Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Chia sẻ: 124357689

Phần 1: Kinh Nghiệm Hoà Lan (The Netherlands) Vấn đề giải quyết lụt lội và thủy lợi ở đồng bằng Cửu Long đã được tranh luận rất nhiều. Tựu trung ở Việt Nam có 2 khuynh hướng; (i) sống chung với lũ, và (ii) trị thủy chống lũ lụt. Tác giả sẽ trở lại vấn đề này trong phần tìm một giải pháp thích hợp cho Đồng bằng Cửu Long. Để có một tầm nhìn rộng lớn cho vấn đề, chúng ta hãy nhìn những kinh nghiệm về vấn đề này ở trên thế giới và ngay tại Việt Nam. Phần...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Phần 1: Kinh Nghiệm Hoà Lan
(The Netherlands)
Vấn đề giải quyết lụt lội và thủy lợi ở đồng bằng Cửu Long đã được tranh luận rất
nhiều. Tựu trung ở Việt Nam có 2 khuynh hướng; (i) sống chung với lũ, và (ii) trị
thủy chống lũ lụt. Tác giả sẽ trở lại vấn đề này trong phần tìm một giải pháp thích
hợp cho Đồng bằng Cửu Long. Để có một tầm nhìn rộng lớn cho vấn đề, chúng ta
hãy nhìn những kinh nghiệm về vấn đề này ở trên thế giới và ngay tại Việt Nam.

Phần 1. Kinh Nghiệm Hoà Lan (The Netherlands).




Hoà Lan Vùng ngập lụt (màu sậm) nếu không có đê hiện nay

“Thượng đế tạo ra thế giới, người Dutch tạo ra nước Hoà Lan”. Đó là câu nói của
người Hoà Lan để tự hào về những công trình chống lụt của họ.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Khoảng 27% lãnh thổ Hoà Lan hiện nay thấp hơn mực nước biển trung bình 3 m,
có chỗ thấp 7 m như ở Prince Alexander Polder. Khoảng 60% của tòan dân số 16
triệu sinh sống trên vùng đất thấp này. Ngoài ra, vào mùa lụt 70% đất đai sẽ bị
ngập lụt do nước lũ từ các sông tràn ngập nếu hiện nay không có hệ thống đê dọc
theo sông và phụ lưu.

Từ ngữ Netherlands – tiếng Dutch là Nederlanden – có nghĩa là vùng đất thấp
(Pays Bas). Vùng đất phía Bắc và Tây lãnh thổ thấp hơn mực nước biển, nên được
gọi là vùng Hạ Hòa Lan (Low Netherlands), gồm sét và than bùn (peat), chằng
chịt với các hệ thống kinh đào, sông và phá (vụng biển). Phần đất phía nam và
đông là vùng đất cao – vùng Thượng Hoà Lan (High Netherlands) – cao hơn mặt
biển, tương đối bằng phẳng hay có đồi nhỏ, nhưng cao độ không quá 50 m, ngọai
trừ ở vùng Đông Bắc có nơi cao 107 m, và vùng cao nhất là Vaalserberg (321 m) ở
biên giới với Belgium.

Sông chính là sông Rhine chảy từ Đức, với nhiều phụ lưu trên đất nước Hoà Lan,
như Ijssel, Waal và Lek. Phụ lưu Maas, một nhánh của sông Meuse và Schelde
chảy đến từ Belgium. Các sông và phụ lưu này tạo một hệ thống sông ngòi chằng
chịt chạy từ đông sang tây, và khi ra tới Biển Bắc (North Sea) tạo thành tam-giác-
châu (delta) với vô số đảo nhỏ ở phía Tây Nam, hay chảy vào biển Waddezee qua
biển nội địa Zuidezee. Nhờ các cổng-điều-chế-nước (locks) hiện nay trên các sông
chánh hay phụ lưu, tàu bè lớn từ Biển Bắc lưu thông được tới trung tâm Châu Âu.

Đê (dykes), kinh đào (canals), đê đập (dams), cổng-điều-chế-nước, cống-thoát-
nước (sluices), và phong quạt (windmills) là những phong cảnh tiêu biểu của vùng
Hạ Hoà Lan. Những công trình trị thủy này được Hiệp Hội Công Chánh Hoa Kỳ
(American Society of Civil Engineerings) đánh giá là 1 trong 7 kỳ quan của thế
giới hiện đại.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Lãnh thổ Hoà Lan càng ngày càng được mở rộng, không phải đi xâm chiếm nước
láng giềng (Đức và Belgium) mà là lấn ra biển. Trong vòng 1000 năm nay, lãnh
thổ gia tăng thêm 1/5 diện tích. Người dân Hoà Lan đã phải tranh đấu với thiên
nhiên, biển cả để tạo nên đất nước xinh đẹp và phồn vinh ngày nay.

Cách đây trên 2000 năm, người Frisians đến vùng này định cư và bắt đầu xây các
“terpens” trên các đụn cát dọc biển, tức các đê biển đầu tiên, để chận nước biển, và
biến biển thành đồng bằng. Trong các thế kỷ sau các nhà tu (monks) tiếp tục làm
đê, đào kinh lấn biển.

Nguyên thủy, vùng duyên hải Biển Bắc của Hoà Lan gồm các đụn cát (dunes). Ở
phía Tây Nam, các đụn đất này bị các cửa sông cắt xén thành lập các tam-giác-
châu với chằng chịt sông ngòi, lạch nước. Ở phía Tây Bắc, các rạch nước biển xen
kẽ với các đụn cát tạo thành dãy đảo West Frisian Islands, và bên trong dãy đảo
này là một biển cạn - biển Waddenzee. Vùng này có thủy triều mạnh và gió bão,
biển xâm thực mạnh nên các công trình đê và bờ biển trên các dãy đảo này dể bị
phá hủy. Chính vùng bên trong của biển Waddenzee này là biển nội địa Zuiderzee
(Biển Nam), có sông Ijssel, một phụ lưu của sông Rhine, chảy đến, là vùng được
người Hoà Lan cải tạo trước tiên. Đây là một quá trình cải tạo kéo dài trên 2,000
năm và vẫn còn tiếp tục.

Như vậy, Zuiderzee nguyên thủy là một biển nằm trong nội địa ăn thông với biển
Waddenzee, có kích thước 100 km dài và 50 km rộng, diện tích khoảng 5,000
km2, nước sâu 4-5 m, với tổng cộng bờ biển khoảng 300 km. Bên trong biển có 4
đảo nhỏ là Wieringen, Urk, Schokland và Marken. Từ nguyên thủy cách đây trên
2,000 năm, các đê biển được xây dựng ven bờ biển nội địa Zuiderzee để chận bão
lụt tràn vào đất liền. Rồi với thời gian, nhiều đê được xây thêm, lấn ra ngoài biển
để thêm đất thổ cư và nông nghiệp.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Ngày 14/12/năm 1287, một trận lụt lớn phá vỡ đê biển, giết khoảng từ 50,000 đến
80,000 người, và vì đất thấp hơn mặt biển, trận lụt kéo dài tới mấy chục năm cho
tới khi tái tạo được hệ thống đê mới kiên cố hơn. Hàng năm, dân Hoà Lan tiếp tục
củng cố lại hệ thống đê điều, xây thêm đê biển mới để biến vùng quanh vịnh thành
vùng nông nghiệp, rộng lớn hơn và vững chắc hơn. Cũng nhờ trận lụt này, mà
Amsterdam, từ một làng đánh cá có đê cao và vững chắc bao quanh, trở thành một
hải cảng sầm uất thông thương với thế giới. Trong các thế kỷ tiếp theo, vì bão tố
thường xuyên, nước biển đe dọa phá vỡ đê biển, nên ngoài việc củng cố đê cũ, các
đê mới lần lượt tạo ở bên ngoài, tiến dần ra biển, và một phần biển biến thành các
polders. Tuy vậy, trận lụt ngày 18/11/1421, đê biển lại bị vỡ, 72 làng bị ngập và
10,000 người chết. Các đê biển kiên cố tiếp tục xây và lấn ra biển cả, nhưng chưa
được quy họach toàn bộ. Mãi tới thế kỷ 20, Hoà Lan mới thật sự quy họach phòng
thủ biển cả, chống lụt do biển và sông gây ra.

Năm 1916, một trận lụt kinh hoàng xảy ra, chính phủ Hoà Lan phải xét lại kỹ
thuật, quy họach lại toàn diện chương trình trị thủy, và quyết tâm thực hiện đề án
biến biển vùng Biển Nam Zuiderzee thành đồng bằng an toàn với 5 polders rộng
lớn, gọi là công trình Zuiderzeewerken do Cornelis Lely (1854 -1929) chủ quản.

Ngày 01/02/1953, cường triều cộng với bão lớn ở Biển Bắc làm nước biển tràn
qua đê làm 162,000 ha bị ngập lụt, và giết chết 1,800 người, 47,000 nhà bị phá
hủy. Vì vậy, Hoà Lan thực hiện đại công trình thứ 2, ở vùng tam-giác-châu phía
nam, mang tên Deltawerken (Delta Works).

Từ ngàn xưa, để đối phó với sóng biển, triều cường trong mùa bão, đê biển được
xây rất cao, kiên cố, và thường có nhiều đê, đê này sau đê kia, hễ nứơc biển tràn
qua đê này thì còn đê kia ngăn cản. Đê bên ngoài biển gọi là “đê bảo vệ”
(wakende dijk -guarding dyke), kế tiếp là “đê ngủ” (slapende dijk - sleeping dyke),
và đê trong cùng là “đê mơ” (dromende dijken (dreaming dykes).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Đại công trình Zuiderzeewerken (Zuiderzee Works).

Đại công trình kéo dài từ 1919 và hoàn thành năm 1986, với sự thành lập tỉnh mới
Flevoland. Mục tiêu chánh của công trình này là bảo đảm chống lụt gây bởi Biển
Bắc và tạo thêm đất nông nghiệp trong vùng biển nội địa Zuiderzee. Thay vì củng
cố lại các đê cũ bao quanh biển nội địa Zuiderzee dài hơn 300 km, công trình
chính quan trọng nhất là thiết lập một đê biển dài 32 km, nối liền 2 bờ của
Zuiderzee, cách ly với biển Waddenzee, và biến biển Zuiderzee thành một hồ nước
ngọt vĩ đại – hồ Ijsselmeer, rồi sau đó từ từ biến một phần hồ thành các polders.




Đại công trình Zuiderzeewerken
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Đê Afsluitdijk dài 32 km




Xây đê Afsluitdijk.

Mục đích là tách rời biển Zuiderzee với biển Waddenzee của Biển Bắc bằng một
đê biển kiên cố, và biến Zuiderzee thành một hồ nước ngọt vĩ đại mang tên hồ
Ijsselmeer.

Để rút tỉa kinh nghiệm, một đê ngắn Amsteldiepdijk chỉ dài 2.5 km, nối đảo
Wieringen với nội địa được xây cất trước. Phải mất 4 năm (1920-1924), đê nhỏ
này mới hoàn thành, nhưng nhờ đó học được nhiều kinh nghiệm và phát minh
nhiều kỹ thuật thích ứng.

Với kinh nghiệm này, công trình xây đê Afsluitdijk mới bắt đầu năm 1927 và hoàn
thành năm 1932. Đê dài 32 km, rộng 90 m, cao trung bình trên mực biển là 7.25
m, có chỗ cao tới 19 m, độ dốc 25%. Với kinh nghiệm rút tỉa từ đê
Amsteldiepdijk, vật liệu xây dựng đê biển tốt nhất là sét-băng-hà (till). Sét-băng-
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

hà là trầm tích lắng tụ ngay dưới đáy biển Zuiderzee ở thời đại băng hà, gồm đá
cuội, sét, cát kết chặt thành khối cứng. Dùng máy xáng múc khối sét-băng-hà từ
đáy biển Zuiderzee và chở đổ thành 2 hàng song song làm tường đê, rồi dùng tàu
chở đá, cát và sét đổ vào giữa 2 bức tường sét-băng-hà. Khi đê cao quá mặt biển
thì được phủ một lớp sét-băng-hà dày lên trên. Và đê được tăng cường thêm bằng
đá basalt và một thảm cây liễu sống để bảo vệ đáy đê. Trên mặt đê rải 1 lớp cát, và
trên cùng là lớp sét và được trồng cỏ. Tổng số vật liệu xây dựng đê Afsluitdijk
khoảng 23 triệu m³ cát, 13.5 triệu m³ sét-băng-hà, và trong suốt thời gian xây dựng
trung bình hàng ngày có 4,000 tới 5,000 công nhân. Tổn phí xây dựng đê vĩ đại
này khoảng 700 triệu Euro (theo thời giá 2004).

Song song với việc xây dựng đê biển Afsluitdijk, còn phải xây 2 hệ thống ở 2 đầu
đê, gồm 2 cổng-điều-chỉnh-nước (để tàu bè di chuyển ra vào), và hệ thống tháo
nước gồm 28 cống (sluices). Tiếp theo là xây dựng các polders.

Xây dưng polders

Polders là những vùng đất thấp dưới mực nước biển, lớn nhỏ tuỳ nơi, nhỏ chừng
vài trăm ha, lớn có thể tới 250,000 ha, có đê bao ngạn chung quanh để ngăn chận
nước biển và nước lụt. Một khi hoàn tất đê bao quanh, hệ thống kinh (canals) bên
trong polders được đào để rút nước (nước mưa và nước biển xâm nhập), và nhiều
hệ thống bơm nước ra khỏi polders để làm đất khô, và sau một thời gian biến
thành đất trồng trọt và thổ cư, làng mạc hay thành phô. Lần lượt các polders được
xây dựng, kế tiếp nhau, và tiến ra biển cả. Kể từ thiên niên kỷ 1200, xa gió
(windmills) thay thế sức người và sức thú vật để bơm nước ngày đêm ra khỏi
polders. Trong vòng 200 năm nay, máy bơm khổng lồ chạy điện hay diesel được
thay thế.

Từ thế kỷ thứ 10, dọc theo biển đã có hệ thống đê biển do người Romans thực
hiện, nhưng chưa vững chắc. Người Hoà Lan thật sự xây dựng đê và polders vào
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

thế kỷ 19, đầu tiên với Harlemmermeer (Hồ Harlem), gần Amsterdam. Nguyên
thủy đây là vùng thấp, than bùn được khai thác làm nhiên liệu và với thời gian trở
thành các hồ nước (mặn), các hồ càng ngày càng lớn, và vì bị gió sóng biển mạnh
làm xoi mòn bờ hồ, có cơ đe dọa Amsterdam. Các kỹ sư Hoà Lan bèn xây một bức
tường đất – tức đê – và kinh đào chung quanh hồ, rồi bơm nước từ hồ qua đê đổ
vào kinh, và kinh dẫn nước ra sông rồi ra biển. Hồ cạn nước và trở nên khô –
polder thành hình, trở thành đất trồng trọt, chăn nuôi, xây cất nhà cửa, đường sá,
thành làng mạc hay thành phố. Polder lớn nhất là tỉnh Flevoland với diện tích tổng
cộng 2415 km2.

Sau khi cách ly được với biển Waddenzee nhờ đê Afsluitdijk, biển Zuiderzee nay
trở thành một hồ nước hiền lành, các kỹ sư bắt đầu thiết lập các polders. Cũng vậy,
một thí điểm polder được thực hiện trước để rút tỉa kinh nghiệm.

Polder Andijk chỉ rộng 40 ha được làm năm 1926 và hoàn thành 1927 để lấy kinh
nghiệm.

Polder Wieringermeer. Polder lớn hơn đầu tiên là Wieringermeer, bắt đầu xây
1927, hoàn thành năm 1929, và được bơm cạn hoàn hoàn năm 1930, và bắt đầu
canh tác năm 1934. Tổng công diện tích polder Wieringermeer là 308 km², diện
tích thổ cư và canh tác là 195 km², với dân số sống trong polder là 13,000 người
(2007). Việc xây dựng con đê biển dài 18 km gặp nhiều khó khăn, ví lúc đó đê
Afsluitdijk chưa hoàn thành, nên sóng biển cản trở công việc. Việc bơm nước ra
khỏi polder được thực hiện bởi 2 trạm bơm khổng lồ, một chạy bằng diesel, và
trạm kia chạy điện, và một hệ thống an toàn bảo đảm máy bơm chạy liên tục, nếu
hệ thống này bị hỏng, hệ thống kia vẫn có khả năng bơm nước. Hai hệ thống bơm
này vẫn chưa thễ bơm hết nước, để cho đất khô được. Muốn vậy, bên trong polder
phải có hệ thống kinh mương lộ thiên để thâu nhận nước rỉ từ bùn trên mặt, để dẫn
tới mương chánh có trạm bơm. Một khi đất khô dần, đất bị lún sụp, có nơi lún tới
cả thước. Một khi đất đã đình đậu, không bị lún sụp nữa, hệ thống mương nhỏ lộ
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

thiên được thay thế bằng ống thoát nước ngầm đặt trong lòng đất. Để biến thành
đất canh tác, khi đất chưa thoát thủy hoàn toàn, khi còn bùn, hạt giống cỏ sậy
(Phragmites australis) được máy bay gieo rải. Thảm cỏ sậy giúp đất khô nhanh, hệ
thống rể giúp cải tạo kiến trúc đất, và ngăn các lọai cỏ dại khác mọc. Khi đất vừa
khô, đốt cỏ sậy và gieo cải dầu (oilseed rape, Brassica napus). Năm thứ 3, mới bắt
đầu gieo lúa mì (wheat), năm 4 lúa mạch (barley) và năm 5 lúa oat. Bắt đầu năm
thứ 6, nông gia có thể canh tác hoa màu khác, tuỳ ý. Với kinh nghiệm tích lủy, các
polders lớn khác lần lượt được xây dựng.

Noordoostpolder (Northeast-polder). Vì khó khăn tài chánh, polder này bắt đầu
thực hiện năm 1936. Gồm 2 đê, dài tổng cộng 55 km. Thế chiến bùng nổ, công tác
bị đình trệ, cho tới cuối năm 1940 các đê mới hoàn thành, thoát nước hoàn tất vào
tháng Chín năm 1942, và 480 km2 đất mới được tạo thành.

