Văn hoá sử Nhật Bản_Chương 5
CHƯƠNG 5
VĂN HÓA THỜI XÃ HỘI PHONG KIẾN BÀNH TRƯỚNG
SỰ NỔI DẬY THÌNH LÌNH CỦA VŨ SĨ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA VIỆC NẦY
Lịch sử tiến triển rõ rệt nhất khi có sự thay đổi quyền lực chính tr. Sức mạnh làm lch sử
tiến trin trước hết được tích lũy ở giai tầng thấp nhất trong xã hi, sức mnh nầy lần ln
lên giai tầng trên và sau cùng đi đến chỗ làm thay đổi quyền lực cnh tr. Và động
thúc đẩy lịch sử tiến trin lúc nào cũng là cần lao sinh sản, và điều nầy đã trở thành
thường thức ngày nay.
Như đã nói ở phn trước, không phải dòng Fujiwara hay những quí tc khác đã làm xã
hi luật lệnh biến chất để trở thành xã hi quí tc, mà chính schng đối tiêu cực của
giới nông dân đã gây ra điều nầy. Nông dân đã trốn ruộng khẩu phần, gây ra sự đổ vỡ của
chế độ phạn điền và làm phát trin chế độ trang viên. Sau đó, chính sự trưởng thành của
nông dân đã khiến nông dân đứng lên làm trang viên đổ vỡ, và tđó, quốc gia thời cổ bị
diệt vong và xã hi phong kiến được tạo ra.
Sự nổi dậy thình nh của vũ sĩ không nhất thiết là kết quả của quá trình tranh dành quyền
lực giữa vũ sĩ và quí tc trong nội bộ của giai cấp cai trị. Như đã nói ở phần trước, vũ sĩ
là mt thế lc mới xuất hin từ thành phần hào nông, tầng lớp danh sĩ ở nông thôn. Sư
ni dậy thình lình của vũ sĩ có mt ý nghĩa lớn lao là tiến hành cách mạng trong quyền
lực cai tr, mà giai cấp cai trị của quốc gia đời xưa đã giữ hầu như liên tục từ thời đại
Yayoi, nay sắp bị thay đổi bằng mt thế lực từ dưới lên, mt thế lực đã được bi dưỡng
trong đại chúng nhânn.
Giai cấp thị tính, quí tc thời luật lệnh, quí tộc thi chính trị nhiếp quan, tt cả đã giđịa
v cai tr của mình trong cơ cấu quốc gia dưới chế độ thiên hoàng, ngược li vũ sĩ, những
đa chở địa phương, có chân đứng trên một cơ sở hiện thực là kinh doanh nông nghiệp.
Vũ sĩ đã được sinh ra với sứ mnh phải lớn lên trong ni bộ của cơ cấu chế độ thiên
hoàng, nên đã phải lấy mt hình thức tuân thủ giai cấp cai trị, t dụ như hoặc được bổ
nhiệm làm quan Tsuibushi” (追捕使) (Truy bsứ) hoặc “Oryoushi” (押領使) p lãnh
sứ), hoặc làm người nhà của dòng Fujiwara. Đôi lúc vũ sĩ đã cần phi để dòng quí tc
như Taira (Bình) hoặc Minamoto (Nguyên) đứng trên làm Touryou (棟梁) (Đống lương:
đầu lãnh), nhưng thực lực của vũ sĩ không phải là do sự quan hệ với thượng tầng, mà điều
thnhất là do sự kết hợp với đất đai, kế đến là do một khế ước chủ tùng (chủ tớ) vi
những người ở giai tầng xã hi thấp hơn. Nhờ ly mt sức mạnh từ dưới làm nguyên
động lc, vũ sĩ đã đổi ngược được địa vị cai tr trong quốc gia thời xưa, và đã thành công
trong việc tạo ra một xã hi mi, đó là xã hi phong kiến mới.
Vũ sĩ đã đứng tiên phong trong vic tiến hành cách mạng bng phương pháp ăn mòn t
ni bộ thể chế trang viên, nhưng đã không thể phá vỡ quốc gia thời xưa trong một lần
được. Vũ sĩ đã phải thỏa hiệp vi quí tộc nhiều lần, và xã hi đã cần một thi gian dài
hằng mấy tmm mới hoàn toàn thay đổi được sang tổ chức phong kiến.
