
Xã hội dân sự, tính đặc thù và vấn đề
ở Việt Nam
Cái phổ biến bao giờ cũng tồn tại thông qua cái đặc thù, cái đặc thù nào cũng gắn
liền với cái phổ biến, không có cái nào tồn tại thuần túy tự nó. Nghiên cứu cái đặc
thù bao giờ cũng phức tạp, khó phân định hơn. Điều đó cũng đúng với trường hợp
xã hội dân sự (XHDS).
XHDS ở Việt Nam cả lý thuyết, đường lối và thực tế đang đặt ra nhiều câu hỏi
phải trả lời.
Đúng là ngày nay, XHDS có tính phổ biến, tinh toàn cầu, dù rằng các dân tộc tiến
đế nó một cách nhanh chậm khác nhau và phát huy nó khác nhau. XHDS nói
chung là sự tự tổ chức của nhân dân để thực hiện quyền làm chủ của mình, vì lợi
ích của chính mình, ngoài phương thức nhà nước và thị trường. Trong quan hệ với
nhà nước và thị trường, nó có cả hợp tác, đối tác và đối lập biện chứng hay nói
đúng hơn là đối trọng, dù có thể mặt nào là chính là tùy theo từng chế độ chính trị

và truyền thống văn hóa, tương quan lực lượng. Chủ thể quyền lực không chỉ là
nhà nước mà có cả quyền lực xã hội dân sự và quyền lực thị trường.
Nhưng XHDS là sản phẩm cụ thể của từng dân tộc, nó có tính phổ biến và cả tính
đặc thù.
XHDS là sản phẩm của cái gì?
Phải chăng XHDS chỉ là sản phẩm của nhà nước pháp quyền? Đúng nhưng không
đủ. XHDS ra đời trước hết là do kinh tế thị trường đòi hỏi quyền tự do kinh doanh
và được bảo vệ lợi ích của mình. Nhưng thị trường chỉ lo kinh tế, lo lợi nhuận là
chính, ít quan tâm và không lo được các vấn đề xã hội, lợi ích dân sinh. Đồng thời,
nhà nước cũng chỉ lo được những vấn đề lớn, nguồn lực, năng lực cũng có hạn,
nên các tổ chức xã hội do dân lập ra phải tự lo lấy và giải quyết các vấn đề của
mình. Xã hội tự nó cũng có nhu cầu tự tổ chức, tự thể hiện và tự vệ. Hơn nữa nhờ
có XHDS đó mà tránh được phần nào sự lạm quyền từ cả kinh tế thị trường và nhà
nước. Các tổ chức xã hội ở nước ta trước đây, có khi xuất hiện còn do cảc nhu cầu
vận động nhân dân chống ngoại xâm, hay tự vệ. Hiến pháp năm 1946 cũng cho
phép nhân dân tự lập Hội. Nhưng ngày nay với nền kinh tế mới, nhà nước pháp
quyền nên dân chủ của nhân dân, thì dân tự do lập hội, để thể hiện và bảo vệ lợi
ích chính đáng của mình. XHDS vì vậy tạo nên một mạng lưới tổ chức rộng khắp
và đa tầng.

Đúng là XHDS không chỉ bị chi phối bởi kinh tế thị trường, mà cả nhà nước pháp
quyền. Nhưng chưa đủ, mà nó còn bị chi phố khá mạnh về truyền thống văn hóa
nói chung và văn hóa chinh trị nói riêng, và phụ thuộc vào cả sự tương quan lực
lượng xã hội của nó.
XHDS không chỉ tồn tại ở phương Tây mà cả phương Đông và không chỉ trong
chủ nghĩa tư bản mà cả trong chủ nghĩa xã hội. Các xã hội tiền tư bản cũng có
những hình thức thấp hay manh nha XHDS.
Không có XHDS nói chung trong thực tế mà bao giờ nó cũng tồn tại một cách đặc
thù.
Ở Việt Nam ta XHDS trong qua trình hình thành của nó sẽ thể hiện thể hiện khá rõ
mạnh
1) thấm nhuần về mặt văn hóa cộng đồng, tính đoàn kết, tương trợ và tính đồng
thuận xã hội, có mầm mống trong xã hội làng xã xưa.
2) Trong xã hội thực dân phong kiến cũng hình thành nên những tổ chức xã hội,
hoặc để đấu tranh chính trị hoặc để bảo vệ các quyền lợi xã hội trong đời sống
bình thường trước các thế lực cường quyền.
3) Nhưng XHDS ở VN ngày nay còn là xã hội trong thể chế một đảng cầm quyền,
nhất nguyên chính trị nên XHDS ở đây có thể cơ cấu tổ chức chính trị xã hội trong
XHDS và trong hệ thống chính trị sẽ mang tính trung gian 2 mặt.