Flevolands. Công tác xây dựng các polders khác bị đình trệ bởi Thế Chiến II. Sau
thế chiến, công trình tiếp tục với các polders vĩ đại hơn, rộng 1000 km², nay trở
thành tỉnh Flevoland. Đầu tiên polder Đông Flevoland được thành lập trứơc, bắt
đầu năm 1950 và hoàn thành 1956, với diện tích 540 km², cách ly với đất liền bởi
một kinh đào, và bao quanh bởi một con đê dài 90 km. Việc bơm nước nhờ vào 3
trạm bơm, 1 chạy diesel, và 2 chạy điện. Polder Nam Flevoland xây dựng từ đầu
1959 và hoàn tất 1967, với con đê dài 70 km, có diện tích 430 km², với chỉ một
trạm bơm diesel. Ngày 01/01/1986 Hoà Lan có thêm một tỉnh Flevoland mới, do
xáp nhập polder Đông và Nam Flevoland với một phần đất polder Đông Bắc của
công trình Zuiderzee. Tỉnh Flevoland có diện tích đất là 1,419 km², với cư dân
370,000 (năm 2005) và 6 thành phố lớn. Thủ đô của tỉnh là Lelystad, đặt theo tên
của vị cha đẻ công trình là Cornelis Lely (1854-1929).

Polder Markerwaard. Bắt đầu thực hiện năm 1963, bằng một đê dài 28 km mang
tên đê Houtribdijk hay Markerwaarddijk, chia hồ IJsselmeer làm 2 phần, phần phía
bắc vẫn mang tên hồ Ijsselmeer (rộng 1250 km2), hồ phía nam con đê mang tên
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Markermeer (rộng 700 km2). Việc thực hiện tiếp bị đình chỉ vì thấy chưa cần thiết.
Đê Houtribdijk hiện làm một xa lộ nối liền đông và tây xuyên qua hồ Ijsselmeer,
và vùng Markerwaard hiện nay là vùng nghĩ hè và bão tồn sinh thái.

Đại công trình Deltawerken (Delta Works)

Song song với đại công trình Zuiderzeewerken (1919-1986), chính phủ Hoà Lan
thực hiện công trình Delta (1950-1997) trên Tam Giác Châu thuộc phụ lưu sông
Rhine – Meuse ở Tây Nam Hoà Lan. Công trình gồm việc thực hiện đê đập, đê
biển, đê-chống-bão, cống-thoát-nước, và cổng-đều-chỉnh nước cho tàu bè thông
thương. Nhờ vậy, tạo được nhiều hồ chứa nước ngọt, rút ngắn đường giao thông
và đê duyên hải, nên công tác bão trì trong tương lai sẽ ít tổn phí và dễ dàng hơn
việc bão trì nhiều hệ thống đê cũ chạy ngoằn nghèo ở bên trong. Tổng cộng tổn
phí khoảng 6.81 tỉ Euro. Cũng nhờ thực hiện công trình Deltawerken, nhiều kỹ
thuật làm đê mới được áp dụng, và nhiều tàu đựơc đóng chỉ dành cho kỹ thuật tân
tiến này. Rottendam là hải cảng lớn nhất thế giới mà hàng hải là ngành kinh tế
hàng đầu của Hoà Lan. Ngoài ra, khoá kín biển sẽ làm hư hại môi trường bên
trong tam-giác-châu. Để duy trì tàu bè thông thương nhộn nhịp, và ngành ngư
nghiệp nội địa không bị ảnh hưởng, các kỹ sư thủy lợi phải thiết kế lại các cổng-
điều-chỉnh-nước, cống-tháo-nước, cầu, v.v. để thế nào nước biển của Biển Bắc
thông thương được với hồ nước nội địa, tàu bè có thể qua lại dễ dàng, cá hồi
(salmon) có thể di chuyển vào ra để sinh sản, v.v., nhưng khi cần thì có thể khoá
kín hoàn toàn, không cho lụt biển, triều cường xâm nhập nội địa. Cũng như công
trình Zuiderzeewerken, để rút tỉa kinh nghiệm và thử nghiệm kỹ thuật mới thiết kế,
các kỹ sư thủy lợi bắt đầu thực hiện trước những dự án nhỏ, dễ dàng nhất ở công
trình Deltawerken.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Đại công trình Deltaweerken




Năm 1950, 2 cửa vịnh nhỏ ở Brielle và Vlaardingen được chắn đê biến thành hồ
nước.

Tiếp theo là khoá cửa vịnh Oosterschelde, Haringvliet và Grevelingen bằng một
con đê biển dài 700 km. 17 cống-thoát-nước trên đê Haringliet có khả năng tháo
21,000 m3/giây. Hai cửa Vịnh ở Nieuwe Waterweg và Westerschelde được tàu bè
thông thương đến Rotterdam và Antwerp nhờ các cổng-đều-chỉnh-nước tân tiến.
Đê dọc thủy lộ này cũng được nâng cao hơn và vững chắc hơn. Đồng thời các
công trình xa lộ, cầu cống trong vùng này được xây dựng hay tái thiết. Vì áp lực
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

của nhóm bảo vệ môi trường và các nông dân nuôi sò, thay vì biến hồ
Oosterschelde thành hồ nước ngọt, nay phải để nước biển chảy vào, vì vậy các
cống-chống-cường triều được thiết kế lại. Bình thường, các cống này mở để nước
biển chảy vào, hay rút ra theo thủy triều, nhưng khi có bão, khi cường triều cao
quá 3 m trên mực biển, thì tự động các cống-chống-cường-triều đóng kín.

Kỹ thuật mới được áp dụng khi làm đê Braakman. Vùng này có thủy triều cao, với
dòng hải lưu chảy mạnh, đê bình thường không thực hiện được vì bị trôi. Dùng các
khối vuông rỗng bằng ximăng cốt sắt tiền chế –gọi là phoenix caissons- xếp thẳng
hàng, đổ cát đầy rồi trét kín mặt với ximăng. Sau đó, đê được xây trên khối
ximăng chứa cát tiền chế này.

Công trình Delta hoàn thành năm 1997, sau gần 50 năm thực hiện, và đó là công
trình chống lụt biển lớn nhất thế giới, tổng cộng 16,493 km đê biển, gồm 2,415 km
đê chánh và 14,077 km đê phụ, với tổng cộng 15 công trình chính.

Vì hiệu quả hâm nóng toàn cầu, với nguy cơ nước biển dâng cao, đồng thời với
nền móng nước Hoà Lan đang sụp lún, chánh phủ Hoà Lan từ 1996 đang tăng
cường làm cao thêm với nền móng đê vững chắc hơn cho khoảng 400 km đê hiện
hữu và phải hoàn thành năm 2015.

Chống ngập lụt do sông

Sông Rhine khi vào lãnh thổ Hoà Lan chia thành nhiều phụ lưu, quan trọng là
Ijssel chảy vào Zuiderzee (nay là hồ Ijsselmeer), và Waal cùng với sông Maas
(phụ lưu của sông Meuse) chảy vào Tam-Giác-Châu phía nam.

Từ ngàn xưa, để ngăn lụt từ nước các sông này dâng cao trong mùa mưa lũ (mùa
đông), mỗi một bên bờ sông xây 2 đê kiên cố. Đê kế dòng sông gọi là “đê-mùa-
hè” (mùa có ít mưa, lụt), có nhiệm vụ ngăn lụt nhỏ, nếu có, trong mùa hè; và đê
bên ngoài là “đê-mùa-đông” (mùa lũ lụt chính), là đê chánh, cách xa sông, có
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

nhiệm vụ không cho nước lũ tràn vào đồng hay vào các polders. Trong mùa hè,
khoảng đất giữa 2 đê-mùa-hè và đê-mùa-đông khô ráo, dùng làm đồng cỏ hay
canh tác, nhưng vào mùa đông, nó trở nên ngập lụt và khoảng đất giữa 2 đê-mùa-
đông thành một dòng sông lớn, nhờ vậy làm giảm sức chảy tránh phá vỡ bờ đê
(đê-mùa-đông) gây lụt.




Vùng ngập lụt do sông ở Hoà Lan hiện nay

Ngày 02/02/1995, mưa lũ ở Pháp và Đức làm sông Rhine và Meuse ngập lụt,
nước sông Rhine tại Lobith (biên giới với Đức) dâng cao 13.48 m trên mực biển.
Chính quyền sợ rằng các đê dọc các sông này trong lãnh thổ Hoà Lan không thễ
chống cự nổi với áp lực nước ở thượng lưu nên phải ra lệnh 250,000 dân ở vùng
Đông và trung tâm Hoà Lan phải di tản. Mặc dầu không bị vỡ đê, hay nước tràn
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

qua đê, chính phủ Hoà Lan lập tức có chương trình khẩn cấp 1.2 tỉ USD để củng
cố lại hơn 800 km hệ thống đê dọc sông và dự trù phải hoàn thành trước 2008.
Nếu các đê này vỡ, 70% lãnh thổ Hoà Lan sẽ chìm ngập dưới 6 m nước.

Với hệ thống đê biển và đê sông hiện tại, các kỹ sư thủy lợi Hoà Lan cam đoan
rằng dầu mực nước biển có dâng cao thêm 1 m và với vũ lượng gia tăng thêm 25%
ở Tây Âu do hậu quả hâm nóng toàn cầu, Hoà Lan sẽ vẫn an toàn. Tuy vậy, chính
phủ Hoà Lan lúc nào cũng cảnh giác vấn đề nghiêm trọng này.

Tái tạo sinh môi.

Với hệ thống đê biển vững chắc, nước mặn không còn xâm nhập vào nội địa, sinh
môi vùng nước mặn, nước lợ bị hủy họai. Hồ Grevelingen trở thành nước ngọt khi
con đê biển Brouwerdam dài 6 km hoàn thành (1971), động và thực vật nước mặn
bị hủy diệt. Vì vậy, năm 1978 một cống nước được thiết lập trên đê này để nước
biển thông thương lại với hồ, nhờ vậy môi trường biển được tái tạo và động thực
vật biển được tái sinh trong hồ này. Cũng vậy, việc tái tạo môi sinh cũng được
thực hiện ở Hồ Haringvliet

Giải quyết vấn đề ô nhiễm.

Sông Rhine bị ô nhiễm rất nặng, mà Hoà Lan ở hạ lưu nên nhận nhiều hậu quả,
nhất là ở Hồ Ketelmeer. Để giải quyết vấn đề n ày, các kỹ sư Hoà lan làm một đê
vòng tròn, đường kính 1 km ở giữa Hồ Ketemeer, đê cao hơn mặt nước hồ 10 m,
bên trong đào sâu 45 m, vách đê bên trong được hàn kín. Polder đặc biệt này dùng
để chứa các chất thải do xáng múc từ hồ.

Nếu không có hệ thống đê biển và đê sông, 70% lãnh thổ Hoà Lan sẽ chìm sâu 6m
khi có lụt do biển hay sông. Người Hoà Lan đã phấn đấu liên tục trên 2,000 năm
nay để có một đất nước giàu đẹp hiện nay. Chính phủ, quốc hội, nhân dân, các nh à
khoa học, nông gia, các nhà bảo vệ môi trường, v.v. cùng ngồi chung với nhau để
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

giải quyết việc sống còn của đất nước họ. Vì vậy không có nhiều mâu thuẫn chính
trị, xã hội, kinh tế trong vấn đề giải quyết vấn đề lụt lội ở Hoà Lan. Tất cả đều
nhắm đến tương lai lâu dài cho một đất nước Hoà Lan phồn thịnh.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Phần 2: Kinh nghiệm Mississippi
1. Sơ lược về sông Mississippi

Sông Mississippi là một bộ phận trong hệ thống sông Jefferson-Missouri-
Mississippi của Bắc Mỹ, dài 6,275 km, đứng hạng 4 trên thế giới, lưu vực rộng
3,225,000 km², gồm 19 phụ lưu lớn chảy vào Mississippi, như sông Minnesota hội
nhập tại Twin Cities (Minnesota), sông Wisconsin tại Prairie du Chien
(Wisconsin), sông Des Moines tại Keokuk (Iowa), sông Missouri (dài 3,767 km)
và sông Illinois gần St. Louis (Missouri), và sông Ohio tại Cairo (Illinois). Lưu
lượng biến đổi từ 7,000 đến 20,000 m³/s, trung bình 16,200 m³/s, hạng 10 thế giới,
lưu lượng ở hạ lưu tại Baton Rouge khoảng 12,743 m³/s. Ở hạ lưu, sông
Mississippi chảy ra vịnh Mễ-Tây-Cơ (Gulf of Mexico) qua rất nhiều nhánh sông
nhỏ, hai nhánh sông chính là (i) sông Atchafalaya tách Mississippi tại
Simmersport, chảy qua thành phố Morgan rồi ra vịnh Atchafalaya, dài 270 km, và
(ii) nhánh sông chánh Mississippi chảy qua New Orleans, cách biển 169 km.




Không ảnh hạ lưu Mississippi
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Qua hàng ngàn năm, vào mùa xuân, mưa lũ làm nước sông dâng cao, tràn hai bên
bờ, gây lụt lội ở trung lưu và hạ lưu, đồng thời mang theo khoảng 159 triệu tấn
phù sa bồi đắp cánh đồng hai bên, tạo tam giác châu lớn dần ở hạ lưu, lấn ra biển,
và tạo thành vô số cồn, đảo đất/cát nhỏ ở vùng biển cạn trong Vịnh Mễ-Tây-Cơ.

Vào thời Cretaceous cách đây 65 triệu năm, ở thời nước biển dâng cao, bờ biển
cách xa bờ biển ngày nay 800 km, gần Cairo thuộc Illinois. Cách đây 8,000 năm,
khi nước biển hạ thấp tới mực nước ngày nay, bờ biển nằm ở Baton Rouge, cách
biển ngày nay 100 km. Tại vùng duyên hải, phù sa dày hơn 5 km. Trong 5,000
năm qua, tam-giác-châu tiến ra biển từ 24 đến 80 km, tùy nơi.

Trung bình hàng năm, phù sa sông bồi đắp làm gia tăng diện tích thêm vài km2.
Trong vòng vài ngàn năm qua, sông Mississippi đã bồi đắp 28,568 km2 đồng
bằng, trong số đó 23 900 km2 đất cao hơn mặt biển, phần còn lại xấp xỉ hay thấp
hơn mực nước biển, tạo thành vùng-đất-ngập (wetlands), đa số là đầm lầy (marsh).
Vùng-đất-ngập thuộc Louisiana khoảng 1.2 triệu ha, chiếm tổng số 40% vùng-đất-
ngập của Hoa Kỳ. Đây là vùng trù phú tài nguyên dầu mỏ, khí đốt, nông nghiệp
(như lúa, mía, bông vải), và hải sản (gồm cá, tôm, cua, sò, v.v.) và rất phong phú
đa-dạng-sinh-học (gồm 260 loài cá, 326 loài chim, 60 loài sò, v.v.).

2. Hệ thống đê điều ở hạ lưu - Thành phố New Orleans

Khi một con sông hoạt động, vào mùa lũ lụt, phù sa thô lắng động ngay bờ sông
tạo thành bờ đê thiên nhiên, cao hơn phần đất bên trong. Càng xa sông phù sa càng
mịn nhuyển hơn với số lượng ít hơn được lắng động, nên bờ sông thoai thoải thấp
dần khi càng xa sông, và bên trong cùng là nơi đất trũng đầm lầy. Cũng vậy, sóng
biển mang cát phù sa tạo thành giồng-duyên-hải, chạy song song với bờ biển, cao
hơn nội địa là vùng đầm lầy. Vào mùa lũ lụt, nước sông vượt đê-thiên-nhiên tạo
lụt. Cũng vậy, khi có thuỷ triều lớn hay bão tố, nước biển tràn qua giồng-duyên-
hải gây lụt bên trong.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Ở vùng hạ lưu, trong tam giác châu, di dân Âu Châu đầu tiên định cư trên vùng đất
cao trên các đê-thiên-nhiên dọc sông, nhất là từ Simmersport ra tới biển, trên cả 2
nhánh sông chánh Atchafalaya và Mississippi, cũng như ở các phụ lưu khác. Để
ngăn chận lụt lội hàng năm trên vùng đất này, và để gia tăng diện tích thổ cư, cũng
như diện tích nông nghiệp, họ lấn vào vùng đất trũng, vùng đầm lầy bên trong, họ
thiết lập hệ thống đê dọc sông, ngay trên bờ-đê-thiên-nhiên. Đặc biệt khi bông vải
trở thành quan trọng, các nông gia mở rộng diện tích đồn điền bông vải, hàng vài
trăm cây số đê được thiết lập dọc theo sông, từ phía nam New Orleans cho tới
Baton Rouge, và chạy dài tới Arkansas. Cũng vậy, ở phía nam, gần biển, các đồn
điền mía được thiết lập sau khi các hệ thống đê được thiết lập dọc theo các phụ lưu
(bayou). Lúa được canh tác nhiều ở tây nam tiểu bang, vùng Lafayette, với tổng số
diện tích khoảng 200,000 ha.

Cốt yếu ngăn ngập lụt hàng năm từ sông, di dân đầu tiên ở vùng hạ lưu Mississippi
chỉ thiết lập hệ thống đê bằng đất dọc bờ sông, trên các đê-thiên-nhiên, có nơi cao
hơn mặt đất 1.2 m, dài tổng cộng 3,550 km, còn sử dụng và được tăng cường cho
tới ngày nay. Về sau, ở thế kỷ 20, Công Binh Hoa Kỳ (US Army Corps of
Engineers) thiết lập thêm các cổng-lụt (floodgate), đào kinh chuyển dòng nước
hay thoát nước, đào hồ chứa nước (reservoir). Các công ty dầu mỏ cũng đào kinh
chuyên chở dầu khí, lắp ống dẫn dầu, khí đốt, đào giếng dầu, hệ thống đê quanh
giếng dầu và cơ sở lọc dầu, v.v.

Trong bối cảnh đó, thành phố New Orleans được thành hình. Cư dân Âu châu, đa
số gốc Pháp đến định cư ở vùng hạ lưu Mississippi, thiết lập nông trại dọc theo bờ
sông, là vùng đất cao nhất vì nằm trên các đê-thiên-nhiên, có độ cao 3 – 3.6 m trên
mực biển. Năm 1699, để ngăn lụt, cư dân thiết lập hệ thống đê đầu tiên dọc bờ
sông Mississippi, ở một vùng gần biển để định cư, lập đồn điền và cơ sở thương
mại. Năm 1718, Jean Baptiste le Moyne, vị thống-đốc người Pháp, chọn nơi này
thành lập thành phố New Orleans. New Orleans, ở hạ lưu Mississippi, cách biển
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


169 km, trở nên trù phú. Ngày nay, New Orleans là thương cảng sầm uất thứ 4 của
thế giới, và thứ nhất của Hoa Kỳ. New Orleans và Louisiana chứa 11% trữ lượng
dầu hoả, và 19% trữ lượng khí đốt của Hoa Kỳ, cung cấp 30 % lượng hải sản cho
toàn quốc. 50% ngũ cốc của Hoa Kỳ được chuyên chở từ New Orleans. Tiểu bang
Louisiana sản xuất bông vải, mía, lúa gạo và các nông phẩm quan trọng khác của
Hoa Kỳ.