Giòng Taira đã tnh công trong việc lấy cnh quyền ở Kyouto sau khi bình định loạn
Hougen (保元)[1] (Bảo nguyên) và lon Heiji (平治)[2] (Bình tr). Nhưng giòng Taira
chỉ giữ được những chức vụ trọng yếu trong cơ cấu chính trị quí tộc, chớ chưa mở ra
được một thể chế chính tr vũ gia mới, thay thế cho chế độ chính tr quí tc. Ngay như
Minamoto Yoritomo (源頼朝), người diệt dòng Taira, lập Mạc phủ ở Kamakura, cũng
chỉ tạo ra được một tổ chức có quyền lực độc lập để khống chế vũ sĩ và lãnh địa của họ,
chớ không phải để cướp đoạt quyền năng của chính phủ Kyouto. Việc bắt đầu chế độ
chính tr vũ gia ở đây chỉ có nghĩa là sbắt đầu của một cách cai tr hai phía, mt của vũ
gia và một củang gia (quí tộc của quốc gia thời xưa và con cháu của họ).
Sau đó, vào năm 1221, qua loạn Joukyuu (承久)[3] (Thừa Cửu), mạc phủ có ưu thế tuyệt
đối. Việc ăn mòn quyền lực cai tr trở thành nhanh hơn. Mạc phủ đã đặt Shuugo (守護)
(Thủ hộ), Jitou (地頭) (Địa đầu) thay thế cho quốc tư và chủ trang viên, những quan chức
cai tr thời xưa. Việc di chuyển cai trị từ hai phía sang cai tr mt phía của vũ đã đi đến
chkhông nn chận được. Nhưng thời mạc phủ Kamakura cũng không vượt khỏi giai
đoạn có tính cách quá độ nầy.
Văn hóa sử đã phản ánh đúng tình thế xã hội i trên. Sự tăng trưởng của thế lực vũ sĩ do
sự trưởng thành của quần chúng đẩy lên khiến thế giới văn hóa ln lượt sinh ra những văn
hóa mới có nhng yếu tố dân chúng phong phú, không thể thy trong xã hi quí tộc.
Nhưng ở Kyouto, quyền uy văn hóa của quí tộc thời xưa và địa vị chính tr của họ vẫn
được duy trì. Mặc dầu đã lấy được quyền lực, nhưng vũ sĩ chưa được một văn hóa độc
đáo của chính mình để có thể đương đầu với văn hóa quí tộc, nên vũ sĩ vẫn phải quì chân
trước văn hóa quí tộc và học hỏi văn hóa đó. Và để tương ứng với thế lc chính trị, ngay
trên mặt văn hóa, tranh chấp đã xảy ra giữa văn hóa cổ truyền thống vi văn hóa mi.
Văn hóa mới lần ln trthành ưu thế trong khi văn hóa cũ ln lần suy vong. Có thể nói
đây mt chiều hướng căn bn của thi đi nầy.
Chương nầy sẽ khảo sát tường tận sự phát triển của nền văn hóa mi, cố gắng làm rõ
bước đầu tiên đã được bước ra như thế nào trong sự khai trin từ thời đại văn hóa quí tộc
sang văn hóa dân chúng.
BẢN TÍNH CỦA VŨ SĨ VÀ TÍNH CHẤT VĂN NGHỆ CỦA HỌ
Xã hi cổ đại là xã hi đã trực tiếp cai tr thân thể nhân dân qua quyn lực tập trung của
quc gia, coi nhân dân là nô l và đã bốc lt sức lao động đó. Đối lại xã hội phong kiến
có th nói rằng đây là xã hi đã trưng thu sản vật của nhân dân đnh cư với đất đai, qua sự
trung gian của quyền lực cai trị đất đai phân tán ở khắp nơi.
Cai tr đất đai đã trung tâm của cách cai tr phong kiến. Tổ chức nhân sự mà nhng
người cai trị trong chế độ phong kiến lập ra để củng cố việc cai trị đất đai là sự kết hợp
chủ tùng” (chủ tớ). Điều nầy nghĩa là vũ sĩ đã lập liên hệ chtùng với bộ hạ, cấp Go
on” (御恩) (ơn) cho bộ bạ bằng cách công nhận quyền lợi của bộ hạ với đất đai, cho bộ
h đất đai mới và bảo hquyền lợi đó. Đi với chủ quân, bộ hạ phải “houkou” (奉公)
(phụng sự người trên) và chuukin” (忠勤)(trung cần) (đem hết sức ra làm việc) về mặt
quân sự, kinh tế, trong thi bình cũng như lúc chiến tranh. Qua sự kết hợp nầy, kinh tế và
quân sự của vũ sĩ đã trở thành hết sức mạnh mẽ. Sự kết hợp chủ tùng nầy là sliên hp
liên tầng từ hạ tầng vũ sĩ đến Touryou (người đứng đầu, lãnh đạo) của vũ gia. Sự quan h
chủ tùng nầy được truyền từ cha đến con, và kết hợp đó ngàyng được củng cố. Liên h
chủ tùng đã to ra một quan hệ nhân sự mới mà công gia quí tc không có. Sự thắng lợi
của vũ sĩ đối với quí tộc có được là nh ở uy lực phát huy từ quan hệ nhân sự mới nầy.
