
Vẽ chân trời
Trần Thùy Mai
Nhụy là con gái miền biển. Mồ côi sớm, mười hai tuổi đã lên làm ở quán ăn Carambole.
Quán chuyên phục vụ khách Tây, nằm trên đường về cửa Thuận. Mười bảy tuổi Nhụy nói
được tiếng Anh, tiếng Pháp, còn tiếng Nhật và Tây Ban Nha thì đủ để chào hỏi. Tất nhiên
là Nhụy cũng chỉ nói lui tới có hai chủ đề là dọn cơm và bán hàng lưu niệm thôi. Không
rang nắng nên da mặt Nhụy trắng, hai ống chân cũng trắng mát. Gốc tích miền biển chỉ
còn lại ở bờ hông nở rộng - Cái phần nở hậu phong phú ấy là kết quả của nhiều đời đi bộ
trên cát.
Cát ở quê Nhụy khô rời, nóng bỏng. Những căn nhà cắm lêu nghêu trên bãi, xúm xít dưới
những hàng phi lao gầy guộc. Những nấm mộ cũng nằm ngay cạnh đó, phủ đầy dây
muống biển hoa tím. Hồi sáu bảy tuổi Nhụy vừa bồng cháu bên nách vừa chơi ù mọi với
con nít trong làng, chạy quanh đuổi bắt nhau giữa những tấm bia vôi trắng. Rồi những
tấm bia thưa dần: hơn chục năm trời lụt bão, sóng thần liên tiếp tấn công vào bờ biển,
người ta đã dời hết mồ mả ông bà lên hết trên đất cồn. Lúc ấy mới biết nhiều nhà đã mất
mả, trong đó có nhà anh em Nhụy. Mộ mẹ Nhụy, bia vẫn còn mà đào dưới lên chỉ có cát
là cát.
Mấy ông bà già bảo, cát chạy, nên nấm mộ nhiều khi xa dần lòng huyệt, chịu khó đào
chệch ra chung quanh chừng vài mét họa chăng. Hơn hai năm, đã đào chệch đi xa dần
dần, xa dần, cách đến hai mươi mét, mà vẫn không thấy. Theo việc tìm mộ mà bỏ cả làm
ăn, tiền hết, chị dâu đẻ thêm con nhỏ. Nhụy thành ra gánh nặng. Anh Nhụy dẫn em gái
sang cửa Thuận, lựa lúc xế trưa cho khỏi ai hỏi ra hỏi vào, nên chỉ có cu Tạo hàng xóm
chèo đò đưa qua phá là biết Nhụy đi. Thấy Nhụy quay về hướng làng khóc, Tạo an ủi:
“Tau cũng sắp đi đây. Ở làng mãi, biết khi mô mới khá. Cái đất ni không giữ được người
chết, làm răng mà giữ người sống cho nổi.”

Nhụy quệt mũi, gật đầu. Thuyền ra giữa phá, nước mênh mông. Lần đầu tiên Nhụy thấy
chân trời trên mặt nước.
Ông bà chủ quán Carambole là người tử tế. Bà chủ tự tay nấu món ăn. Ông chủ tiếp
khách. Nghe nói hồi trước ông là người trí thức, tiếng Tây tiếng Mỹ đều rành. Một bầy
con gái từ quê lên, ông bà dạy dỗ tử tế. Đứa thì nhặt rau đi chợ, đứa thì chạy bàn; đứa nào
mới đến nước da cũng đen cháy, mình gầy khẳng khiu, nói năng quê kệch, chẳng bao lâu
đứa nào cũng có da có thịt, miệng mồm nhanh nhẹn. Quán ăn này trước thường gọi là
quán cây khế, vì có cây khế ngọt mọc kề bên. Về sau, từ lúc bên bờ cửa Thuận mọc lên
cái resort Blue Star rộn rịp khách du lịch nước ngoài, ông chủ mới cho treo lên cái bảng
hiệu tiếng Tây để cho quý khách mắt xanh dễ nhớ mà ghé đến.