4) XHDS ở VN ngày nay sẽ là dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần cả công và
cả tư, định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải XHDS mang tính chất tư bản
chủ nghĩa.
5) XHDS ở VN cơ bản không mang tính đối kháng trong nó và với nhà nước. Tính
đồng thuận và đoàn kêt xã hội của XHDS khá cao, nhưng các tiổ chức hoạt đỘng
còn phân tán, tính pháp lý chưa đủ và cần thiết.
Những tiêu chí cơ bản của XHDS. Cơ cấu XHDS và tính độc lập của XHDS.
Những tổ chức nào trong XHDS?
Những tiêu chí. Trước hết cần thống nhất tiêu chí của tổ chức XHDS. Theo chúng
tôi, có thể có các tiêu chí như sau:
1) Tính tự nguyện cộng đồng tự tổ chức,
2) Không bị chi phối bởi tổ chức lợi nhuận, hay vì mục tiêu lợi nhuận;
3) không bị chi phối trực tiếp bởi đảng cầm quyền, hay trực tiếp liên quan tới vấn
đề đảng cầm quyền, hoạt động vì sự ràng buộc trực tiếp của đảng cầm quyền là
chính;
4) không mang tính chất quyền lực nhà nước, không mhằm mục đích giành quyền
lực hay vì quyền lực nhà nước.

Đó là 4 tiêu chí cơ bản quan trọng. Nhưng tiêu chí thứ 2 và thứ 4 là quan trọng
hơn tiêu chí (1) dân tự tổ chức và tự nguyện, không bị áp lực nào. Vì theo nghĩa
nào đó nhà nước ở nước ta cũng do nhân dân tổ chức nên. Nhưng ở đây, nhà nước
ấy có sự chi phối của đảng cầm quyền. Còn về sự có mặt của đảng cầm quyền
trong tổ chức thì xem xét xem nó có chi phối tổ chức hay không. Ví dụ các doanh
nghiệp tư nhân có lập chi đảng bộ của đảng cầm quyền nhưng họ vẫn hoạt động
theo nguyên tắc lợi nhuận và vẫn nằm trong phạm trù kinh tế thị trường. Hoặc
công đoàn là tổ chức của công nhân chứ không phải tổ chức đảng phái và không
phải tổ chức nhà nước, thì nói chung nó vẫn thuộc về XHDS, dù trong tổ chức
công đàn ở nước ta cũng có nhân tố đảng cầm quyền. Đó là điều đáng lưu ý nhất.
Vì theo chúng tôi, XHDS là tổ chức phân biệt với nhà nước chứ không phải phân
biệt với tổ chức chính trị.
Về tính độc lập hay không của XHDS cũng liên quan tới các tiêu chí cơ bản nói
trên. Tài chính của tổ chức chỉ là một nhân tố chi phối nhưng không cơ bản, vấn
đề và mục tiêu, cương lĩnh của tổ chức. Tính độc lập của tổ chức không hoàn toàn
phụ thuộc vào ngân sách tài chính ở đâu. Phải chăng không độc lập tài chính thì
không phải XHDS. Nước ngoài, có nhà nghên cứu và hoạt động thực tế cho biết
là, có tổ chức như vậy nhưng vẫn ở trong XHDS. Kinh phí chỉ là một tiêu chí phụ.
Mục đích phục vụ mới là tiêu chí là chính. Có thể được tài trợ hay cấp về tài chính
nhưng tài chính ấy không mang tính chi phối, ràng buộc hay gây áp lực đối với
mục tiêu hoạt động của tổ chức. Cơ bản là ở cương lĩnh tổ chức của nó.