Vũ sĩ khi đã ra chiến trường, chủ tùng cùng nhau gian nan, đôi lúc cùng vận mệnh sinh t
với nhau, cho nên sự kết hợp chtùng ngày càng mạnh ra. Sự kết hợp nhân sự trong
những tranh dành sống chết,tính chất nghiêm túc vượt qua nhng quan hlợi hại, một
tình cnh tinh thần mà quí tc hoàn toàn không biết được.
Đương nhiên sự liên hệ chủ tùng ny chỉ để bảo trì và khuếch trương những lợi ích tương
hỗ trong xã hi, không bao gồm một ý thức xã hi rộng rãi hơn. Ở điểm nầy, có chỗ thụt
lùi so vi quí tc thời luật lệnh, những người có tự giác vnghĩa vụ nhìn rng chính trị
toàn th quốc gia. Một điều nữa không thể phủ định được là dù để thỏa mãn dục vọng v
quyền lực của mình, quí tc trong chính trị nhiếp quan đã dùng nhiều mưu mẹo thâm
hiểm, nhưng đã không giết hại người khác, mt mt vũ sĩ đã có gương mặt phi đạo, bình
thản trong hành vi giết người mt cách tàn khốc. Cho nên không th bình phẩm luân lý
vũ sĩ cao cả được, nhưng cần ghi rằng vũ sĩ đã đem lại mt linh hoạt trẻ trung, thiếu trong
hi quí tộc trụy lạc.
Tiếng “vũ sĩ” có ý nghĩa và tính cách khác nhau trong nhiều giai đoạn, bao gồm những
vũ sĩ tthời Kamakura, những người cơ sở kinh doanh nông nghiệp, đến những vũ sĩ
thi Edo, những người tiêu thụ ở thành th. Vì vậy đạo đức của vũ sĩ cũng khác nhau theo
thi đại. Chữ “vũ đạo” được dùng rng rãi ny nay là chđược tạo ra vào thời Edo.
Những học giả luân lý thời Minh Tr đã m hoá “vũ sĩ đạo”, tuyên truyn ở Âu Mỹ, coi
đó như là mt đạo đức phổ biến. Vũ đạo là mt quan niệm tư tưởng thời Edo, thực thể
đạo đức của vũ sĩ trong thời phong kiến bành trưng, không thtưởng tượng ra được qua
những tính chất có trong ch“vũ sĩ đạo”.
Một cách tổng quát, trong liên hợp chủ tùng, quan hệ song phương giữa chủ tùng không
bình đng, nghĩa vụ “bng công” của người dưới đối với “chủ quân” đi trước “ơn cố” của
chủ quân đối với kẻ dưới tay. Kết hợp chtùng lúc sơ k đúng như ý của chữ
Ichizokuroudou (一族郎等) (Ichizoku: một giòng họ, roudou: kẻ dưới) chỉ những người
cùng dòng họ, quan hệ cộng đồng tn tộc giữa chủ quân và người dưới tay phần nhiều
được tiếp tục lâu dài, khác vi xã hi phong kiến ở Âu châu, có quan hchủ tùng theo
khế ước song phương cổ điển. Nói như vậy nhưng sự quan hệ chtùng nầy trên căn bản
khác với quan hệ đơn phương có nh cách nô lệ giữa chính phủ luật lệnh với nhânn.
Tuy vậy, nghĩa vchủ tùng là nghĩa vụ song phương lấy “ơn cố” và “bổng công” làm
tiền đề, không nhất thiết người dưới có nga v“trung cầnđơn phương vô điều kiện.
Như thời Edo, quyn lực của chủ quân trở thành hết sức mnh mẽ, cho nên hầu hết vũ
đã b cắt rời khi đất đai, và đã biến ra thành những người lãnh lương, hưởng
“Chigyoumai” (知行米) (Tri hành mễ: lương trả bằng gạo lấy từ lãnh địa) nên sự độc lập
của kẻ dưới gần đến số không. Nhưng ở xã hi phong kiến thời bành trướng, quyền lực
trung ương còn yếu, vũ sĩ đất đai, kinh doanh nông nghiệp,n đối với chquân, tính
độc lập của họ có vẻ mnh mẽ. Ngoại tr những vũ sĩ thấp nhất, không có đất đai, những
vũ sĩ trung bình trở lên, đối với chquân không nhất thiết phải “bổng công” mt cách
đơn phương kiểu nô lệ.