Vào đầu thế kỷ 18, đa số đất thuộc thành phố New Orleans còn là đầm lầy, và bị lũ
lụt thường xuyên, gây nhiều thiệt hại nhân mạng và kinh tế. Lụt ở New Orleans do
3 nguyên do: (i) nước sông Mississippi tràn bờ; (ii) nước hồ Pontchartrain tràn vào
thành phố từ phía Đông Nam khi có bão; (iii) do mưa lớn, nước không thoát hay
bơm kịp. Louisiana có vũ lượng trung bình hàng năm 1,630 mm, mưa tập trung
vào mùa hè, cũng là mùa bão tố, nên lụt đe dọa thường xuyên.

Sự thật không phải toàn thành phố New Orleans nằm dưới mực nước biển, nơi gần
bờ sông thì cao hơn mực nước biển, nhưng càng xa sông thì thoai thoải thấp dần.
Tựu chung 49% diện tích đất cao hơn, và 51% thấp hơn mực nước biển, và tính
trung bình New Orleans nằm 0.3 – 0.6 m dưới mực nước biển, nơi thấp nhất 3 m
dưới mực nước biển, và nơi cao nhất 4.8 m trên mực nước biển. Nói chung, New
Orleans là một polder như của Hoà Lan, có hệ thống đê sông bao quanh thành phố
dọc Mississippi và các sông rạch, và đê biển dọc Hồ Pontchartrain.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Hệ thống đê (---) của thành phố Orleans (hình trên) và độ cao của thành phố so với
mực nước biển (hình dưới, bên mặt). Vị trí địa lý thành phố New Orleans và tiểu
bang Louisiana (Hình dưới, bên trái)

New Orleans nằm kế bên Hồ Pontchartrain. Hồ này có diện tích 1,630 km², lớn
gấp 2 thành phố. Đúng ra đây là một cái phá (lagoon) nước lợ, có độ mặn khoảng
1/2 nước biển, sâu trung bình 4 m, có nơi nạo vét sâu hơn để tàu biển thông
thương, ăn thông với Vịnh Mễ-Tây-Cơ qua cửa bể Rigolets. Hồ Pontchartrain là
đầu nguồn bão tố thổi vào New Orleans. Chung quanh hồ là một hệ thống đê biển
cao để chống lụt, bảo vệ thành phố.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Năm 1738, bờ đê hai bên bờ sông Mississippi được xây dựng bằng đất, dài 68 km,
để bảo vệ New Orleans chống lụt. Để giúp tàu thông thương trên sông, và phát
triển nông nghiệp trong thế kỷ 19, cây cối ven sông bị đốn bỏ, n ên bờ sông bị xói
mòn. Năm 1879, Uỷ Ban Quản Trị Sông Mississippi ra đời, và vào đầu thế kỷ 20,
cho thiết lập đê kiên cố và nạo vét dòng sông. Trong 2 thập niên 1930s và 1940s,
Công Binh Hoa Kỳ sửa thẳng lại dòng sông để rút ngắn thuỷ trình. Thập niên
1960, Công Binh đào 14 hệ thống kinh đào hàng hải trong vùng đầm lầy. Các công
ty dầu mỏ đặt 38,000 km ống dẫn dầu, đào giếng dầu, đào kinh cho tàu chở dầu,
v.v., vì vậy góp phần phá hủy môi trường vùng đầm lầy.

Ngày nay, trên đoạn bờ sông dài 1,520 km ở hạ lưu, một hệ thống đê dài tổng
cộng 3,200 km, cùng với 1,750 km hệ thống sông đào để thoát nước, đổi hướng
dòng nước và vận tải dầu khí cho thành phố. Những nơi có hiểm hoạ đe doạ bởi
sóng biển từ hồ Pontchartrain, các đê và tường-chắn-lụt (floodgate) cao và kiên cố
được thiết lập, có thể chịu đựng được sóng bão biển cao 4.2 m trên mực nước
biển. Ngoài ra, trong vùng đầm lầy, 1.5 - 3 m thấp dưới mực nước biển, tiểu bang
Louisiana cho đào khoảng 16,000 km kinh đào để giúp lưu thông cho các giếng
dầu mỏ.

New Orleans sồng nhở hàng hải. Trong thời gian 1918-1923, một kinh đào hàng
hải nối Mississippi và Hồ Pontchartrain, mực nước hồ nhờ vậy dâng cao hơn mực
nước biển. Nhờ thuỷ lộ này, New Orleans phát đạt.

Tuy nhiên, sau khi Inner Harbor Navigation Canal hoàn thành năm 1940, ti ểu
bang đóng cửa thuỷ lộ Pontchartrain, làm thuỷ cấp New Orleans rút thấp đáng kể.
Tiếp theo, Công Binh thiết lập một hệ thống đê vòng đai bao quanh các đầm lầy
khiến nền đất thành phố bị lún sụp, có nơi lún sâu tới 2.4 m.

Sau trận lụt do nước sông Mississippi phá vỡ bờ đê năm 1927, thành phố New
Orleans thiết kế lại và phòng thủ lũ lụt bằng một hệ thống đê kiên cố hơn. Một trận
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


bão xảy ra tháng 9/1947, vỡ đê làm ngập lụt quận Jefferson của thành phố, có nơi
ngập 1m, gây tổn hại khoảng 100 triệu US$. Sau trận bão này, đê chống lụt được
xây dựng ở bờ nam Hồ Pontchartrain

Trận bão Betsy ngày 10/9/1965, với gió 200 km/giờ, phá huỷ bờ đê và gây lụt sâu
3 m, gây thiệt hại cho thành phố rất lớn. Sau trận lụt này, Công Binh Hoa Kỳ được
uỷ thác toàn quyền thiết kế và thiết lập hệ thống bảo vệ New Orleans chống bão
lụt, và dự trù hoàn tất trong 13 năm. Tựu trung, bờ đê được nâng lên cao 4 m, đặc
biệt tăng cường tường-chắn-lụt bằng ximăng cốt thép ở những nơi thường xuyên
đe doạ. Tuy nhiên, khi trận bão Katrina xảy ra năm 2005, công trình trên chỉ mới
hoàn thành được khoảng 60-90% bởi vì công trình dự trù hoàn thành năm 2015,
sau 50 năm được Quốc Hội phê chuẩn.

Đê bao New Orleans làm bằng đất, khá rộng. Ở những vị trí hăm doạ nước sông
tràn qua đê, tường-chặn-lụt (floodwall) bằng xi -măng-cốt-sắt được xây hoặc trên
mặt đất bờ sông, hoặc trên mặt đê để ngăn lụt. Tuỳ theo vị trí, tường-chắn-lụt cao
từ 1.8 đến 3 m, trên mặt tường rộng 0.3 m, đáy tường 0.6 m, nằm trên nền móng
bằng đất. New Orleans cũng như tiểu bang Louisiana, có vũ lượng cao, 1,630
mm/năm, tập trung vào các tháng mùa hè. Để thoát nước mưa, hay lụt tràn qua đê
do bão cấp 3, một hệ thống kinh đào góp nước và một hệ thống bơm vỉ đại được
thiết lập, nhưng hệ thống này không đủ để bơm nước lụt vỡ đê trong trận bão
Katrina 2005. Bởi vì nền đất thành phố bị lún sụp, khoảng 5 – 10 mm /năm theo
như Louisiana State University khảo sát, do hậu quả của việc thiết lập đê và hệ
thống thoát nước, nên hệ thống đê tương đối bị thấp dần so với mực nước biển.

bão Katrina cấp 4 vào đất liền vào 6:15 giớ sáng ngày Chủ Nhật, 29/8/2005 với
vận tốc 185 km/h, thổi qua New Orleans và bờ biển hạ lưu Mississippi. Cùng với
bão là mưa lớn đe doạ các vùng thấp. Khoảng hơn 50 đoạn đê và tường-chắn-lụt bị
nước lụt phá vỡ gây lụt lội cho 80% diện tích thành phố, và thiệt hại to lớn. Ước
tính từ không ảnh cho biết khoảng 95 tỷ lít nước lụt trong thành phố ngày
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


2/9/2005. Ba tuần sau đó là trận bão Rita (ngày 24/9/2005) lại tàn phá New
Orleans lần nữa. Đặc biệt là những đoạn đê bị phá vỡ lại là các tường-chắn-lụt
bằng sắt thép, trong lúc các đê bằng đất lại không sao cả. Kết quả của 5 cuộc điều
tra đi tìm nguyên nhân đê và tường-chắn-lụt bị phá vỡ đều kết luận là Công Binh
Hoa Kỳ đã làm dối hệ thống bảo vệ chống bão lụt. Chẳng hạn, tường-chắn-lụt ở
17th Street Canal 2.1 m ngắn hơn trong đồ án thiết kế. Ngoài việc các đê đất và
tường-chắn-lụt-bằng-thép không đủ tiêu chuẩn, nền móng đất không vửng làm
nhiều bờ đê bị ngã. Lý do là đất ở độ sâu từ 4.5 m đến 9 m có một lớp than bùn
dày từ 2 m đến 6 m. Chính nền móng than bùn này, nhất ở vùng đất cạn gần Hồ
Ponchartrain, là nguyên nhân không bền vững của đê và tường-chắn-lụt. Ngược
lại, tại Hồ Borgne, đê không đủ cao để chận sóng bão cao 7m, cao hơn mặt đê 3 m.
Hậu quả của trận bão Katrina là Công Binh phải củng cố lại 560 km đê bảo vệ
New Orleans, để chống bão cấp 4 và 5.

3. Giải tỏa áp lực nước sông

Nước sông Mississippi vào mùa lũ chảy siết, tràn bờ gây ngập lụt hàng năm. Để
giải tỏa sức nước, Công Binh Hoa Kỳ đã thiết lập nhiều hệ thống ngăn chặn lụt ở
hạ lưu, nhất là bảo vệ New Orleans, bằng cách xây dựng hệ thống chuyển hướng
nước sông.

Ngày Tết năm 1927, một trận lụt kinh hoàng, nước sông Mississippi vỡ bờ ở 145
địa điểm, gây ngập lụt một diện tích khoảng 70,000 km2, trong 6 tiểu bang, với độ
sâu 10 m, gây thiệt hại 400 triệu US$, và 246 người thiệt mạng.

Để ngăn ngừa lũ lụt tương tự như năm 1927, Bonnet Carré Spillway được hoàn tất
năm 1937 tại quận St. Charles Parish, Louisiana, khoảng 20 km tây New Orleans.
Đây là một công trình ngăn lụt cho New Orleans, gồm một hệ thống cổng-ngăn-lụt
(Floodgate) tại bờ đông của Mississippi, và một kinh đào để tháo nước lụt của
sông Mississippi vào Hồ Pontchartrain để thoát ra Vịnh Mễ-Tây-Cơ. Cổng-ngăn-
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


lụt chỉ mở khi nước sông Mississippi dâng cao. Kể từ ngày thiết lập, đã có 8 lần
mở cổng, lần mở gần đây nhất là ngày 11/4/2008, khi nước sông Mississippi ở
New Orleans dâng cao 5 m.

Ngoài ra, trong thập niên 1950s, khảo sát cho thấy nhánh sông Atchafalaya đoạt
dòng nước của nhánh Mississippi, vì nhánh sông Atchafalaya ngắn và dốc, gây
ảnh hưởng xấu đến hàng hải và sự phồn thịnh của thành phố New Orleans, nên
Quốc hội Liên Bang thông qua Công Trình kiềm chế chuyển hướng của dòng sông
(Old River Control Structure). Một hệ thống cổng-ngăn-lụt (floodgate) được Công
Binh Hoa Kỳ thiết lập hoàn thành năm 1963 tại chổ rẻ của 2 nhánh sông này (cách
biển 507 km). Trong mùa thông thường, cổng-ngăn-lụt phân lượng nước 70%
chảy vào nhánh Mississippi (chảy qua New Orleans, cho tàu bè thông thương), và
30% chảy vào nhánh sông Atchafalaya, nhưng trong trường hợp có nguy cơ lụt
cho New Orleans thì cho nước chảy vào Atchafalaya để thoát nước ra biển nhanh
hơn để giảm áp lực tràn vỡ đê bảo vệ New Orleans.

4. Công trình bảo vệ bờ biển Louisiana

Tùy theo vị trí địa dư, sóng biển, dân cư, môi sinh, v.v. những công trình bảo vệ
duyên hải Louisiana được Công Binh thực hiện.

Tăng cường đê đất trên giồng-duyên-hải. Đất giồng-duyên-hải là các đụn đất/cát
tự nhiên chạy dọc bờ biển, cao hơn mức nước biển và cao hơn đất bên trong nội
địa, thường là đầm lầy. Để bảo vệ các giồng duyên hải thiên nhiên này, ở những
nơi có bão tố gây sóng biển lớn, đê đất, hay tường xi măng cốt sắt, hay hàng rào
gổ, đựợc thiết lập trên các giồng này để chận cát, hay ngăn sóng. Trên các giồng
này, trồng các loại cỏ, thực vật chống cát di chuyển để ổn định đ ê và giồng cát.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Đê đất với thảo mộc chịu nước mặn hay phên gổ và trồng cỏ để chận cát bay

Tường-biển (seawall) bằng xi măng cốt sắt kiên cố dọc theo biển, nhằm bảo vệ
thành phố đông dân cư và các kiến trúc đường sá bên trong. Tường-biển mặc dầu
kiên cố nhưng đôi khi cũng bị phá hủy khi bão lớn. Chẳng hạn trên đoạn tường-
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


biển dài 1.8 km ở vùng Bayou Lafourche xây năm 1985 bị bão tố phá huỷ và bờ
biển bị sạt lở đẩy lùi vào bên trong có nơi tới 35 m.

Thảm đá (revetments). Đổ đá khối hay khối bê-tông dọc bờ biển để làm giảm sức
sóng. Công trình này được thiết lập trong thập niên 1980s để bảo vệ Đảo
Timbalier.




Tường-thẳng-góc (Groins). Nơi có dòng nước chảy làm xói lở bờ biển, các tường
bằng xi măng cốt sắt, hay gổ, hay đá đặt thẳng góc với bờ biển, để chặn hay giảm
sức sóng hay dòng chảy để phù sa lắng đọng ngay chân tường.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Khối-cản-sóng (Breakwaters)

Đó là các công trình hoặc bằng đá khối, hoặc khối bê-tông cốt thép đặt ngoài biển,
gần bờ, song song với bờ biển, hoặc ngầm dưới nước, hay cao hơn mực nước, với
khoảng cách được tính toán để giảm thiểu sức sóng, và giúp phù sa lắng đọng dọc
bờ biển.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Đoạn khối–cản-sóng tại Holly Beach, Louisiana

Những công trình chống bão lụt của thành phố New Orleans cũng như bảo vệ bờ
biển Louisiana đều do Công Binh thiết kế và xây dựng. Hạ Viện uỷ nhiệm Công
Binh Hoa Kỳ thực hiện 5 công trình chống bão lụt cho vùng duyên hải Louisiana,
trong đó có 2 công trình cho thành phố New Orleans (Lake Pontchartrain and
Vicinity Hurricane Protection Project và The West Bank and Vicinity Hurricane
Protection Project). Công Binh Hoa Kỳ thiết kế các đê này chỉ bảo vệ được bão
cấp 3 mà thôi, trong khi bão cấp 4 hay 5 (như Katrina) thỉnh thoảng xảy ra.

5. Vấn đề do đê điều gây ra
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Thiết lập hệ thống đê điều ở hạ lưu Mississippi đã biến vùng đầm lầy thành đồng
bằng phì nhiêu, các đô thị đông đúc phồn thịnh, góp phần quan trọng vào sự phồn
vinh của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, có những mặt trái gây nên:

Đồng bằng hạ lưu Mississippi thiếu phù sa bồi đắp. Hàng năm, Mississippi mang
theo dòng nước khoảng 159 triệu tấn phù sa. Trước kia, khi chưa có hệ thống đê,
lũ lụt hàng năm bồi đấp phù sa vào cánh đồng làm phì nhiêu đất đai, vào các đầm
lầy, tạo thêm tam-giác-châu lấn ra biển, các giồng-duyên-hải được bồi đắp thêm
cao và rộng hơn. Ngay trong biển, nhửng cồn, đảo nhỏ thành hình, lớn dần, là
những chướng ngại thiên nhiên chống bão tố cho vùng Louisiana và Texas.

Ngày nay, các nghiên cứu và hình ảnh vệ tinh cho thấy, phù sa sông Mississippi
trong mùa lụt chảy thẳng ra biển sâu, một phần lặng tụ ở biển sâu xa bờ biển tới 80
km, một phần theo dòng nước đưa đến bờ tây của Florida.

Lún sụp đất. Thành phố New Orleans xây cất trên vùng đất đầm lầy, nền móng là
một lớp than bùn dày 4-10m. Hệ thống đê cao bao quanh, cùng với hệ thống thóat
nước, đất khô co rút thể tích, hậu quả là đất bị lún sụp. Nghiên cứu của Louisiana
State University tường trình là New Orleans lún khoảng 5 – 10 mm /năm.

Trong vùng đầm lầy, trong tam giác châu, có nơi lún sụp tới 2.4 m.

Nước biển dâng cao. Trong bối cảnh nước biển dâng cao do hậu quả hâm nóng
toàn cầu, nước biển vùng Vịnh Mể Tây-Cơ dâng cao trung bình 1.2 mm/năm.
Nhưng vì nền đất vùng đầm lầy duyên hải bị lún sụp do thiếu phù sa bồi đấp, bị
khô vì hệ thống đê điều, nên hiện nay nước biển dâng cao trung bình 1.2 cm/năm,
gây nên mất đất trầm trọng ở vùng duyên hải Louisiana và Texas.

Xói lở bờ biển. Kể từ 1900, biển xói lở xâm nhập vào nội địa, từ 3 m đến 20
m/năm, tùy nơi, và riêng Louisiana đã mất khoảng 260 km² đất duyên hải.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Biến mất đất đầm lầy. Kể từ 1930, Louisiana mất khoảng 3900 km2 vùng-đất-
ngập, trung bình mất 65 đến 90 km2/năm. Lý do (i) hệ thống đê sông, đê biển
ngăn chặn phù sa bồi đắp, (ii) do hệ thống kinh đào chuyển vận khai thác dầu hoả
làm xói lở, (iii) đất bị lún sụp vì bị thoát thuỷ, (iv) nước biểnVịnh Mexico dâng
cao hơn và bão tố thường xuyên, (v) nước mặn xâm nhập, và (vi) thực vật trong
các đầm lầy bị chết vì môi trường bị thay đổi đột ngột, vì nước biển xâm nhập.
Riêng trận bão Katrina (9/2005) và Rita (10/2005) làm mất khoảng 260 km² đất
vùng đầm lầy.