Quán đắt khách. Bà chủ nấu ăn ngon, ông chủ vui vẻ hỏi han với khách, đám con gái
nhanh nhẹn và nết na. Tôm cá thì tươi xanh từ dưới phá Tam Giang vớt lên. Hàng lưu
niệm, bưu ảnh bày bán ngay trước cửa. Từ lúc cạnh khu Blue Star mọc lên thêm mấy cái
khách sạn mini, khách kéo về càng đông, cả Tây ba lô lẫn Tây xịn. Bây giờ Nhụy đã lớn,
có dành dụm được chút ít, mỗi lần về thăm làng mua quà cho cả lũ nhóc con ông anh, sáu
đứa tất cả, đứa này cao hơn đứa kia đúng nửa cái đầu.
Steeve đến quán vào mùa vắng khách. Thường thì tháng sáu hầu như không có khách
Tây, họ không chịu nổi cái nắng nhiệt đới. Vậy mà hè năm nay cũng lác đác có người...
Steeve nói với ông chủ, anh thích du lịch khám phá, và đến đây vì đã xem một phim giới
thiệu tour du lịch khám phá Ru Cha.
“Ru Cha là gì?” Ông chủ thắc mắc.
“Ở vùng này. Trong ảnh rất đẹp”.

Ông chủ vẫn không thể nghĩ ra có thắng cảnh gì ở đây tên là Ru Cha. Nhụy đặt đĩa mì
xào mềm trước mặt Steeve, chú ý nghe:
- Rú Chá đó mà bác. Ở gần làng con... Quay về phía người khách lạ, Nhụy nói bằng tiếng
Anh: “Rừng cây nước mặn, gốc và cành cây tạo dáng như Bonsai, có nhiều chim và dơi
ở...”
“Đúng đúng!” Steeve hớn hở gật đầu, ánh mắt xanh lơ như đang cười trước dáng vẻ của
cô gái. Ngày nào cũng nói với khách nên Nhụy nói rất đúng giọng và lưu loát, nhưng cô
vẫn giữ những cử chỉ như ngày đầu tập nói. “Nhiều chim và dơi...” Nhụy vừa nói vừa đưa
hai tay vẫy vẫy bên mình như đôi cánh chim.
“Tôi có thể nhờ cô bé này cùng đi vào Ru Cha được không? Vì người chèo thuyền của
Tour du lịch lại không biết tiếng Anh”. Steeve hỏi.
“Được”. Ông chủ nói. “Nhưng nó là con gái tôi, cậu không được tán tỉnh nó”.
Steeve khẽ nhún vai, ánh mắt hóm hỉnh lộ vẻ hoài nghi. Ông chủ bồi thêm một câu:
- Nó mới mười bảy, chưa tới tuổi trưởng thành.
Câu thứ hai này có vẻ hiệu quả hơn, Steeve lập tức gật đầu, tỏ vẻ đã hiểu.
Nhụy dẫn Steeve ra bờ biển. Sóng vỗ ào ào, Nhụy bấm những ngón chân trần trên cát.
Sóng tạt trắng xóa, Nhụy vo hai ống quần xắn lên đến gối. Hai gót chân Nhụy thấm nước
đỏ hồng. Steeve theo sau Nhụy. “Đi đâu?” Nhụy quay lui hỏi, khi cô vặn mình nhìn lui
bờ hông uốn cong như một khóa nhạc.
“Về phía Blue Star. Du thuyền đang chờ tôi ở đó”.

Cái du thuyền mà người ta hứa hẹn với Steeve thật ra là một cái thuyền nan cũ mèm. Một
chàng trai biển ngồi chờ bên chiếc máy đuôi tôm gắn ở đầu lái. Đó là Tạo. Steeve nhìn
cái thuyền, mặt nhăn nhó. Cái thuyền ọp ẹp thật tương phản với khu nhà nghỉ đồ sộ còn
mới tinh. Nhụy không để ý - những sự lôm côm vẫn nhan nhản nơi cái vùng du lịch tân
tạo này, nên cô bé chẳng thấy có gì là lạ. Cô nhảy lên thuyền. Steeve ngần ngại một chút
rồi leo lên.
