
Để đáp ứng nhiệm vụ cải cách tư pháp nói chung và phát huy hiệu quả hoạt
động tranh tụng của luật sư nói riêng, việc nghiên cứu vai trò của luật sư
trong hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật hiện hành là việc làm cần
thiết. Với ý nghĩa là một nguyên tắc của tố tụng hình sự, tranh tụng đòi hỏi
các chủ thể tiến hành tố tụng, các cá nhân, cơ quan có liên quan phải có trách
nhiệm đảm bảo cho hoạt động tranh tụng được thực hiện đúng theo các quy
định của pháp luật. Như chúng ta biết, hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động
tổng thành của ba chức năng cơ bản: chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội
(bào chữa) và chức năng xét xử. Cả ba chức năng này có mối quan hệ gắn bó
hữu cơ với nhau và không thể tách rời nhau. Có chức năng buộc tội mà không
có chức năng gỡ tội thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính đơn chiều và quy buộc
chứ không phải là tranh tụng. Tố tụng hình sự không được thừa nhận là dân
chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng gỡ tội. Sự đối

trọng, phản biện của hoạt động bào chữa đối với hoạt động của các cơ quan
thực hiện chức năng buộc tội (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát) chính là yếu tố
hạn chế sai lầm, hạn chế làm oan người vô tội.
Khi nghiên cứu các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp cho thấy việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng cộng sản
Việt Nam rất chú trọng công tác cải cách tổ chức và hoạt động luật sư. Nghị
quyết 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 của Bộ chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã đặc biệt quan tâm đến vai trò
của luật sư và đặt nhiệm vụ cho cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm hoạt
động của luật sư trong tố tụng. Nghị quyết đã nêu rõ: “nâng cao chất lượng
công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật
sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”; “các cơ quan tư
pháp có trách nhiệm để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng; tham gia hỏi
cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”.
Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng đề ra
nghị quyết: “Đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt động luật sư…phù
hợp với chủ trương xã hội hóa, kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản
của các tổ chức nghề nghiệp. Đào tạo và phát triển đội ngũ luật sư có phẩm
chất đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy vai trò của họ
trong tư vấn và trong tố tụng…”.
Từ góc độ quy định của pháp luật, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng
đưa ra nguyên tắc: đảm bảo quyền bình đẳng cho luật sư bào chữa khi tham
gia tranh tụng tại phiên tòa.

Trước hết, để có thể đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng
tại phiên tòa, đảm bảo dân chủ, bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng, thiết
nghĩ cần phải nhận thức đúng về mô hình tranh tụng.
Ngay từ buổi đầu của sự hình thành, nền tư pháp của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa đã chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi nền tư pháp của nước Pháp. Mô
hình tố tụng của Việt Nam là sự tiếp nhận mô hình tố tụng nước Pháp, tức
theo mô hình tố tụng thẩm vấn(mô hình tố tụng thẩm vấn có đặc thù đặt
nặng vai trò trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong suốt quá trình tố tụng.
Tại phiên xử Tòa án giữ vai trò chính, làm nhiệm vụ kiểm tra chứng cứ, tình
tiết, dựa vào kết quả điều tra của các cơ quan tố tụng trước đó). Đến giai đoạn
những năm 1960 những thay đổi, phát triển trong hệ thống tư pháp Việt Nam
cho thấy sự xuất hiện của nguyên tắc chế ước, ràng buộc giữa các cơ quan tư
pháp. Viện kiểm sát Việt Nam có mô hình gần như tương đồng với mô hình
của Viện kiểm sát các nước xã hội chủ nghĩa và được duy trì cho đến nay.
Trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự đã xuất hiện các yếu tố, nội
dung của mô hình tố tụng tranh tụng (là mô hình mà tòa án sẽ đóng vai trò
là trọng tài với chức năng điều khiển, giải thích pháp luật. Quyền và nghĩa vụ
của bên buộc tội (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát) và bên gỡ tội (luật sư bào
chữa) ngang nhau. Các bên sẽ cùng tranh luận, đưa ra chứng cứ để bảo vệ
quan điểm. Dựa vào đó, bồi thẩm đoán sẽ là người quyết định xem bị cáo có
tội hay vô tội và tòa sẽ tuyên án. Mô hình này nêu cao vai trò của người bào
chữa, tạo sự cân xứng giữa bên gỡ tội và bên buộc tội). Điều này chứng tỏ
thực tiễn hoạt động xét xử của Việt Nam đã có sự tiếp nhận những yếu tố
nhất định trong mô hình tranh tụng của các nước. Sự tiếp nhận này thể hiện