Theo ước tính của Ủy Ban Quản lý Tái Tạo Duyên Hải của tiểu bang Louisiana,
với vận tốc mất đất hiện hửu, thì vào năm 2050 Louisiana sẽ mất thêm 213,000 ha
đất vùng đầm lầy, như vậy bờ biển sẽ tiến vào nội địa khoảng 48 km. Hậu quả sản
xuất hải sản sẽ giảm 30%. Các giếng dầu lửa, khí thiên nhiên, hệ thống kinh cho
tàu bè sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, sẽ ảnh hưởng vào thất nghiệp và phồn vinh cho
các thành phố phương nam.

Biến mất các cồn nổi, đảo-chắn (barrier islands) trong biển cạn. Vì thiếu phù sa
bồi đắp, vì bị bão tố, sóng biển phá hủy, các cồn phù sa và đảo chắn bị xói lở và
biến mất. Trong vòng 100 năm qua, 40% các cồn nổi và đảo-chắn này chìm biến
mất.

Nguy cơ hăm dọa của bão tố nhiều hơn. Vùng đầm lầy dọc duyên hải và các cồn,
đảo chắn phù sa trong vịnh Mể Tây Cơ là các rào cảng thiên nhiên chống bão tố
cho vùng duyên hải và hạ lưu Mississippi. Nếu các đầm lầy và các đảo chắn này bị
biến mất, nguy cơ bão tố gây thiệt hại sẽ trầm trọng hơn cho các thành phố trên
duyên hải và xa hơn trong nội địa.

6. Sửa chửa vấn đề
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Lý do chính của những vấn đề tiêu cực nói trên là do hệ thống đê dọc sông ngăn
nước lụt và phù sa vào tam-giác-châu và các đầm lầy dọc duyên hải, làm môi sinh
ở các đầm lầy duyên hải bị hủy hoại, gây nên lún sụp nền móng và xói lở bờ biển.

Để duy trì kinh tế, chánh là dầu khí, nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và
hàng hải của vùng duyên hải, các chuyên gia củng cố lại hệ thống đê sông và đê
biển bảo vệ các thành phố và khu đông dân, nhưng đồng thời tạo lại lụt lội hàng
năm cho các vùng đầm lầy gần bờ biển.

Để tái tạo vùng-đất-ngập, Công Binh phá vỡ những đoạn đê gần biển, thiết lập các
cổng-lụt, để kiểm soát việc đưa nước lụt mang phù sa vào vùng đầm lầy. Bắt đầu
năm 1991, công trình Caernarvon đưa nước Mississippi vào các đầm lầy rộng 65
km2 bên dưới New Orleans. Công trình Bonnet Carre đưa nước vào Hồ
Pontchartrain và 40 km² đầm lầy kế bên. Công trình thứ ba, đưa nước từ hồ Davis
Pond đến khu đầm lầy rộng 350 km2 ở phía nam New Orleans.

Công trình Caernarvon (1991) và Davis Pond (2002) đã thành công chuyển nước
lụt của Mississipi vào khu đầm lầy, làm giảm nguy cơ lụt do sông Mississipi, đẩy
lùi nước mặn, và tạo thêm được đất mới ở các dầm lầy nước lợ của các vùng biển
bị soi mòn.

Tái tạo các đảo-chắn ngoài biển bằng cách xây các công trình giúp lắng tụ phù sa,
chống xói lở bờ. Chẳng hạn đảo Queen Bess mất 60% diện tích vì bị lún sụp và
xói lở trong thời gian 1956-1989, được tái tạo lại từ 1990 với 2 công trình chính:
(i) một hệ thống đê bao quanh đảo, và các rạch nước trong đảo, đồng thời trồng
cây hai bên và trên đê (Myrica cerifera, Iva frutescens, Lycium halimfolia và cây
mấm - Avicennia germinans); và (ii) đổ 30,000 tấn đá quanh đảo.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Đảo chắn trước (trái) và sau khi (phải) tái tạo với thảo mộc xanh tốt

Một dự án khác đang nghiên cứu là cắt một đoạn đê ở vị trí khoảng 150 km nam
New Orleans, và khoảng 30 km cách bờ biển hiện nay, để đưa nước ngọt
Mississippi và mang phù sa vào các đầm lầy dọc duyên hải, thay vì chảy thẳng ra
biển khơi như hiện nay, để tạo một tam giác châu mới, rộng 1000 km2, để l àm bảo
vệ New Orleans và Louisiana, đồng thời đẩy lùi nước biển xâm nhập vào vùng đất
duyên hải. Nếu dự án này được chấp thuận, một tam giác châu mới rộng từ 700
đến 1000 km2 sẽ thành hình trong 100 năm tới.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


7. Khác biệt giữa hạ lưu Mississippi và Hạ Hòa Lan

Sau khi bão Katrina tàn phá vùng duyên hải Louisiana, đặc biệt New Orleans,
nhiều người đã tự hỏi là tại sao một nước Mỹ giàu có, với kỹ thuật tối tân, lại
không bảo vệ đựơc thành phố New Orleans như Hòa Lan đã bảo vệ được vùng Hạ
Hòa Lan. Hai vùng này cũng có những đặc tính giống nhau, thấp hơn mực nước
biển, bị bão tố thường xuyên, dân cư đông đúc và tầm quan trọng kinh tế. Tuy
nhiên có những khác biệt.

Nền móng của vùng Hạ Hòa Lan tương đối vững chắc trên nền đá, trong lúc hạ
lưu Mississippi là lớp phù sa tích lũy cùng với than bùn. Nền đất của hạ lưu
Mississipi bị lún sụp nhiều hơn, nên không thích ứng việc xây những đê và cống
vỉ đại như Hòa Lan.

Bão ở Biển Bắc Âu Châu không lớn bằng bão nhiệt đới của vùng Vịnh Mễ-Tây-
Cơ.

Bờ biển Louisiana dài gấp 3 lần bờ biển của Hạ Hòa Lan, thiết lập một hệ thống
đê như Hòa Lan thì Hoa Kỳ không có đủ ý chí để thực hiện

Các sông ở Âu châu là các sông nhỏ ít phù sa, trong lúc Mississippi là một sông vỉ
đại, gây lụt lội nhiều hơn, trong lúc lụt ở Hòa Lan thường là từ biển.

Người Hòa Lan quan tâm về sự sống còn phồn vinh của đất nước nên hy sinh phần
môi sinh, ngược lại người Mỹ đặt quá nặng vấn đề môi sinh. Vì vậy, Hòa Lan thiết
lập một hệ thống đê biển dọc bờ biển bảo vệ cho cả vùng Hạ Hòa Lan, còn Hoa
Kỳ chỉ thiết lập đê nhỏ bảo vệ cho mổi thành phố.

Và quan trọng nhất, bảo vệ Hạ Hòa Lan là ưu tiên của chính phủ, mọi đảng phái
và toàn dân Hòa Lan, trong lúc Hoa Kỳ không đặt nặng vấn đề này. Chính phủ và
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Quốc Hội Liên Bang chỉ chuẩn y sửa chửa vấn đề khi biến cố đã xảy ra, sau đó
vào quên lảng.

Tài liệu tham khảo:

Experts: Dutch Flood Solutions Wouldn't Work Well in LA.

http://www.wafb.com/Global/story.asp?S=4496222

Blanco, K.B. Saving Louisiana’s delta.

http://usinfo.state.gov/journals/itgic/0404/ijge/gj06.htm

Camp, E.R. 1999. Design and implementation of a gis for Louisiana’s coastal
management division. Louisiana Department of Natural Resources, Coastal
Management Division.

Campbell, T., Benedet, L., Mann, D., Resio, D., Hester, M.W. and Materne, M.
2004. Restoration tools for Louisiana’s gulf shorelines. In “Louisiana. Ecosystem
restoration study. Chapter 6. Report November 2004. Page D143 -D-186

Campanella, R. Geography of New Orleans.

Carter, N.T. (2005). New Orleans levees and floodwalls: Hurricane damage
protection. CRS Report for Congress.

Dean, R.G. 2006. New Orleans and the Wetlands of Southern Louisiana. New
Scientist, 36.

Grunwald, M. and Glasser, S.B. (2005) Experts Say Faulty Levees Caused Much
of Flooding. Washington Post, 21/9/2005.

Hecht, Jeff (1990) The incredible shrinking Mississippi Delta. New Sientist.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


US Army Corps of Engineers. 2004. Louisiana Coastal Areas (LCA). Louisiana.
Ecosystem restoration study. Report November 2004.

Wikipedia: New Orleans, Louisiana; Mississippi River; Mississippi River Delta;
2005 levee failures in Greater New Orleans; Lake Pontchartrain; D rainage in New
Orleans.

Winslow, L. New Orleans Levee system History. http://ezinearticles.com/?New -
Orleans-Levee-System-History&id=65886
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Phần 3: Kinh nghiệm Bangladesh




Khái lược tổng quát về Bangladesh

Bangladesh là một tam-giác-châu nhận nước mưa nhiều nhất trên thế giới, góp
92% nước mưa của ba lưu vực có tổng cộng diện tích 1.5 triệu km2 của ba sông
chính là Brahmaputra, Ganges và Meghna của ba nước Bhutan, Ấn Độ và Nepal
thuộc vùng Tây Tạng, chảy vào hạ lưu là Bangladesh, trước khi ra Vịnh Bengal.
Sông Brahmaputra khi xáp nhập với sông Ganges tạo thành tam-giác-châu
Sunderbans lớn nhất thế giới, nổi tiếng về rừng ngập mặn (mangroves) và cọp.
Lưu lượng sông Brahmaputra vào mùa lụt là 65,500 m3/giây, sông Ganges là
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


51,500 m3/giây. Tổng số nước chảy ra Vịnh Bengal của Bangladesh nhiều hơn 2.5
lần sông Mississippi, chỉ sau sông Amazon. Vào năm bình thường, nếu cho lượng
nước này tràn ngập, thì Bangladesh sẽ chìm sâu dưới 7 m nước. Cao nguyên
Meghalaya, bắc Bangladesh, là nơi có vủ lượng cao kỷ lục trên thế giới, vủ lượng
trung bình hàng năm là 11 m nước, năm mưa nhiều tới 25 m nước. Ở vùng đồng
bằng duyên hải, mưa trung bình 1750 mm/năm. Vì không có công trình kiểm soát
nước quy mô ở thượng nguồn, lại là vùng rừng bị tàn phá nặng nề, bao nhiêu nước
lũ tràn vào Bangladesh gây nên xói lở đất đai, và lụt lội hàng năm. Mỗi năm 2,400
triệu tấn phù sa do sông chuyên chở vào Bangladesh và vịnh Bengal. Ngược lại,
vào mùa khô thì đồng bằng thiếu nước canh tác, vì vậy đời sống nông dân rất bấp
bênh, ít nơi có khả năng làm 2 hay 3 vụ mùa mỗi năm. Qua hàng mấy ngàn năm,
người dân sống cùng thiên nhiên, quen với bão tố và lũ lụt hàng năm. Nông dân
phát triển cả hàng ngàn giống lúa nổi (floating rice) thích ứng mùa ngập lụt sâu
với 5-6 m nước, và vào mùa khô thì canh tác giống lúa thấp giàng (lùn). Nhưng lụt
lội nhiều khi xảy ra rất nhanh chóng, chỉ trong vài giờ làm giống lúa nổi cũng
không tăng trưởng kịp nên bị ngập chết, còn vào mùa khô thì lại không có nước để
canh tác, hậu quả là mất mùa liên miên. Ngoài ra, nạn nhân mãn rất trầm trọng,
với dân số 153.5 triệu (2007) sống trên diện tích 144,000 km2, có mật độ cao nhất
thế giới (1,045 dân/km2). Hầu hết dân sống trong đồng bằng và dọc vùng duyên
hải, chiếm 80% diện tích toàn quốc, bị ảnh hưởng ngập lụt và bão tố hàng năm.
21% GDP toàn quốc nhờ nông nghiệp. năng suất lúa là 8 tấn/ha/năm, gồm 2 đến 3
vụ lúa. GDP mỗi đầu người theo tiêu chuẩn PPP (Purchasing Power Parity) là
1,400 $US (hạng 153, 2007) (Vietnam 2,600 US$, 2007, hạng 129), 45% dân số
sống dưới mức nghèo đói (2007, dưới 1 $US/ngày), 57% dân số mù chữ Đồng
bằng khá bằng phẳng, cao độ từ 0 đến 10 m trên mực nước biển, chỉ ở vùng đông
nam mới có núi đồi. Chiều dài bờ biển 580 km. Thiên tai xảy ra thường xuyên,
gồm:
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


bão nhiệt đới do nước Vịnh Bengal hâm nóng, xảy ra thường
(i)
xuyên;

Nước biển dâng cao, nước mặn xâm nhập; rừng vùng đầm lầy
(ii)
Sundarbans tự nhiên chết vì nhiễm mặn toàn diện;

Lụt lội khủng khiếp xảy ra hàng năm, do mưa xảy ra tại chỗ
(iii)
hay ở thượng nguồn, hay phốí hợp cả hai. Ngày nay, mưa lớn xảy ra
thường xuyên, chẳng hạn trong năm 2005 chỉ trong một ngày mưa
tới 352 mm.

Trận lụt thảm khốc năm 1987 là do mưa dữ dội trên khắp lãnh thổ
Bangladesh, đặc biệt ở vùng tây bắc làm nước sông Ganges chảy xiết với 76,000
m3/giây, sông Ganges không kịp thoát nước nên tràn bờ đê, cọng thêm mưa lớn tại
chỗ, làm trận lụt trầm trọng thêm, 40% lãnh thổ bị lụt lớn.

Ngược lại, trận lụt năm 1988 không do mưa trên lãnh thổ Bangladesh, mà do mưa
dữ dội ở cao nguyên Meghalaya thuộc Ấn Độ làm nước sông Meghna và
Brahmaputra tràn bờ với lưu lượng 98,600 m3/giây, và nước sông Ganges với
72,300 m3/giây, làm cả 62% lãnh thổ, kể cả thủ dô Dhaka bị ngập lụt trầm trọng
trong suốt 2 tuần. Một mảng đê trên bờ nam sông Brahmaputra bị vỡ, phá hủy
100,000 ha hoa màu.

Vịnh Bengal cũng là nơi tập trung bão khủng khiếp thường xuyên. Tháng
10/1876, trận bão với sóng triều cao 15 m tàn phá Bangladesh với khoảng 100,000
người chết; năm 1897 làm 150,000 người thiệt mạng, tháng 11/1970 với sóng triều
9 m gây 500,000 người chết, năm 1991 bão giết hơn 130,000 dân, và mới đây,
ngày 2/5/2008 bão Nargis với vận tốc gió 120 mph và mưa lủ tàn phá Miền Điện
làm chết trên tám chục ngàn người.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Hình trái: Tần số bão lớn xảy ra trong mỗi 10 năm ở Vịnh Bengal. Phần cột in
đậm là số bão thổi vào đất liền. Hình mặt: Hướng bão lớn trong Vịnh Bengal
trong thời gian 1945-1954, gây sóng biển cao < 2m (A), 2- 5 m (B), và >5 m (C)
trên vùng duyên hải. Bangladesh lảnh đủ bão biển với sóng biển loại C khi có bão.

Công trình chống bão lụt và dẫn thủy

Vào năm có khí hậu bình thường, 30% diện tích Bangladesh đều bị lụt sâu vài ba
mét nước. Qua hàng ngàn năm người dân Bangladesh đã thích ứng sống chung với
lũ lụt định kỳ này. Hàng ngàn giống lúa nổi được thiên nhiên và nông dân tuyển
chọn cho môi trường ngập lụt định kỳ, có nơi ngập lụt 5-6 m. Dĩ nhiên năng suất
lúa thấp, không đủ nuôi số dân tăng trưởng 2%/năm, nên đời sống dân nghèo nàn
và thất học. Ngoài ra, trong vài thập niên qua, thỉnh thoảng có những trận lụt
khủng khiếp xảy ra, như các năm 1970 (nửa triệu người chết),
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


1984, 1987, 1988, 1990 (130,000 người chết), 1991, 1998, gây thiệt hại to lớn cho
tài sản và nhân mạng. Từ mấy ngàn năm trước đây, địa chủ đã đắp đê bao quanh
ruộng đất của mình, và có bộng dẫn và thoát nước, để điều chỉnh nước canh tác
hoa màu. Vào mùa ngập lụt, tùy theo thủy triều mà điều hòa nước trong ruộng, khi
cần cho nước vào ruộng mang theo phù sa, khi cho tháo nước theo nhu cầu canh
tác. Tuy nhiên, cách giải quyết này chỉ trên phạm vi nhỏ, ở nơi lụt ít. Vì không có
kế hoạch toàn bộ, các công trình đê nhỏ này gây nhiều mâu thuẫn tranh chấp trong
xã hội.

Bangladesh đã có chương trình chống lũ lụt từ lâu đời nhưng chưa quy mô.
Mải đến đầu thập niên 1960s, nhờ viện trợ tài chánh và kỹ thuật của thế giới,
Bangladesh mới thiết lập hệ thống chống lũ lụt từ sông và từ biển với quy mô lớn.

Trận động đất 1950 tại bắc Bangladesh, Assam và vùng Hy mã Lạp Sơn
làm thay đổi hướng chảy các dòng sông, đặc biệt sông Brahmaputra. Một phần ba
thành phố Dibrugarh ở Assam thượng bên bờ nam sông bị xói lở. Để chận đứng
xói lở và lụt lội hàng năm, một hệ thống đê bằng đá cuội được xây đựng qua dòng
sông để chuyển hướng dòng nước chảy qua hướng khác, và hệ thống đê bao quanh
các thành phố để bảo vệ. Vì là vùng mưa nhiều, để tránh ngập lụt vì mưa tại chỗ,
hệ thống mương tháo nước từ thành phố và một hồ chứa nước lớn cũng được xây
dựng.

Sau trận lụt thảm khốc 1988, thế giới viện trợ tài chánh và kỹ thuật để
nghiên cứu chống lũ lụt cho Bangladesh.