Tạo có vẻ không vui khi thấy Nhụy, trong khi Nhụy thì mừng, líu lo nói chuyện. “Có
nhiều khách đi thuyền vào Rú Chá không?”
Tạo nhát gừng: “Ít. Nhà nghỉ quảng cáo ra rả trên ti vi mà năm thì mười họa mới có một
cha nội léng phéng đến.” Nói rồi Tạo lặng lẽ nổ máy đuôi tôm cho thuyền tành tạch lướt
đi.
Nắng gắt sáng lóa trên mặt nước xám bạc. “Phá là gì?” Steeve hỏi. “Là...” Nhụy diễn tả,
vẫn thói quen nói bằng cả tay và miệng. Phá là một nơi rất rộng, nơi nước sông và biển
hòa vào nhau. Phá này gọi là phá Tam Giang vì nó là nơi ba dòng sông đổ vào trước khi
gặp biển. Ngày xưa người ta rất sợ đi qua nơi này vì nước sâu và sóng rất dữ...
Steeve ngắt lời Nhụy:
“Cô biết bơi không?”
Nhụy nhìn lại: cái thuyền nhỏ tí chở ba người, trên là trời mênh mông, dưới là nước mênh
mông. Tất nhiên là Nhụy biết bơi rồi, bơi lõm bõm, bởi năm mười hai tuổi đã bỏ làng và
xa luôn cả biển. Nhụy hồn nhiên nói với Steeve là biết bơi thì biết bơi, chứ bơi ở phá
không phải dễ. Dưới cái thuyền này là độ sâu hun hút. Steeve bỗng nhiên trở nên căng
thẳng, anh quát tháo om sòm, bảo Tạo dừng thuyền lại. Tạo hỏi Nhụy:

- Nó nói gì thế?
- Ông ta không muốn đi nữa. Ông ta bảo không an toàn.
“Không can gì đâu mà. Tạo cho thuyền đi qua lại phá này hàng ngàn lượt. Đàn ông gì mà
nhát như thỏ đế”.
Nhụy cố gắng thuyết phục Steeve. Rằng chút nữa thôi là đến Rú Chá, nơi có rừng bonsai
tự nhiên hoang dã. Nơi có những con chim cổ đỏ không nơi đâu thấy.
Steeve càng giận dữ, dậm chân thình thình xuống lòng thuyền. “Unsafe, unsafe. The first
thing we need for tourism is safety.” Nhụy bảo Tạo:
“Ông ấy bảo, cần nhất trong du lịch là phải an toàn.”
Tạo làu bàu: “Chán thật, gặp phải thằng công tử bột không biết bơi.”
Anh cho ghe dừng, bẻ lái quay phắt lại. Con thuyền vẽ một vòng cung thật nhanh. Vừa
lúc ấy có chiếc thuyền lớn xình xịch lướt qua trên phá. Mặt nước duềnh lên, làm chiếc
ghe nhỏ nghiêng hẳn đi rồi lật úp.
*
Nhụy bơi chới với trên mặt phá, cái đầu chìm dưới làn nước. Đã lâu cô không bơi. Tạo
thì lập tức lặn xuống ngay để vớt Steeve. Nhưng lặn quanh mấy vòng, chẳng còn thấy
anh ta đâu cả. Tạo trồi lên mặt nước, không tin được ở mắt mình: Steeve đang quàng tay
ôm lấy người Nhụy, dìu cô bơi vào bờ. Tạo quay sang cứu thuyền. Máy đuôi tôm không
khởi động được nữa. Tạo phải chèo thuyền tới đón hai người nhưng Steeve dìu Nhụy bơi
trước khá xa, thuyền chèo theo không kịp. Steeve đặt Nhụy nằm trên bãi cát, cô gái bị sặc