Những người nầy chiến trường đã dũng cảm chiến đấu, và đã không quên đòi hỏi “ơn
thưởng” đối với “quân công“ (chữ Nhật là quân trung) của họ. Những bảng quân công”
được viết ra để yêu cầu “ơn thưởng” đã được tìm thy rất nhiều, đã hùng biện rằng đạo
đức của vũ sĩ không phải đạo đức của hiến thân” một cách vô điều kiện. Quan hcha
truyn con nối đã là mt sức mạnh duy trì sự kết hợp chủ tùng, nhưng khi tình thế thay
đổi, nhiều vũ sĩ đã ly phản nhà chủ cũ. Hatakeyama Shigetada (畠山重忠), được mi
người coi là trung thần của Yoritomo (dòng Minamoto), ông nầy ban đầu đã là gia thần
của dòng Taira, đi chinh phạt Yoritomo.
Đối với vũ sĩ, điều mà họ quan tâm nhất là bảo hộ gia tc, làm cho con cháu phồn vinh,
lòng trung nghĩa đối với chủ quân chỉ là mt thủ đoạn mà thôi. Hđể chquân n đầu
chỉ vì lợi ích của bản thân và gia tc. Cùng là gia thần dưới một chủ quân h không có
tình cm liên đới tương h với nhau. Khi ra chiến trường, họ không thể hành động theo
kiểu đoàn thể, ngược lại họ chỉ lo tìm chhở của người cùng bên, tranh nhau trận nhất.
Đương nhiên ngoài chuyện lo lập công danh cho cá nhân mình, hkhông có đủ độ lượng
trong lòng để nhìn lại người khác.
Đạo đức chủ tùng có tính cách như vậy vì sự kết hợp chủ tùng là mt kết quả tất nhiên
sinh ra từ quan hệ xã hi đã được kết thành rải rác ở từng địa vực riêng biệt, sau khi sự
thng nhất có tính cách hình thức của xã hội thời cổ bị phân tán. Do đó, đạo đức nầy đã
gặp một gii hạn lịch sử lớn lao. Mặt khác, lập lại một ln nữa là ở thời cổ đại người
Nht chỉ biết lthuộc vô điều kiện đối với người trên, cho nên tuy quan hệ khế ước chủ
tùng không được hoàn toàn, nhưng ở đây người Nhật ln đầu tiên đã có được mt nguyên
đạo đức bao gm quan hệ song phương. Phải nói đây là một sự trưởng thành đáng để ý
v mặt tinh thần của người Nhật. Từ nhng yếu tố ln lý mới nầy, mt phái văn nghệ
mới đã được sinh ra, đại biểu là truyn quân (truyện chiến tranh) như “Heikei
monogatari”(平家物語) mà vmặt hình thức cũng không có ở thời văn nghệ quí tc.
Đã có những truyn như Shoumonki (将門記) (Tướng môn ký) lấy chuyện đánh nhau
của vũ sĩ làm chủ đề, viết kiểu k lục về quá trình của loạn Tengyou (天慶) (Thiên
Khánh) (xem chú tch) vào thế k thứ 10. Truyn Mutsuwaki (陸奥話記) (Lục ốc thoại
ký) nói vloạn Zenkunen (前九年)[4] vào thế kỷ 11. Cả trong Konshaku monogatarishuu
(Tập truyện xưa nay) đã có những chuyện đánh nhau hoặc những chuyện vũ dũng thời
Heian, nhưng về mặt văn nghệ sử những chuyện nầy đã chưa đi đến ch to ra được một
phái riêng. Đến thi Kamakura, thời bắt đầu của chính trị vũ sĩ, ln đầu tiên truyện quân
ký tạo ra mt phái riêng, và từ phái nầy, một tác phm tối cao đại biểu cho thời đại nầy đã
được sinh ra. Nhng truyện quân ký xuất hiện vào khoảng từ thế kỷ 13 đến đầu thế k 14,
có th kể ra là Joukyuuki” (承久記) (loạn Joukyuu), “Hougen monogatari” (保元物語)
(loạn Hougen) ,Heiji monogatari” (平治物語) (loạn Heiji) , “Heikei monogatari
(平家物語) (truyện dòng Taira). Ba quyển trước có cốt cách tương đối đơn thuần, phân
lượng lại ít, đối lại, quyển Heikei monogatari đả phát huy được tính cách độc đáo của
truyn quân ký về mi mặt.