Pháp và cơ quan UNDP của Liên Hiệp Quốc hợp tác với chính phủ
Bangladesh để nghiên cứu. Hoa Kỳ cũng như Nhật Bản cũng có nghiên cứu riêng
cho Bangladesh. Có nhiều đề án. Đề án của Pháp gồm xây dựng 4,000 km đê kiên
cố, phải mất 20 năm để hoàn thành và tốn khoảng 10 tỷ USD (giá 1990). Ngược
lại, Nhật và Hoa Kỳ đề nghị giải pháp khác. Dự án của Hoa Kỳ (USAID) không
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


chủ trương trị thủy chống lũ lụt bằng đê điều, mà chủ trương sống chung với lũ
lụt, thay vì dùng tiền xây dựng đê điều thì dùng để nghiên cứu tiên đoán lũ lụt và
phương cách sống cùng với lũ lụt mà người dân Bangladesh đã có kinh nghiệm từ
hàng mấy ngàn năm qua. Dự án của Nhật Bản, chia sẻ quan điểm của 2 dự án của
Pháp và Hoa Kỳ, thiết lập hệ thống đê điều kiên cố ở những yếu điểm và đồng thời
thiết lập hệ thống cảnh báo lụt và nơi trú ẩn ở mỗi địa phương khi có bão hay lụt.
Chính phủ Bangladesh thì muốn giải pháp của Pháp, nhưng không có tài chánh và
không có nước nào tài trợ với kinh phí khổng lồ đó. Cuối cùng Bangladesh cùng
các quốc gia và cơ quan tài trợ, chủ yếu là Ngân Hàng Thế Giới đi đến thỏa thuận
chung là thực hiện từng kế hoạch 5 năm, và tùy tài chánh mà thiết lập thêm đê
điều. Chủ yếu của kế hoạch là bảo vệ vùng nông nghiệp và các trung tâm dân cư
tránh khỏi những cơn lụt lớn nhất.

Theo các kế hoạch này, bắt đầu bằng kế hoạch ngũ niên 1990-1995, các
vùng bị lụt đe dọa được nghiên cứu kỹ lưỡng lại, bờ đê dài 260 km hữu ngạn sông
Brahmaputra được xây cao thêm thật kiên cố, đồng thời củng cố lại hệ thống đê
điều đã có. Thiết lập 5 công trình kiểm soát dòng sông, mỗi công trình tốn khoảng
10 triệu US$, và dùng mô hình toán học và quan trắc vệ tinh để theo dỏi kết quả
của các công trình này. Ngoài ra, nhiều công trình khác chú trọng vào việc kiềm
chế lũ lụt, thoát nước, phương pháp bảo vệ hữu hiệu đê, cải thiện nước cho ngư
nghiệp, và nhiều chương trình xã hội khác.

Theo các chuyên gia hàng đầu của thế giới từng thực hiện các dự án thủy
lợi ở Bangladesh thì không có giải pháp nào có thể chế ngự hoàn toàn lũ lụt cho
toàn quốc Bangladesh. Theo các chuyên gia này, vì ngân khoản eo hẹp, chỉ nên
chọn lựa các công trình thiết kế đê điều “ngăn chận” lụt để bảo vệ dân chúng, đất
canh tác, các thành phố chính và một số kiến trúc cần thiệt cho nền kinh tế như
đường giao thông, cầu cống, v.v. Ở những nơi khác, thì nên “kiểm soát” mực nước
lụt, nghĩa là xả nước qua các cổng điều hòa nước (regulators) trên các đê dọc sông
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


để ngập một số vùng đất bên trong vừa đủ để canh tác lúa, đay (jute) và nuôi cá.
Tại các vùng lụt có hạn chế này, đường sá, nhà cửa, trường học, nhà thương, chợ
búa và nhà trú ẩn được xây cất trên nền cao. Mọi hoạt động vẫn bình thường mặc
dầu trong mùa lụt.

Hệ thống cảnh báo lụt cũng được thiết lập, liên kết với các trạm thủy văn
đầu nguồn ở Ấn Độ, theo dõi mực nước và vủ lượng suốt từ thượng nguồn cho tới
Vịnh Bengal. Hiện tại, Bangladesh có thể tiên đoán 8 ngày trước khi có lụt có cơ
nguy làm vỡ đê.

Cũng cần ghi ở đây dự án trị thủy toàn diện của UNDP và Pháp đề nghị sau
trận lụt kinh hoàng 1988. Ba dòng sông Brahmaputra, Ganges và Meghna rất
khổng lồ, nếu trang trải l ượng nước đều thì Bangladesh chìm ngập sâu 7 m nước.
Dân chúng quá đông, lại thiếu đất canh tác, giải ph áp đào hồ chứa nước không
thực tế. Chỉ còn hai giải pháp khả dỉ tránh lụt, hoặc là vét nạo lòng sông thật sâu
và rộng để nước lũ thoát ra Vịnh Bengal, hoặc xây đê hai bên bờ sông. Nạo vét
lòng sông cũng không thực tiển, vì 3 con sông khổng lồ của Bangladesh mang
2,400 triệu tấn phù sa/năm, phải nạo vét hàng năm, nạo vét nơi này, phù sa lắng tụ
nơi khác, ngoài khả năng tài chánh và kỹ thuật của nước nghèo Bangladesh.

Theo đề án của Pháp, để tránh đ ược trận lụt tương tự năm 1988 (chu kỳ xảy
ra mỗi 10 năm), cần phải xây đê cao 4.5 m đến 7.5 m tùy địa phương, như vậy cần
400 triệu m3 đất, và mất khoảng 200,000 ha đất để xây đê, sẽ ảnh hưởng tới
180,000 dân cư di dời đến nơi khác. Mặt đê dùng làm đường giao thông. Các kỹ
sư Pháp đề nghị xây dựng 2 hệ thống đê dọc theo sông, (i) hệ thống đê hiện hữu
gần bờ sông hiện nay được củng cố lại, và (ii) thiết lập hệ thống đê chánh cao hơn,
cách xa từ 2 đến 5 km. Hệ thống đê chánh thứ hai giúp ngăn được lụt tương tự lụt
1988. Thiết lập hệ thống 2 đê này tương tự hệ thống dọc sông Rhin của Hòa Lan
(xem phần 1). Diện tích khoảng đất giữa 2 đê này khoảng 300,000 ha có thể canh
tác với 5 triệu dân cư trú. Đề án này bị chỉ trích, vì tổn phí quá lớn, có thể mang
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


nhiều tệ hại hơn lợi ích (như nền đất bị sụp, môi sinh bị phá hủy, bờ sông bị xói
mòn trầm trọng hơn, ngư nghiệp bị tổn hại, v.v.), và Bangladesh cũng không có đủ
đá để xây đê và các hệ thống chống lụt. Vì vậy, dự án của UNDP và Pháp không
được quốc gia tài trợ nào hưởng ứng. Cuối cùng, các quốc gia tài trợ đồng ý kế
hoạch nhiều ngũ niên, làm được tới đâu hay tới đó, như đã đề cập ở trên.

Hiện nay, Bangladesh có tổng cộng khoảng 13,000 km đê, gồm 9,000 km
đê sông và 4,000 km đê biển, bảo vệ khoảng 30% diện tích toàn quốc, cho khoảng
35 triệu dân (tổng số 135 triệu). Bangladesh đã xây dựng được 135 polders, từ
vùng duyên hải cho tới sâu trong nội địa hàng trăm km, với tổng số diện tích 1.09
triệu ha, với khoảng 1488 cống (sluices) điều chỉnh nước. Ngày nay, 90% dân số
vùng duyên hải sống trong các polders, 80% sống nhờ nông nghiệp. Nhờ có đê
biển và polders, thiệt hại do bão tố trong thập niên qua được giảm thiểu, mặc dù
tại vùng duyên hải, đất chỉ cao hơn mực nước biển từ 0 đến 2 m, trong khi sóng
triều lúc bão biển cao 6m.

Ngược lại, ở bắc Bangladesh, đất canh tác lại thiếu nước trầm trọng để canh
tác lúa và hoa màu khác trong mùa khô. Một công trình bắt đầu thực hiện trong
cuối thập niên 1970s và 1980s, với diện tích tổng cộng 750,000 ha, trong số đó
540,000 ha sẽ được dẫn thủy. Công trình gồm xây một đập chắn, hệ thống đê bao
ngạn ngăn lụt, kinh đào chuyển hướng dòng nước, hệ thống mương dẫn thủy và
thoát thủy, một hệ thống kết tụ phù sa. Công trình giai đoạn 1 hoàn thành tháng
6/1998. Kể từ 2003, 111,400 ha đã được dẫn thủy và nông dân trồng được 3 vụ lúa
(một vụ mùa mưa, và 2 vụ trong mùa khô). Giai đoạn 2 còn đang thực hiện.

Không ai chối cãi lợi ích của hệ thống đê dọc biển, dọc sông, quanh các
polders trong việc chống lũ lụt, bảo vệ dân và phát triển kinh tế của Bangladesh.
Nhờ hệ thống kiểm soát lụt và dẫn thủy, Bangladesh sản xuất đủ lương thực nuôi
135 triệu dân. Tuy nhiên, theo một số chuyên viên nước ngoài và trong nước, hệ
thống chống lụt ở Bangladesh có những thất bại:
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


(i) Các đê bằng đất thường bị phá vỡ, nên lụt vẫn xảy ra, nhất là trong thập
niên qua, vì dòng chảy của sông trở nên khủng khiếp do nạn phá rừng ở thượng
nguồn. Dân chúng sống bên trong đê có thể bị nguy hiểm thình lình khi đê bị vỡ

(ii) Vùng đất thấp xa sông thiếu phù sa bồi đắp, trở nên nghèo nàn, nền đất
lún sụp, trong khi nước biển dâng cao.

(iii) Môi sinh bị phá hủy, mà thế giới môi sinh quan tâm nhất là vùng rừng
ngập mặn Sunderbans.

(iv) Nước trong các polders và thành phố có hệ thống đê bảo vệ bị ứ động
do mưa tại chỗ, do thẩm lậu, nên nguồn nước bị ô nhiễm vì phân cầu tiêu, gia súc,
rác rến, v.v. Cây đa niên, vườn cây ăn trái trong các polders bị úng nước chết.

(v) Rất tốn kém để bảo trì đê điều hàng năm.

(vi) Cá không di chuyển từ sông vào đồng ruộng ngập lụt hàng năm như
trước kia để sinh đẻ và lớn. Ngư nghiệp nội địa sút giảm.

(vi) Hệ thống đê điều hiện nay ngăn lụt được ở vùng này thì lại gia tăng
hiểm họa lụt lớn hơn ở vùng khác.

(vii) Hệ thống đê dọc duyên hải làm lòng sông rạch bị cạn do lắng tụ phù
sa, cản trở việc lưu thông.

(viii) Mâu thuẫn xã hội do quyền lợi giữa nông trại nuôi tôm (cần nước
mặn) và người trồng lúa (cần nước ngọt).

(ix) Quan điểm của cộng đồng địa phương không được quan tâm khi hoạch
định, nên ngày nay nhiều mâu thuẫn giữa dân và chính quyền xảy ra. Vì dân quá
nghèo, không thể canh tác lúa cao sản cần nhiều phân bón và thuốc diệt sâu bọ,
nên một số nông dân phá đê tái tạo lụt như trước kia để canh tác lúa nổi, mặc dầu
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


năng suất kém hơn (nhưng lợi hơn). Ngày nay, một số polders được tái thiết lại với
hệ thống cống dẫn và thoát nước để điều chỉnh mực nước bên trong polder, dựa
theo nhịp điệu thủy triều, tùy theo nhu cầu canh tác của người dân.

Ngày nay, Bangladesh vẫn tiếp tục chương trình trị thủy với các hệ thống
đê điều, nhưng đồng thời tìm giải pháp sửa chửa các yếu điểm kể trên. Ngân Hàng
Thế giới, Ngân Hàng Á Châu và các chuyên viên thủy lợi ngày nay lắng nghe ý
kiến của người dân để vừa phối hợp kỹ thuật tân tiến trong xây dựng đê điều với
kinh nghiệm cổ truyền ngàn năm của nông dân trong vấn đề sống còn của họ.

Bangladesh vẫn tiến lên vì sự sống còn, vì cơm no áo ấm cho toàn dân
Bangladesh, mặc dầu nhiều chống đối của nhóm môi sinh đòi bảo vệ thiên nhiên
và thú hoang dã.

Cuộc tranh đấu với thiên nhiên vẫn tiếp tục và sẽ không bao giờ chấm dứt.




Tài liệu tham khảo chính

New Scientist (1989), issue 1693, 02 December 1989.

Bangladesh: at the mercy of climate change (2007):

http://www.srwolf.com/wolfsoc/articlearchives/2007/06/bangladesh_at_the_mercy
_of_cli.html

Technical Support Unit, World Meteorological Organization and Global Wate
Partnership (2003). Bangladesh: Flood Management.

Tutu, A-U-A. (2005). River management in Bangladesh: a people’s initiative to
solve water-logging.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Khalequzzaman, M. (). Flood Control in Bangladesh through Best Management

Practices.

Wiebe, H. Flood action Plan in Bangladesh. In “Assessment of flood control and
management Options”. http://www.dams.org

Weste, P. and Bron, J. Water management in flood control and drainage systems
in Bangladesh.

Hossain, M.Z. and Sakai, T. 2008. Severity of Flood Embankments in Bangladesh
and Its Remedial Approach. Agricultural Engineering International: the CIGR
Ejournal. Manuscript LW 08 004.Vol. X. May, 2008.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Phần 4: Kinh nghiệm châu thổ
sông Hồng
LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Con người đã sống ở Đồng bằng sông Hồng từ thời Đồ Đá Củ cách đây khoảng 25
ngàn năm. Canh tác lúa nước được phát triển vào thời Đồ Đá Mới trong nền văn
hóa Hòa Bình - Bắc Sơn, cách đây khoảng 9 ngàn năm. Ước vọng chế ngự lũ lụt ở
Đồng bằng sông Hồng của dân Lạc Việt được thi vị hóa qua huyền thoại Sơn Tinh
thắng Thủy Tinh. Hệ thống đê sông ở Châu thổ sông Hồng Việt nam đã có lịch sử
trên 2 ngàn năm.

Theo Giao Châu Ký của Trung Hoa, thì khoảng 3 thế kỷ trước công nguyên
ở Giao Châu đã có đê lớn “Ở huyện Phong Kh ê có đê bảo vệ nước lũ từ Long
Môn” (Sông Đà bây giờ). Theo Hán Thư thì “Miệt tây bắc Long Biên (tức Hà Nội)
có đê chống giữ nước lũ từ sông” (2).

Trong sách lịch sử Việt Nam, đê được nói đến đầu tiên là vào khoảng năm
521 dưới thời Lý Bí (tức Lý Bôn). Tuy nhiên, người có công và được nhắc nhở
nhất là Cao Biền, giữa thế kỷ thứ 9: “Sử chép rằng Cao Biền đào sông, khơi ngòi,
mở đường lộ, lập quán trọ cho khách đi đường trên khắp An Nam. Nhiều đoạn đê,
nhất là đoạn đê trên vùng gần Hà Nội hiện nay được đắp để chống lụt lội” (8).
Cao Biền ra lệnh dân thiết lập đê quanh thành Đại La với tổng số chiều dài 8,500
thước, cao 8 thước (2).

Đê Cơ Xá là con đê đầu tiên được vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây
dựng vào tháng 3 năm Mậu Tý (1108) để bảo vệ kinh thành Thăng Long khỏi
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


ngập lụt (18)). Nhà vua ra lệnh đắp đê trên sông Như Nguyệt (Sông Cầu bây giờ)
dài 30 km (2).

Dưới đời nhà Trần, những con đê được đắp chỉ cốt giữ cho nước lũ không
tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ lúa chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong
thì nước được tự do tràn vào đồng ruộng. Tháng 3 năm Mậu Thân (1248), vua
Trần Thái-Tông sai quan ở các lộ đắp đê ở hai bên bờ sông Hồng từ đầu nguồn tới
biển, gọi là Dỉnh Nhỉ Đê hay Đê Quai Vạc. Lại đặt quan để coi việc đê, gọi là Hà
Đê chánh phó sứ hai viên (5). Hể chỗ nào mà đê đắp vào ruộng của dân, thì nhà
nước cứ chiếu theo giá ruộng mà bồi thường cho chủ ruộng (18). Mỗi năm sau vụ
mùa, triều đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân
chúng. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép: “Tân Mão, Kiến Trung năm thứ 7
(1231): Mùa xuân, tháng giêng, sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) chỉ
huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào (là tên hai con kênh, thuộc
huyện Ngọc Sơn (nay là Tĩnh Gia), tỉnh Thanh Hóa) từ phủ Thanh Hóa đến địa
giới phía nam Diễn Châu”. Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền
chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang
thêm ruộng nương (5). Có thể nói rằng hệ thống đê sông Hồng được hoàn chỉnh
dưới thời vua Trần Thái Tông, cách nay hơn 750 năm.

Thiết lập đê biển được ghi trong lịch sử đầu tiên là vào cuối nhà Trần, Hồ
Quý Ly cải tổ lại điền địa “Khi trước những nhà tôn thất cứ sai đầy tớ ra chỗ đất
bồi ở ngoài bể, đắp đê để một vài năm cho hết nước mặn, rồi khai khẩn thành
ruộng. Nay ngoại trừ bậc đại vương, công chúa ra, thứ dân không được có hơn
10 mẩu” (18).

Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đặt ra quan “Hà Đê” để lo đê điều và
quan Khuyến Nông để phát triển nông nghiêp (18). Dưới triều Lê sơ (1428-1527)
những con đê lớn hơn được đắp mới, và tân tạo hệ thống đê cũ trên hai bờ sông
Nhị Hà bằng đá vửng chăc (2). Kết quả trái ngược là sông Hồng trở nên hung dữ
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


hơn, phá vỡ đê và gây ngập lụt triền miên trong thời nhà Nguyễn, nảy sinh nhiều ý
kiến đề nghị xem xét vấn đề bỏ hay giữ đê (28).

Giặc giã thường xuyên xảy ra trong thời Lê, Mạc, Trịnh Nguyễn phân
tranh, đê điều bị hư hại nhiều, mải tới thời Vua Gia Long (1802-1820), vua truyền
cho các quan ở các trấn phải “xoi đào sông ngòi và các cửa bể, và nhất là ở Bắc
Thành phải giữ gìn đê điều cho cẩn thận: chỗ nào không có thì đắp thêm, chỗ nào
hư hỏng thì phải sửa chửa lại” (18).

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) đã có công khẩn hoang vùng duyên hải
Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương. Ông đi kinh lý khắp bải bồi vùng duyên hải, tự
vẽ bản đồ, phân phát trâu bò, nông cụ cho dân để khẩn hoang. Chỉ trong 2 năm
(1828 - 1829), Ông lập ra 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình)
cùng hai tổng Hoàng Thu và Minh Nhất (ven bờ biển Thái Bình, Ninh Bình), khai
khẩn tổng cộng được 37,770 ha đất. Đây là vùng đất bồi, hàng năm tốc độ phù sa
bồi tụ tiến ra biển từ 80 - 100 m. Từ đó, cứ sau 20-30 năm, đê biển mới được xây
đắp lấn ra biển. Đến nay, 178 năm sau, Kim Sơn đã tiến hành quai đê lấn biển sáu
lần, tiến ra biển hơn 500 m, nhờ vậy diện tích hiện nay gấp gần 3 lần so với khi
mới thành lập (24, 31).

Ngoài ra, từ trước năm 1837, Nguyễn Công Trứ đã đề xuất giải pháp phân
lũ bằng cách khai đào đoạn khởi đầu sông Đuống (tức sông Thiên Đức thời bấy
giờ) nối với sông Hồng ở phía thượng lưu để chuyển nhận nước từ sông Hồng giải
tỏa áp lực lũ ở vùng Hà Nội. Nhưng phải sang thời Tự Đức ý tưởng đó mới được
thực hiện một phần và được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp thuộc. Từ đó, sông
Đuống trở thành đường thoát lũ quan trọng nhất của sông Hồng (28). Hệ thống đ ê
sông và đê biển được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp đô hộ và sau này.

Tính đến nay (2006), hệ thống đê sông Hồng khu vực quanh Hà Nội được
nâng cấp tương đối hoàn chỉnh, dài tổng cộng khoảng 60 km. Dự án này thực hiện
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


từ năm 1996, kết thúc năm 2002, nhờ nguồn vốn vay của ngân h àng ADB. Một số
đoạn đê khác đã có đường hành lang hai bên thân đê, mặt đê được cứng hóa bằng
nhựa hoặc bê tông (1, 28).

Dưới thời quân chủ, phá hủy hay làm hư hại đê là một trọng tội. Năm nào
có thiên tai, lũ lụt nặng, chính nhà vua lập đàn chay tạ tội, nhận trách nhiệm cùng
trời đất.

ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ NGUYÊN NHÂN LŨ LỤT

Đồng bằng Sông Hồng bắt đầu được thành lập vào thời Holocene, cách đây
khoảng 9 ngàn năm, khi mực nước biển, cao hơn hiện nay 2-3 m, bắt đầu hạ thấp.
Đồng bằng được phù sa sông Hồng bồi đắp nhờ rừng ngập mặn, và hàng năm lấn
dần ra biển Đông với vận tốc khoảng 22 m/năm. Cách đây khoảng 6 ngàn năm,
đồng bằng tiến ra biển chậm hơn, với vận tốc khoảng 4 m/năm (15). Hiện nay, phù
sa bồi đắp lấn biển trung bình 25 – 30 m, có nơi 120 m (17). Phù sa lắng đọng từ
thời Cenozoic có độ sâu tới 5,000 m, trong số đó ph ù sa thời Quaternary dày 250
m, và thời Holocene sâu 30-60 m (17). Bờ biển trong thềm lục địa co độ sâu 20 m.

Vùng đồng bằng sông Hồng (giữa vĩ độ 22°00' và 21°30' Bắc, kinh độ
105°30' và 107°00' Đông) có hình dáng tam giác điển hình của một vùng châu thổ,
với đáy là đường bờ biển dài 130 km, từ thành phố Hạ Long đến điểm cực nam
của tỉnh Ninh Bình. Đỉnh của tam giác này thay đổi theo thời gian cùng với sự mở
rộng của nó và hiện tượng mực nước biển rút xuống. Vào thời Văn Lang, cách đây
khoảng 4,000 năm, đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng ở gần thành phố Việt
Trì ngày nay. Đến thời kỳ Âu Lạc (thế kỷ 3 trước công nguyên), đỉnh của tam giác
đã lui xuống vùng Đông Anh (Hà Nội). Hiện nay, đỉnh của tam giác này ở Hưng
Yên. Nếu vẫn coi đỉnh tam giác là ở Việt Trì, thì diện tích tổng cộng của đồng
bằng sông Hồng khoảng 16,644 km² (27).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Dãy Hoàng Liên Sơn, cao 3,142 m, có vai trò như một trường thành ngăn
gió mùa đông và các luồng không khí từ biển Đông chứa nhiều hơi nước. Do đặc
điểm này khí hậu vùng Tây Bắc ấm hơn và khô hơn. Sườn phía đông đón gió nên
có lượng mưa lớn hơn với nhiều tâm mưa lớn như: Hoàng Liên Sơn với lượng
mưa/năm tới 3,552 mm, Sapa 2,833 mm, Yên Bái 2,106 mm. Ngược lại, ở phía tây
phần lớn có lượng mưa/năm ít hơn nhiều: Yên Châu 1,217 mm, Sơn La 1,444
mm, Cò Nòi 1,319 mm (11).

Trung bình hàng năm Đồng bằng sông Hồng nhận 4 trận bão tố từ biển
Đông gây nhiều mưa ở vùng núi cao và đồng bằng, từ tháng 5 đến tháng 10, tạo ra
lũ lụt, tháng 7 và 8 thường là lũ lớn. Vì vậy, nguồn nước sông Hồng khá dồi dào
nhưng phân bố không đều. Mùa lũ chiếm khoảng 70% lượng nước cả năm.

Địa hình thượng lưu các sông gồm các vùng đồi núi với độ dốc lớn nên
nước mưa đỗ nhanh chóng xuống vùng đồng bằng. Mỗi khi có mưa to, vùng đồng
bằng Sông Hồng nhận n ước lũ từ hai hệ thống Sông Hồng và Sông Thái Bình. Hệ
thống Sông Hồng bao gồm Sông Đà, Sông Hồng, Sông Thao nhập lưu tại Việt Trì,
và hệ thống Sông Thái Bình gồm các nhánh chính là Sông Cầu, Sông Thương,
sông Lục Nam nhập lưu tại Phả Lại.

Ngoài nguyên nhân chính là các trận mưa bão ở miền thượng lưu, nạn phá
rừng trầm trọng ở đầu nguồn (thảm rừng chiếm 95% năm 1943, chỉ còn 17% năm
1991), cũng như ở đồng bằng (từ 55% năm 1943 còn 29% năm 1991) (17); hệ
thống đê đập còn nhiều nhược điểm, hệ thống thoát lũ và thoát nước thải thành
phố yếu kém (16), và đô thị hóa nông thôn hiện nay làm trầm trọng lũ lụt ở Đồng
Bằng Sông Hồng.

Khu trung tâm của vùng ĐBSH rất bằng phẳng, phần lớn nằm ở độ cao từ
0,4 m đến 12 m trên mực nước biển, với 56% có độ cao thấp hơn 2 m. Tuy nhiên
cũng có những khu vực đất cao, gồm các đồi đá vôi, các đỉnh núi nhọn và những
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


dãy đồi núi dọc theo hai cánh tây-nam và đông-bắc của vùng. Phần lớn vùng đất
của đồng bằng sông Hồng được 2 loại đê bão vệ: khoảng 3,000 km đê ngăn lũ của
hệ thống sông, và 1,500 km đê biển ngăn sóng lớn của các cơn bão ở vịnh Bắc
Việt (27). Tuy nhiên, đa số các trung tâm đông dân cư đều nằm dưới mực nuớc lũ
Sông Hồng. Vì vậy khi mưa quá to và nước lũ phá vỡ đê làm nhiều nguời thiệt
mạng (16).

Đồng bằng sông Hồng nằm trong 8 tỉnh hay thành phố. Mật độ dân cư ở
đồng bằng châu thổ sông Hồng cao nhất Việt Nam (1,179 người/km²). Tổng dân
số của vùng là 17,649,700 người (2003) (27).

Đồng bằng châu thổ sông Hồng do phù sa của 2 sông chính bồi đắp là sông
Hồng và sông Thái Bình.




SÔNG HỒNG

Sông Hồng có tổng chiều dài là 1,149 km bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Việt
Nam và đổ ra biển Đông. Đoạn chảy trên đất Việt Nam dài 510 km (29). Hệ thống
Sông Hồng gồm khoảng 500 phụ l ưu và suối chảy vào. Diện tích toàn bộ lưu vực
sông Hồng là 143,600 km2, phần của Việt Nam có 40%.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Hình 1 – Sơ đồ vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và hạ lưu sông Thái Bình (3)

Sông Hồng bắt nguồn từ dãy núi Ngụy Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở
độ cao 1,776 m. Đến biên giới Việt - Trung, sông Hồng chạy dọc theo biên giới
khoảng 80 km; đoạn thì sang bên lãnh thổ Việt Nam, đoạn thì sang bên lãnh thổ
Trung Quốc. Điểm tiếp xúc đầu tiên của sông Hồng với lãnh thổ Việt Nam tại xã
A Mú Sung (huyện Bát Sát), chính giữa sông l à điểm phân chia lãnh thổ hai nước.
40% nước sông Hồng do từ lảnh thổ Trung quốc chảy tới (17). Đến th ành phố Lào
Cai, sông Hồng chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam qua Hà Nội trước khi đổ ra biển
Đông ở cửa Ba Lạt.

Ở Lào Cai sông Hồng cao hơn mực nước biển 73 m. Đến Yên Bái, cách
Lào Cai 145 km, thì sông chỉ còn ở cao độ 55 m. Giữa hai thị trấn đó là 26 ghềnh
thác, nước chảy xiết. Đến Việt Trì thì triền dốc sông không còn mấy nên lưu lượng
chậm hẳn lại. Đồng bằng sông Hồng nằm ở hạ lưu con sông này (29). Các sông
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


nhánh chính của sông Hồng là sông Đà, sông Lô (với phụ lưu là sông Chảy và
sông Gầm).

Lưu lượng sông Hồng biến đổi tùy theo năm có vũ lượng ít hay nhiều, từ
93.1 tỷ (năm 1963, năm ít mưa nhất)) đến 159 tỷ m3 nước (năm 1971, năm mưa
nhất gây lụt 1971) (17). Lưu lượng nước bình quân hàng năm 2,640 m³/s (tại cửa
sông), tuy nhiên lưu lượng nước phân bố không đều. Về mùa khô lưu lượng giảm
chỉ còn khoảng 700 m³/s, nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30,000 m³/s.
(29). Mực nước lũ cao nhất là 14.13 m tại Hà Nội, nhưng vào mùa khô, mức thấp
nhất là 1.5 m tại Hà nội (13). Nước sông hạ thấp trung bình 9 cm/giờ khi lũ rút
(22). Lưọng phù sa trung bình khoảng 80 triệu m3, tương đương với 130 triệu tấn
(19). Năm 1971, năm lũ lớn của thế kỷ, có lượng phù sa tới 202 triệu tấn (17).
Trong mùa lũ, mỗi mét khối nước chứa khoảng 1.5 kg phù sa làm nước sông có
màu đỏ hồng (29). Vì nạn phá rừng và đất bị xoi mòn ở thượng nguồn, lượng phù
sa có khuynh hướng gia tăng. Chẳng hạn, tại trạm Yên Bái trong thời kỳ từ 1961-
1970, lượng phù sa là 1,780 g/m3 đã tăng lên 1,820 g/m3 trong thời kỳ 1981-1993.
Tương tự tại trạm Bảo Yến lượng phù sa đã tăng từ 997 g/m3 trong thời kỳ 1983-
1989 đến 1,250 g/m3 vào 1990-1993 (11). Chỉ 5% số phù sa (khoảng 26 triệu tấn)
lắng đọng suốt chiều dài dòng chảy làm lòng sông cạn dần, còn bao nhiêu (khoảng
trên 100 triệu tấn) đều được đưa ra vịnh Bắc Việt bồi đắp dọc biển làm cho đồng
bằng châu thổ sông Hồng lấn biển mỗi năm có nơi thêm 100 m (19). Để phòng lũ
lụt, ngưòi Việt đã đắp đê ngăn nước tràn vào làng mạc ruộng đồng. Chỉ riêng sông
Hồng, chiều dài đê tổng cộng là 1,660 km (19).

Trong 3 nhánh của sông Hồng, sông Đà và sông Thao có lưu vực xấp xỉ
như nhau (sông Đà: 52,900 km2, sông Thao: 51,900 km2), và dòng chảy lũ sông
Đà đóng góp trung bình tới trên 50% lượng lũ sông Hồng tại hạ lưu (Sơn Tây).
Trên 70% trường hợp lũ lớn xảy ra ở hạ lưu sông Hồng trùng hợp với tâm mưa lớn
nằm trên lưu vực sông Đà (11).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Hệ thống sông Hồng đổ ra Vịnh Bắc Việt qua 10 cửa sông. Các cửa chính
gồm: (i) Cửa Ba Lạt là cửa chính ở bờ biển giáp ranh Nam Định và Thái Bình; (ii)
Cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) ở tỉnh Nam Định; (iii) Cửa Đáy (sông Đáy) ở
tỉnh Ninh Bình; (iv) Cửa Lân ở Tiền Hải (Thái Bình); Cửa Trà Lý (sông Trà Lý) ở
tỉnh Thái Bình; (v) Cửa Diêm Điền (Thái Bình); (vi) Cửa Hà Lận ở tỉnh Nam Định
(27).

SÔNG THÁI BÌNH

Hệ thống sông Thái Bình gồm sông Thái Bình cùng các phụ lưu và chi lưu. Các
phụ lưu gồm sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam ở thượng nguồn, với tổng
chiều dài khoảng 1,650 km và diện tích lưu vực khoảng 10,000 km². Ngoài ra, hệ
thống sông này còn nhận một phần dòng chảy của sông Hồng, để đổ ra biển Đông
(30).

Sông Thái Bình, dài 93 km, khởi sự từ khúc Lục Đầu ở Phả Lại. Gọi là Lục
Đầu vì đây là chỗ tập trung của 6 con sông: 4 sông chảy vào là sông Cầu (dài 290
km), sông Thương (dài 80 km), sông Lục Nam (dài 200 km), sông Đuống (dài 65
km, nối với sông Hồng ở Phả Lại), và 2 sông chảy ra là sông Kinh Thầy (hay sông
Cấm, dài 30 km) và sông Bình Than.

Hệ thống sông Thái Bình nối với sông Hồng bởi sông Đuống ở thượng lưu,
và sông Luộc ở hạ lưu. Nhờ hệ thống sông nối này giúp phân nước lũ của sông
Hồng làm giảm bớt lụt lội ở hạ lưu đồng bằng sông Hồng.

Do phần lớn lưu vực của hệ thống sông Thái Bình bắt nguồn từ các vùng
đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị xói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm
lượng phù sa cao. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy cạn nên sông Thái Bình
là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất. Lưu lượng nước hàng năm đạt
khoảng 53 tỷ m³ (30).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Hệ thống sông Thái Bình ra biển Đông với các cửa: (i) Cửa Thái Bình của
sông Thái Bình, nằm giữa hai tỉnh Thái Bình và Hải Phòng; (ii) Cửa Văn Úc, trên
sông Văn Úc (dài 38 km) Hải Phòng; (iii) Cửa Lạch Tray, trên sông Lạch Tray
(dài 43 km), Hải Phòng; (iv) Cửa Cấm, trên sông Cấm (dài 37 km), Hải Phòng; (v)
Cửa Nam Triệu, trên sông Bạch Đằng (dài 42 km), nằm giữa hai tỉnh Quảng Ninh
và Hải Phòng; (vi) Cửa sông Chanh, Quảng Ninh (27).

Ở Vịnh Bắc Việt, trung bình cứ 20 km đường bờ biển thì có một cửa sông
lớn. Lượng cát bùn lớn vào mùa lũ, chiếm tới 75- 85 % lượng dòng chảy cả năm
tạo các bải bồi và lấn biển.

HỆ THỐNG CHỐNG LŨ LỤT

Ở Đồng Bằng Sông Hồng, hệ thống chống lũ lụt gồm (i) thiết lập đ ê sông, đê biển,
(ii) hồ chứa nước ở thượng nguồn, (iii) hệ thống phân lũ thoát nước, (iv) thiết lập
các vùng chặn lũ xung quanh Việt Trì và Phả Lại, và (v) hệ thống báo động.

Hệ thống đê sông: Hiện tại, tổng số chiều dài hệ thống đê sông trong vùng đồng
bằng Sông Hồng là 3,000 km, gồm 2,417 km đê thuộc Bắc Bộ, và 420 km ở các
sông vùng Thanh - Nghệ. Hệ thống sông Hồng có 1,667 km đê, và 750 km đê
thuộc hệ thống sông Thái Bình. Hệ thống đê sông Hồng có quy mô lớn và hoàn
thiện hơn so với các hệ thống đê còn lại. Các đê sông thường có độ cao không quá
10 m (3). Chiều cao trung bình của đê sông từ 6-8 m, có nơi lên đến 11 m. Tuy
nhiên hệ thống đê được xây dựng đã lâu đời trên nền đất yếu, đất đấp đê cũng lấy
từ địa phương và không đồng nhất, nhiều nơi bị hư hại vì thiếu bảo quản. Nhiều kè
cống rất củ kỳ. Dọc theo đê còn có nhiều ao hồ làm nước lũ khó thoát. Dân cư quá
đông đúc sống kế cận bờ đê. Ngày nay, nhiều nhà cửa xây cất ngay trên bờ đê. Vì
vậy đê có thể bị vỡ bất cứ lúc nào trong mùa lũ lớn.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Hình 2 Các đê sông trong vùng đồng bằng sông Hồng




Hệ thống đê ở đồng bằng sông Hồng và Thái Bình (3)
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Tùy theo tầm quan trọng kinh tế và số dân cư của địa phương, dựa vào đợt lũ lớn
nhất thế kỷ năm 1971, 5 cấp đê được thiết kế. Chẳng hạn, ở vùng Hà Nội đê thiết
kế từ cấp I đến cấp III, với mức nước an toàn thiết kế 0.8%, hay mức nước lũ 125
năm lặp lại một lần. Tại các khu vực khác trong vùng đồng bằng sông Hồng (nơi
cấp đê thay đổi từ cấp I đến cấp III) cũng áp dụng cùng một mực nước thiết kế
nhưng độ cao an toàn không thấp hơn, do đó an toàn thiết kế là 1%, tương đương
với mực nước lũ tần suất 100 năm. Cấp đê IV là cấp bảo vệ chống mực nước lũ
tần suất 20 năm (3). Tiêu chuẩn phòng lũ đối với hệ thống đê Hà Nội là bảo đảm
chống được lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13.4 m,
và thoát được lưu lượng tối thiểu là 20,000 m3/giây.

Phòng tuyến đê lũ Hà Nội.

Từ ngàn xưa, bảo vệ thủ đô Đại La/Thăng Long/Hà Nội là ưu tiên của nhà vua qua
các thời đại. Hàng loạt đê cao, có nơi cao 15 m, được đắp từ hàng thế kỹ trước.
Ngày nay, có nhiều nơi lòng sông cao hơn mặt đất đồng ruộng, làng mạc.

Hà nội bằng phẳng có độ cao trung bình 7-8 m trên mực nước biển, nơi
thấp nhất có độ cao 5 m. Diện tích tổng cộng là 270 km2, dân số khoảng 2 triệu,
nếu tính cả ngoại ô là 3 triệu (13).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Đê sông Hồng




Trong thời nhà Nguyễn, người Hoa ở vùng Hà Nội xin phép nhà vua để họ
đắp kè lấp đá cho một số đê dọc sông Hồng nơi họ cư trú.