Truyện Heikei monogatari đã được ra đời lúc nào, điều nầy nhiều học thuyết. Đây là
truyn do giáo Biwa (琵琶) (Tì bà) vừa đàn tì bà vừa kể, nên ở đim đó, đây là mt văn
nghệ truyền khẩu, khác vi văn nghệ quí tộc, là văn nghệ do cá nhân sáng tác trên bàn
giấy, dùng mắt để đọc văn tự.
Truyện trong văn nghệ quí tc, qua nhiều lần chép đi chép lại và hiệu cnh đã sinh ra
sách khác, t dụ trong sách chép Genji monogatari, sách sao bìa xanh (sách cho phụ nữ)
với sách sao Kawachi (sách do cha con Kawachi (河内), thời Kamakura sơ k hiệu
chính) đã có sự khác biệt trong bản văn, nhưng sự khác biệt nầy chỉ có ở lời văn nh
nht, không đến ni sai biệt một chương hoặc một đoạn. Đối lại, nhng truyện Heikei
monogatari, tùy theo những chuyện nối giữa hoặc không, đã trở thành khác hẳn nhau.
Về phân lượng cũng đã có mt sự cách biệt xa, bn sao Heikei monogatari lưu hành nhất
12 quyn, truyn Genpei jousuiki (源平盛衰記) (Nguyên Bình thịnh suy ký)48
quyển, cho nên có thể coi đây như là một truyn khác. Go Tì trong lúc kể chuyện,
đã th theo lời yêu cầu của người nghe, đã thay đổi thứ tự, thay đổi cả đoạn truyn.
Chuyện thay đổi lập đi lập lại nhiều lần nên đã sinh ra nhiều bản khác nhau. Vì vậy thể
nghĩ rằng trong nhng truyện nầy, vai trò cá nhân của mt tác ginào đó không nhất thiết
to lớn, ngược lại qua nhiều năm, truyện đã trưởng thành thể theo sở thích của người nghe.
Với nghĩa trên phải i rằng đây là tác phẩm có tính cách cổ điển dân tộc, hoặc có tính
cách đại chúng, những tính cách không có trong những truyện thành hình thời Heian, với
ni dung có giới hạn trong gii quí tộc.
Trong chính trị, vũ sĩ đã nắm vai trò lịch sử chyếu, và qua truyện quân , vũ sĩ lần đầu
tiên đã trở thành vai chính trong các tác phm văn nghệ. Quyển đầu của Heikei
monogatari bắt đầu bằng câu văn nổi tiếng “Tiếng chuông chùa Kì viên tinh xá …” (chùa
Viên tinh trung phần Ấn Độ cất ra cho phật Thích Ca thuyết giáo) và kết thúc
bằng quyển “Kanjou no maki” (灌頂巻) (quyển Quán Đỉnh), truyn nói về Kenrei Mon-
in Rokudou (建礼門院六道) (Kiện Lể Môn Viện Lục đạo: thứ nữ của Taira Kiyomori
(平清盛), hoàng hậu của thiên hoàng Kousou (高創) (Cao Sáng), mẹ của thiên hng
Antoku (安徳) (An Đức), năm 1185 trong trận “Dan no Ura” (壇ノ浦) (bờ biển ở thị trấn
Shimonoseki (下関) tỉnh Yamaguchi (山口) ngày nay) đã cùng thiên hoàng Antoku gieo
mình xuống biển, nhưng được người của dòng Minamoto cứu, sau đó cắt tóc đi tu), cả 2
quyển đều là bản chép của Ousei youshuu” (往生要集) (Vãng Sinh yếu tập), ly nghệ
thuật của phái Tịnh độ (mt phái của Phật giáo) làm cốt cán. Nhưng ở những bản ban đầu
của Heikei monogatari quyển “Kanjou no maki” chưa được tách riêng độc lập ra, cho nên
cốt cán của nghệ thuật Phật giáo không có ở lúc ban đầu. Quan tâm lớn nhất của truyn là
v ra hình dáng đứng đắn của vũ sĩ, những đương sự trong thời đại mới.
Không phải chỉ truyn Heikei monogatari mà cả những truyện như Hougen (Bảo
Nguyên), Heiji (Bình Tr) đều đem hết sức vlại bộ mặt của vũ sĩ trong chiến trường,