Năm 1885 mưa bão lớn làm sụt lở bờ sông sát Đồn Thuỷ. Người Pháp đổ
kè đá ở bên ngoài bờ sông Hồng chỗ Hàng Than dài 400 m để hướng dòng chảy
về phía Gia Lâm (19).

Trận lụt năm 1926, Hà nội bị ngập lụt nặng, vì lúc đó chưa có đoạn đê dọc
đường Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải ngày nay (4). Người Pháp đắp đê này
đồng thời củng cố cả hệ thống đê Hà Nội, có nơi cao 14 m.

Sau biến cố vỡ đê năm 1971, nhiều biện pháp mới được ban hành, ngoài
việc tăng cường hệ thống đê, còn lập hồ chứa nước và phân lũ. Khi mực nước
sông Hồng tại Hà Nội đến mức báo động 13.4 m, thì dòng nước sông Hồng ở đầu
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


nguồn được xả vào Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nam và Nam Định. Việc
tháo nước phân lũ vào sông Đáy do Thủ Tướng quyết định vì có ảnh hưởng đến
khoảng 675,000 dân chúng, và chính phủ bồi thường thiệt hại.

Ngày nay, hệ thống đê dọc sông Hồng bảo vệ Hà Nội dài 61 km được nâng
cấp tương đối hoàn chỉnh. Dự án này thực hiện từ năm 1996, kết thúc năm 2002,
nhờ nguồn vốn vay của ngân hàng ADB. Một số đoạn đê khác đã có đường hành
lang hai bên thân đê, mặt đê được cứng hóa bằng nhựa hoặc bê tông (1, 28). Ngoài
ra, Hà Nội có hơn 40 hồ lớn và sâu, chưa kể ao, có khả năng giảm lũ khi có mưa
lớn.

Hệ thống đê biển:

Bờ biển Vịnh Bắc Việt cấu tạo bởi đá và phù sa. Do ảnh hưởng của biến động thời
tiết trên toàn thế giới vì dòng nước El Nino và La Nina, những trận bão biển xảy ra
càng khốc liệt hơn. Mùa bão thường kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10, và trung
bình hàng năm có 4 cơn bão. Những cơn bão này thường xuất phát từ Phi Luật
Tân, Biển Đông và Tây Thái Bình Dương rồi 3-4 ngày sau sang đến vịnh Bắc Việt
tạo những sóng cao, gây lụt lội vùng duyên hải. Hệ thống đê biển được thiết lập từ
lâu đời và được xây đắp ngày càng vững chắc. Chiều dài tổng cộng đê biển và cửa
sông khoảng hơn 1,500 km. Hiện nay, đê biển còn thấp (cao khoảng 5 m), nhiếu
nơi còn bằng đất, có nơi bằng bê tông, và chỉ chịu được các cơn bão nhỏ. Ngày
nay, với kỹ thuật trồng rừng ngập mặn ngoài bờ đê, và cỏ Vetiver hai bên bờ đê có
thể cản được sự phá hủy đê do sóng bão.

Trong thời gian 1958-1995, tổng số diện tích đất bồi đầm lầy vùng duyên
hải Vịnh Bắc Việt được biến cải thành đồng ruộng nhờ hệ thống đê biển là 24,000
ha (17).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Hệ thống đê biển bằng bê tông với trồng cỏ Vetiver (9)

Hồ chứa nước




Ngoài hệ thống đê, còn có các đập thủy điện và hồ chứa nước lớn ở vùng thượng
lưu để giảm thiểu lũ lụt ở vùng đồng bằng.

Hiện tại đã có 3 hồ chứa và 1 đang xây dựng, đóng vai trò quan trọng trong
phòng chống lũ nhờ giữ cho mực nước ở mức thấp trên sông trong mùa lũ (3):
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


1. Hồ Thác Bà trên sông Chảy để làm thủy điện, đưa vào vận hành từ năm 1972,
có dung tích chứa lũ là 460 triệu m3, điều tiết khoảng 6 % lưu lượng nước sông
Hồng tại Sơn Tây.

2. Hồ Hoà Bình trên sông Đà, diện tích 208 km2, đưa vào vận hành từ năm 1988,
có dung tích chứa lũ 5,720 triệu m3, và điều tiết khoảng 48% lưu lượng xả tại Sơn
Tây. Đập Hoà Bình được ước tính có thể giảm đĩnh lũ năm 1971 tại Hà Nội chừng
1.5 m (3).

3. Hồ Đại Thị trên sông Gầm tỉnh Tuyên Quang vận hành vào năm 2007, với dun g
tích chứa lũ là 1,600 triệu m3, điều tiết 9 % lưu lượng tại Sơn Tây.

4. Ngoài ra, hồ Sơn La trên sông Đà tại tỉnh Sơn La, thượng nguồn hồ Hoà Bình
và cách hồ Hoà Bình khoảng 187 km, sẽ được đưa vào vận hành năm 2015, với
dung tích chứa lũ là 4,500 triệu m3 và điều tiết 46% lưu lượng xả tại Sơn Tây.

Với 4 hồ chứa khi đưa vào vận hành, tổng dung tích chứa lũ sẽ tăng lên,
làm cho mức an toàn trong vùng đồng bằng tăng đáng kể. Tổng dung tích chứa lũ
sông Đà khi vận hành hồ Sơn La được xác định ở mức 7 tỷ m3 và được chia giữa
hồ Sơn La và hồ Hoà Bình (6).

Tất cả các hồ chứa nói trên đều là hồ đa mục đích (thủy điện, thủy nông).
Tuy nhiên, nếu các đập này giữ nước lũ ở mức độ cao trong nhiều ngày có thể đe
dọa độ an toàn của đê đập. Hai đập Sơn La và Hoà Bình ở thượng lưu Sông Đà là
một vùng có động đất thường xuyên và mạnh nhất nước. Nếu có chấn động mạnh
sẽ gây vỡ đập dây chuyền, dẫn tới thảm hoạ khủng khiếp cho H à Nội và các trung
tâm dân cư vùng đồng bằng Sông Hồng. Vì vậy, mực nước hồ chứa phải duy tr ì
thấp vào mùa lũ (từ tháng 6 đến giữa tháng 9), như vậy có ảnh hưởng đến phát
điện và việc cấp nước tưới vào mùa khô. Vào mùa khô hạn, ưu tiên giữ nước để
phát điện, nên đồng ruộng thường thiếu nước.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Một yếu điểm của việc thiết lập hồ chứa nước là số lượng phù sa lắng đọng nhiều
trong hồ, giảm số lượng phù sa lưu chuyển trên sông, giảm lắng tụ ngoài bờ biển,
đôi nơi vì thiếu phù sa bồi đắp bờ biền bị xói mòn vì sóng biển khi rừng ngặp mặn
bị phá hủy. Trước khi có Đập Hòa Bình, 113 triệu tấn phù sa/năm đựơc bồi đắp
vùng biển Đồ Sơn. Nhưng từ khi có Hồ Hòa Bình, 48 triệu tấn phù sa/năm đã lắng
tụ trong hồ, số lượng phù sa chảy qua Sơn Tây giảm từ 119 triệu tấn/năm trước khi
có hồ, xuống 79.4 triệu tấn/năm sau khi có hồ, và chỉ còn tổng cộng 70 triệu tấn
chuyển ra biển vùng Đồ Sơn (30). Tại cửa biển Ba Lạt (cửa chánh của sông
Hồng), trong thời gian 1965-1990 (trước khi có Hồ Hòa Bình), phù sa lấn biển
trung bình 88.8 m/năm, nhưng trong thời gian 1990-1998 (sau khi có hồ Hòa
Bình), phù sa chỉ lấn biển 58.7 m/năm (17).

Phân lũ

Ngay từ thời vua Minh Mạng, Nguyễn Công Trứ đã đề nghị giải tỏa áp lực lũ sông
Hồng bằng cách khai đào đoạn khởi đầu sông Đuống, chuyển cửa nhận n ước từ
sông Hồng. Nhưng phải sang thời Tự Đức ý tưởng đó mới được thực hiện một
phần và được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp thuộc.

Sông Hồng có phân lưu phía tả ngạn là sông Đuống chảy từ Hà Nội đến
Phả Lại (thuộc Hải Dương) và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến Quý Cao (huyện
Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Hai sông này nối sông Hồng với hệ thống sông
Thái Bình.

Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang hay Ninh
Cơ), nối sông Hồng và sông Đáy là hai sông Phủ Lý và sông Nam Định. Vùng
chậm lũ Vân Cốc nằm ở thượng nguồn đập Đáy. Nếu khi nước sông Hồng sắp tràn
bờ thấp ở cống Vân Cốc; và nếu tiếp tục tăng cao thì có thể mở đập Đáy cho nước
tràn vào sông Đáy. Sông Đáy có thể rút lấy nước lũ sông Hồng với 5,000 m3/giây
(6).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Ngoài ra, thông qua sông Tích, nước từ sông Đà có thể được dẫn trực tiếp
vào sông Đáy.

Tạo các vùng phân chậm lũ

Trong trường hợp mực nước sông Hồng tại Hà Nội tiếp tục vượt quá mức báo
động 13.4 m thì tháo cống đê, hoặc cho nổ mìn đê sông Hồng để cho nước chảy
vào một số vùng thấp gần Việt Trì, như Tam Thanh ở tỉnh Phú Thọ, Lập Thạch ở
tỉnh Vĩnh Phúc, Lương Phú và Quảng Oai ở huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây, và dọc theo
sông Đáy, như Chương Mỹ, Mỹ Đức, hoặc gần Phả Lại thuộc tỉnh Thái Bình.
Tổng dung tích chứa lũ của các vùng này ước tính vào khoảng 3 tỷ m3 (3, 6).

TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ DỰ BÁO LŨ

Từ thời xa xưa, quản lý đê điều do Hà Đê Chánh Sứ (tương tự chức Bộ Trưởng
bây giờ) của triều đình do vua bổ nhiệm. Cấp thừa hành thấp nhất là làng xả, có
nhiệm vụ bảo trì, báo cáo lên cấp trên, những vấn đề thuộc đê điều trong phạm vi
làng xả của mình. Ngày nay, quản lý bậc cao nhất là Thủ Tướng, các vị bộ trưởng
liên hệ (Nông nghiệp, Giao Thông, v.v.) ở cấp quốc gia, tới cấp tỉnh (hay th ành
phố), huyện và làng xả. Mỗi xã đều có một đội quản lý đê xuống đến tận
thôn/xóm. Các đội quản lý đê này được các kỹ sư thuỷ lợi huyện tư vấn và hỗ trợ
về mặt kỹ thuật (3).

Để dự đoán bão lụt, một mạng lưới các trạm đo khí tượng và thuỷ văn theo
thời gian thực được sử dụng, cùng với các thông tin từ vệ tinh và dự báo thời tiết
để đưa vào các mô hình thuỷ văn và thủy lực, từ đó dự báo lưu lượng và mực nước
trong vùng đồng bằng sông Hồng. Hệ thống này có thể dự báo trước 1 ngày cho hồ
Hoà Bình, và khoảng 2 ngày cho Hà Nội để tiến hành những biện pháp thích hợp
(3).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Các biện pháp phòng chống lũ được tiến hành khi mực nước ở cầu Long
Biên (Hà Nội) ở mức báo động. Việc điều tiết lũ ở lưu vực sông Hồng được tiến
hành theo các giai đoạn sau:

1. Phòng lũ bằng cách vận hành hồ Hoà Bình và Thác Bà,

2. Khi mực nước tại Hà Nội vượt quá 12.7 m, phân lũ qua Vân Cốc,

3. Khi mực nước tại Hà Nội đạt 13.40 m, phân lũ vào sông Đáy qua đập Đáy,

4. Khi dự báo thấy nước lũ còn tiếp tục tăng và đã phân lũ sông Đáy thì mở các
vùng phân chậm lũ khác bằng cách cho nổ mìn phá đê hoặc vận hành đập tràn cứu
hộ vào các vùng chặn lũ xung quanh Việt Trì và Phả Lại.

NHỮNG TRẬN VỠ ĐÊ TRONG LỊCH SỬ:

Trong thời Nhà Nguyễn, cứ vài ba năm là có một trận lũ lớn phá đê. Vì vậy, vua
Tự Đức đã triệu tập triều đình để hội ý là nên giữ đê hay phá đê, và nếu giữ đê thì
tìm biện pháp nào để trị lũ lụt. Những trận lụt lớn có ghi trong sử là: 1078, 1121,
1236, 1238, 1243, 1270, 1445, 1467, 1491, 1506, 1630, 1713, 1728, 1806, 1809,
1821, 1827, 1844, 1893 (13). Kể từ đầu thế kỷ 20 tới nay, đồng bằng sông Hồng
đã có 26 trận lũ lớn. Các trận lũ lớn này đa số xảy ra vào tháng 8, nhằm vào cao
điểm của mùa mưa bão (28).

Năm 1913, ngày 9 tháng 8, mực nước tại Hà Nội đạt 11.35 m làm vỡ đê
sông Hồng ở đoạn đê thuộc tỉnh Vĩnh Phúc trên 2 đoạn phía tả ngạn tại Nhật
Chiên, Cẩm Viên và Hải Bối, Yên Hoa thuộc Phúc Yên; vỡ đê Phu Chu thuộc tỉnh
Thái Bình. Ngày 14 tháng 8, khi lũ Hà Nội xuống mức 10.69 m vẫn vỡ đê Lương
Cổ, tả ngạn sông Đáy thuộc tỉnh H à Nam. Ngày 17 tháng 8, vỡ đê Phương Độ,
Sơn Tây phía hữu ngạn sông Hồng khi mực nước Hà Nội là 11.11m. Ngày 18
tháng 8, vỡ đê Nghĩa Lộ phía hữu ngạn thuộc tỉnh Hà Nam, khi mực nước Hà Nội
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


11.03 m. Ngày 19 tháng 8, vỡ đê Quang Thừa, Lỗ Xá sông Đáy phía hữu ngạn
thuộc tỉnh Hà Nam, khi mực nước Hà Nội 10.99 m. Nước lũ làm ngập gần hết tỉnh
Vĩnh Phúc (cũ), một phần Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình và Bắc Ninh
(28).

Năm 1915, từ ngày 11 đến 20 tháng 8: Đê bị vỡ liên tiếp 42 chỗ với tổng
chiều dài 4,180 m (từ 11 - 20/7/1915 khi mực nước Hà Nội dao động từ 11.55 –
11.64 m). Những nơi vỡ chính như: Xâm Dương, Xâm Thị đê hữu sông Hồng
thuộc tỉnh Hà Đông. Các chỗ vỡ khác như Lục Cảnh, Hoàng Xá, Trung Hà tỉnh
Phúc Yên; Phi Liệt, Thuỷ Mạo tỉnh Bắc Ninh. Đê tả sông Hồng, vỡ ở: Mễ Chân
tỉnh Hưng Yên; Gia Quất, Gia Thượng, Phú Tòng, Yên Viên, Đông Thụ, Danh
Nam tỉnh Bắc Ninh và một số chỗ khác trên sông Phó Đáy, Đuống và sông Đáy
(28).

Năm 1926, ngày 29 tháng 7, khi mực nước Hà Nội lên tới 11.93 m thì vỡ
đê tả ngạn sông Hồng vùng Gia Quất, Ái Mộ, Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh; vỡ đê hữu
ngạn sông Luộc tại Hạ Lao, Văn Quán tỉnh Thái Bình; vỡ đê tả ngạn sông Luộc tại
Bô Dương, tỉnh Hải Dương. Tổng diện tích đất canh tác bị ngập lụt do vỡ đ ê
khoảng 100,000 ha (28). Hà nội lúc này chưa đắp đê cao như hiện nay nên lũ sông
Hồng uy hiếp trực tiếp Thành phố Hà Nội. Kể từ đây đê được nâng cao lên 14 m.
Nhiều tuyến đê được nắn lại, hai sườn đê được đắp không đối xứng đảm bảo
chống chịu nước lũ tốt hơn (19).

Năm 1945. Một trận lũ lớn vào tháng 8 năm 1945 gây vỡ đê tại 79 điểm,
gây ngập 11 tỉnh với tổng diện tích 312,000 ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4
triệu người (28)

Năm 1971, ảnh hưởng những trận mưa to liên tục và một cơn bão lớn, nước
trên sông Thao, sông Lô và sông Đà đã hợp lại gây nên cơn lũ lịch sử của đồng
bằng sông Hồng. Mực nước sông Hồng ngày 20 tháng 8 lên đến 14.13 m ở Hà Nội
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


(cao hơn mực nước báo động cấp III đến 2.63 m). Mực nước Sông Hồng đo được
18.17 m ở Việt Trì (cao hơn 2.32 m mức báo động cấp III) và 16.29 m ở Sơn Tây
(1.89 m cao hơn mức báo động cấp III). Đồng thời mực nước ở các Sông Cầu,
Sông Lô, Sông Thái Bình lên cao hơn bao giờ hết. Mưa lũ năm 1971 đã gây vỡ đê
ở ba địa điểm, làm chết 100,000 nguời, úng ngập 250,000 ha và hơn 2,7 triệu
người bị thiệt hại (28).

Năm 1996. Ngày 24 tháng 7 năm 1996 bão Frankie với gió 100 km/giờ gây
lụt lội hơn 177,000 ha bị úng ngập, mưa bão làm 100 người bị thiệt mạng, và
194,000 căn nhà bị hư hại. Không có tường trình vở đê (16).

Năm 2008. Trận mưa lớn nhất trong 35 năm đổ xuống ngày 31/10 và
1/11/2008 với hơn 600 mm biến Hà Nội và nhiều vùng khác trong đồng bằng
Sông Hồng thành biển nước. Thành phố Hà Nội có hệ thống thoát nước chỉ chịu
đựng được lượng mưa tối đa 86 mm mới không bị ngập lụt.

Mực nước lúc 16 giờ ngày 4/11/2008 trên sông Thao tại Yên Bái là 31.94
m (dưới mức báo động III là 0.06m); trên sông Lô tại Tuyên Quang là 25.77 m
(dưới báo động III là 0.23 m); trên sông Cầu tại Đáp Cầu là 5.93 m, (trên báo động
III là 0.13 m); hạ lưu sông Hồng tại Hà Nội là 9.1 m (dưới báo động I là 0.4 m);
sông Thái Bình tại Phả Lại là 4.76 m (trên báo động II là 0.26 m); sông Thương tại
Phủ Lạng Thương là 5.34 m (dưới báo động III là 0.46 m). Tại Hà Đông, chiều
4/11, nước sông Nhuệ tràn qua mặt đê, mực nước lên tới 6.17 m. Hàng loạt các hồ
chứa nước của Hà Nội và một số tỉnh lân cận bị quá tải. Tại Hồ Miễu, hồ Đồng
Đò, hồ Kèo Cà, hồ Bàn Tiện, hồ Đền Sóc (huyện Chương Mỹ), mực nước lên cao
vào chiều tối và tràn bờ. Nhiều hồ khác lên mức tràn xả lũ là hồ Cầu Bãi, hồ Đồng
Đò, hồ Đồng Quan, hồ Cầu Dọc.

Tuyến đê sông Hồng có 13 vị trí hư hỏng tại các huyện Mê Linh, Đan Phượng, Từ
Liêm, Đông Anh, Long Biên, Sóc Sơn. Tuyến đê tả Bùi, tả Tích đã tràn hầu hết
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


tuyến. Tuyến sông Nhuệ và Duy Tiên (Hà Nam) có tổng cộng 6,000 m đê bị tràn.
Điểm Châu Can, Bạch Hạ, Đại Xuyên bị sụt. Tại Ninh Bình đê trên sông Hoàng
Long bị vỡ, hàng ngàn nhà ở Nho Quan bị ngập lụt (22).

Tổng số người chết ở Miền Bắc là 92, riêng Hà Nội 22 người, thiệt hại kinh tế lên
đến gần 5,000 tỷ đồng. Mưa lũ kéo dài cũng khiến cho khoảng 169 km đê nội
đồng kênh mương hư hỏng; hơn 266,000 ha diện tích hoa màu và thủy sản bị ngập
úng; hàng trăm nghìn nhà cửa bị sập đổ và hư hại (21).

TẠI SAO HÀ NỘI BỊ LỤT?

Trận lũ tháng 11/2008 tại Hà Nội và đồng bằng sông Hồng không lớn lắm.
Mặc dầu mưa to gió lớn liên tục trong ba ngày, mực nước sông tại Hà Nội vẫn
dưới mức báo động, hệ thống đê sông Hồng và Thái Bình vẫn vửng chắc, không bị
phá vở nhiều nơi như trận lụt năm 1971. Các hồ chứa và biện pháp phân lũ cũng
như hệ thống đê chứng tỏ có hiệu quả. Tuy nhiên, Hà Nội và nhiều thành phố lớn
khác ngập trong biển nước trong nhiều ngày. Lý do của việc thất bại bảo vệ thủ đô
Hà Nội là do:

Xây cất nhà cửa, chiếm cứ đất đai trên mặt đê làm đê
(i)
yếu, rạn nức khoảng 40 địa điểm (25).

Đường sá phát triển và nhà cửa xây cất vô trật tự cản
(ii)
trở thoát nước.

Các hồ trong thành phố cạn, thiếu nạo vét, hệ thống
(iii)
phân lưu quá tải và tắt nghẻn, nhiều kinh mương và hồ bị lấp nên
thiếu đường thoát nước

Hệ thống tháo nước của thành phố quá yếu kém, chỉ cần
(iv)
một trận 100 mm là có nhiều vùng bị ngập, nếu mưa 200 mm là
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


nguyên thành phố bị ngập. Tổng số nước mưa tại Hà Nôi trong
ngày 31/10 và 1/11 hơn 600 mm, dĩ nhiên ngập lụt xảy ra do
mưa, chứ không phải do vỡ đê. Hơn 90% máy bơm không chạy
được trong thời gian có lụt (7).

Trên phạm vi của đồng bằng sông Hồng, quá trình đô thị hóa, chiếm hửu đất mặt
đê để xây nhà cửa, và mất đất nông nghiệp làm hệ thống phân lủ và thoát nước yếu
kém.

CÁC TRANH LUẬN




Nên hay không nên thiết lập đê sông ngăn ngừa lũ lụt vẫn là một đề tài tranh luận
ở mọi nơi và mọi thời đại.




Việc chống đối thiết lập đê dựa vào các lý do sau:

Phù sa không vào đồng ruộng, mà lắng đọng trong lòng sông, bờ đê,
-
sông trở nên cạn và hung dử, xoi mòn bờ và phá đê khi có lũ lớn. Đáy sông
ngày càng cạn, tạo các cồn và bải bồi ở cửa sông, làm khả năng thoát lũ
càng chậm.

Các vùng trủng (ở Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định...) vẫn tồn tại sau
-
hàng ngàn năm, vì không được phù sa bồi đắp.

Đê phải nâng ngày càng cao và to hơn, hể củng cố nơi này thì nạn đê vỡ
-
xảy ra nơi khác, lũ lụt vẫn xảy ra.

Nguồn lợi cá và thủy sản khác trên đồng ruộng và sông bị giảm.
-
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Con người đã có kinh nghiệm sống chung với lũ lụt. Tìm biện pháp sống
-
chung hơn là trị lụt bằng đê điều.

Môi sinh bị phá hủy
-




Người xưa không phải không biết chuyện này, và đã từng có những cuộc bàn luận
trong triều đình.

Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), Tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Đăng Giai đã có
bản tấu phản đối việc đắp đê vì tốn nhiều công sức mà vẫn không chống được lũ
lụt, ông đề nghị phá bỏ đê, mà nên khơi thông sông.

Mười sáu năm sau, vào ngày 5 tháng 10 năm Tự Đức thứ 6 (1861), Khoa
đạo Ngự sử Vũ Văn Bính lại dâng bản điều trần nói về cái hại của việc giữ đ ê và
cái lợi của việc bỏ đê. Bản điều trần này lặp lại ý kiến của Tổng đốc Nguyễn Đăng
Giai năm 1846. Nguyễn Trường Tộ (1830–1871) cũng chủ trương phá đê, mà phải
khai thông sông và đào kinh.

Vua Tự Đức triệu tập một hội nghị lớn thẩm nghị bản điều trần này và tất
cả đều cho rằng không nên bỏ đê, và cần khơi thông sông Thiên Đ ức, củng cố hệ
thống đê cũ còn lại ở hai bờ sông (12).

Khoảng 6 văn bản điều trần của các quan ở triều đình và địa phương hiện
còn lưu trữ tại khu Lưu trữ TƯ 2, dưới ký hiệu tập CB.262, trang 47-70. (12).




Không ai có thể phủ nhận lợi ích của hệ thống đê sông và đê biển ở Đồng bằng
sông Hồng.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Sau hàng ngàn năm thiết lập và củng cố hệ thống đê điều, từ vùng đầm lầy
trở thành đồng bằng, một vựa lúa quan trọng của Việt Nam, mang đến ấm no thịnh
vượng cho dân Việt từ ngày thành lập nước, đủ sức mạnh kinh tế để chống ngoại
xâm từ phương bắc, và phát triển lảnh thổ về phương nam.

Với diện tích tổng cộng khoảng 1.3 triệu ha, diện tích trồng cây l ương thực
khoảng 1.2 triêu ha, trong số đó khoảng 1 triệu ha trồng lúa (23) với năng xuất
trung bình 6 tấn/ha, để nuôi một dân số khoảng 14.8 triệu người, là vùng có mật
độ cao nhất ở Việt Nam, 1,180 người/km2 (1999) (23).

Để bù đắp vào việc thiếu phù sa do lụt mang tới đồng ruộng, từ hàng ngàn
năm nay nông dân Miền Bắc đã phát triển phân hữu cơ như bèo hoa dâu, phân gia
súc, phân bắc, phân xanh để bồi dưởng màu mở đất. Nhờ vậy, canh tác nông
nghiệp ở miền Bắc rất thâm canh, năng xuất cao.

Nhờ cải thiện đất từ lâu đời, không c òn thấy tường trình đất bị dậy chua
phèn như thường xảy ra sau khi đào kinh thoát thủy. Nhờ hệ thống đê biển và cống
trên đê biển khá hoàn hảo, nước mặn chỉ xâm nhập vào sông khoảng 20 km (vì
không có cống ở cửa sông), nhưng đất ruộng ở vùng duyên hải miền Bắc bị nhiểm
mặn trong mùa khô hạn không trầm trọng như thường xảy ra ở đồng bằng Cửu
Long (26).

Thay vì phù sa bồi đắp vào đồng ruộng, 95% phù sa của 2 hệ thống sông
Hồng và Thái Bình được bồi đắp dọc duyên hải, lấn biển hàng trăm mét mỗi năm,
tạo nhiều cồn, đảo phù sa ngoài khơi, làm lảnh thổ nới rộng thêm hàng chục
km2/năm. Cũng chính khối phù sa này làm vịnh Bắc Việt phong phú thủy sản.

Thay vì đánh bắt cá thiên nhiên hiếm hoi từ đồng ruộng do lụt mang tới,
người dân Miền Bắc đã bao đời nuôi cá thâm canh trong ao hồ, đồng ruộng. Hiện
nay, đồng bằng sông Hồng có khoảng 58 ngàn ha mặt nước nuôi thủy sản (23).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Ngoài ra, nguồn cá bột của sông Hồng đã cung cấp giống đáng kể cho nghề nuôi
cá nước ngọt ở đồng bằng Bắc Việt (29).

Quang cảnh và sinh động thực vật đã biến đổi sau khi thành lập đê sông.
Cảnh trí mô tả trên các trống đồng, như Trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ cho thấy
cảnh quang thời vua Hùng, cách đây trên 2 ngàn năm, là cảnh chèo ghe trong đầm
lầy. Muôn thú gồm động vật hiện nay như bò, ngựa, chó, cọp, hưu, chim, v.v.
Ngoài ra, còn một số thú lạ như con vật đầu chim có 4 chân, có đuôi dài của loài
khỉ; hoặc con vật 4 chân, có bờm, đuôi cuộn, miệng há rộng, nay đ ã tuyệt chủng
(32, 33). Dầu môi trường đầm lầy của hơn 2 ngàn năm trước nay không còn,
nhưng ngày nay, các vùng đất trủng (wetlands) ở các cửa biển vẫn tồn tại và vẫn
phát triển như vùng đầm lầy Xuân Thủy, Tiền Hải ở cửa sông Hồng vẫn trù phú
với chim muông được bảo vệ (14).

Một yếu điểm của hệ thống đê sông ở đồng bằng sông Hồng hiện nay là không đủ
nước cung cấp cho nông nghiệp trong mùa khô. Nhu cầu tưới gia tăng từ 6.6 tỷ m3
năm 1985 lên 7.4 tỷ m3 năm 1990 và 8.9 tỷ m3 năm 2000 (17). Tuy nhiên, việc
thiết lập thêm hồ chứa nước ở thượng nguồn, việc trồng lại rừng vốn bị tàn phá
trầm trọng trong 50 năm qua, và việc áp dụng những tiến bộ công chánh (dùng tàu
nạo vét sông, thiết lập cửa chuyển lưu như ở Mississippi, cống ở cửa biển như ở
Hòa Lan, trên sông Thames của nước Anh v.v., khi tài chánh cho phép) sẽ sửa đổi
được những khuyết điểm của ngày hôm nay.

Tóm lại hệ thống trị thủy của Đồng bằng sông Hồng là một trong những công trình
thủy lợi được thiết lập cổ xưa nhất trên thế giới. Mặc dầu không có những công
trình xây dựng tân tiến như Hòa Lan (xem phần I), hay Mississippi của Hoa Kỳ
(xem phần II), hệ thống đê sông và đê biển của châu thổ sông Hồng đã được dân
Việt quyết chí xây dựng qua hơn 2 ngàn năm, từ những vật liệu của địa phương
của một đất nước nghèo nàn, nhưng đã chứng tỏ rất hữu hiệu trong vấn đề ngăn
chận lũ lụt.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ADB 2003. Hanoi – Hatay dyke subproject. Workshop from 9 to 12 November
2003, organized by ADB.
http://www.adb.org/documents/events/2003/wap/vie/bao_paper.pdf

2. Anonymous. Dykes Keep Vietnam abreast of History’s Tide.

http://www.vietnam-culture.com/vietnamese-dyke-along-history.aspx

3. Bùi Công Quang (2006). Quản lý lũ ở đồng bằng châu thổ sông Hồng.

http://tvmt.wru.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=194&Ite
mid=78

4. Dương Trung Quốc (2006). Có nhất thiết chỉ trị thủy bằng đê điều? Vietnamnet
ngày 30/10/2006.

5. Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư.

6. Đăng Quang Tính, Nguyen Si Nuoi, Nguyen Thanh Phuong. Flood Control for
the Red River. The Red River, the Delta and Floods. In: Total Disaster Risk
Management - Good Practices - Chapter 3. Asian Disaster 30 Reduction Center.

http://web.adrc.or.jp/publications/TDRM2005/TDRM_Good_Practices/PDF/PDF-
2005e/Chapter3_3.1.1-2.pdf

7. Hà Yên (2008). Hệ thống thoát nước của đồng bằng sông Hồng quá tải.

http://www.vietnamnet.vn/xahoi/2008/11/813651/

8. Lê Mạnh Hùng (2007). Nhìn lại sử Việt. Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ.
Trang 243.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


9. Le Xuan Roanh (2006). Construction and design methods for protection layers
of sea-dyke in vietnam. Vietnam- Japan Estuary Workshop 2006, August 22nd –
24th Hanoi, Vietnam.

10. Lebel, L., Sinh, B.T., Tuan, L.A., Garden, P. and Seng, S. (2008). Dykes,
dams, drains, and diversions: the promise of flood protection.

http://www.ifwf2.org/addons/download_presentation.php?fid=1084

11. Nguyễn Văn Tài. Một vài vấn đề về quản lý tài nguyên môi trường lưu vực
sông Hồng.

http://www.nea.gov.vn/Sukien_Noibat/Luuvuc_Song/Tintuc/Nghien%20cuu/tin3.
htm

12. Nguyễn Xuân Diện (2008). Trị thủy chớ quên đê điều.

http://trannhuong.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3139&Ite
mid=42

13. Nguyen Van Le. Disaster preparedness in Hanoi: Achievement and ch allenge.

http://www.sea-user.org/download_pubdoc.php?doc=3422

14. Ramsar (2008). Ramsar Convention and Wetlands in Vietnam.

http://earthobservatory.nasa.gov/IOTD/view.php?id=8407

15. Susumu Tanabe, Yoshiki Saito, Quang Lan Vu, Till J.J. Hanebuth, Quang La n
Ngo and Akihisa Kitamura (2006). Holocene evolution of the Song Hong (Red
River) delta system, northern Vietnam.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6V6X -
4J2W0KP-1&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_

sort=d&view=c&_acct=C0000502 21&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&
md5=c15cb0df5eb8246b32cb956f96b17cd3

16. Trần Tiển Khanh & Nguyễn Khoa Diệu Lê (2001). Nguyên nhân Lũ Lụt Lớn ở
Đồng Bằng Sông Hồng.

http://www.vnbaolut.com/lulutSH_uni.htm

17. Tran Duc Thanh, Yoshiki Saito, Dinh Van Huy. Changes in the discharge and
distribution of water and sediments from the red river and their effect on the
coastal zone.

http://www.emecs.or.jp/EMECS_NIES_Session/4-3%20AbstractDrThanh.pdf

18. Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược.QI, trang 101, 108, 185, 257; QII, 177.

19.Trần Huy (2007). Sông Hồng – Những đổi thay theo thời gian.

http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/1490/index.aspx

20. Vô danh. Phải giữ bằng được đê sông Hồng, hồ Hòa Binh, Tuyên Quang, Thác
Bà.

http://www.kinhtenongthon.com.vn/ Story/xahoi/2008/11/15704.html

21. Vô danh. BBC ngày 6/11/2008

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/11/081106_hanoi_dyke_late
st.shtml
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


22. Vô danh. Hệ thồng đê Hà Nội.

http://www.baodatviet.vn/Home/He-thong-de-Ha-Noi-cang-nhu-day-
dan/200811/20147.datviet

23. Vô danh. Đồng bằng sông Hồng. http://my.opera.com/tulieudialy/blog/65

24. Vô danh. Nguyễn Công Trứ. http://e-
cadao.com/queta/nguyencongtruvaquangngai.htm

25. Vô danh. http://www.highbeam.com/doc/1G1-16647535.html

26. Vu Thanh Ca. 1996. Salinity Intrusion in the Red River Delta. Seminar on
Environment and Development in Vietnam, December 6-7, 1996, Australian
National University.

http://coombs.anu.edu.au/~vern/env_dev/papers/pap08.html

27. Wikipedia. Đồng bằng sông Hồng.

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%E1%BA%B1ng_B%E
1%BA%AFc_B%E1%BB%99

28. Wikipedia. Đê sông Hồng.

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%AA_s%C3%B4ng_H%E1%BB%93n
g

Hồng.
29. Wikipedia. Sông
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_H%E1%BB%93ng

30. Wikipedia. Hệ thống sông Thái Bình.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_s%C3%B4ng_
Th%C3%A1i_B%C3%ACnh

31. Wikipedia. Kim Sơn. http://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_S%C6%A1n

32. Wikipedia. Trồng đồng Đông sơn.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%91ng_%C4%91%E1%BB%93ng_%C4
%90%C3%B4ng_S%C6%A1n

33. Wikipedia. Trống đồng Việt Nam

http://vietsciences.free.fr/vietnam/phongtuctapquan/trongdongvietnam.htm
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long



Phần 5: Đồng bằng sông Cửu Long - Môi trường
và hệ thống sông rạch thiên nhiên




ĐỒNG BẰNG CỬU LONG
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Châu thổ Cửu Long (Mekong delta) bắt đầu từ Kratie và Nam Vang (Phnom Penh)
của Campuchia và tận cùng là Biển Đông và Biển Tây, có hình tam giác (tam giác
châu – delta), do phù sa của Sông Cửu Long bồi đắp, với diện tích tổng cộng
khoảng 55,000 km². Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam (ĐBCLVN) chiếm
39,734 km² (72.2%). Sở dĩ người Việt gọi “Cửu Long”, vì khi đến Biển Đông, hai
nhánh chánh của sông trước 1970 chảy ra biển theo 9 cửa, nhánh Sông Tiền có 6
cửa (Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên và cửa
Cung Hầu) và nhánh sông Hậu có 3 cửa (Cửa Tranh Đề, Cửa Định An và Cửa Ba
Thắc), nhưng Cửa Ba Thắc đã bị đất bồi lấp từ khoảng thập niên 1970 nên nay chỉ
cỏn 8 cửa.

Sự thành hình đồng bằng Cửu Long

Vào cuối thời Tân Sinh (Kainozoi), do hoạt động kiến tạo của vỏ trái đất, có c hỗ
được nâng lên, có chỗ bị sụp xuống. Phần đất ở Nam Trung Việt và Đông
Campuchia được nâng lên, kẹp ở giữa là vùng trũng bị sụp, tạo thành dòng chảy
của sông Mekong và các phụ lưu, mang nhiều phù sa chảy vào Biển Đông, tạo
thành lớp nền phù sa Plio-Pleistocen cách nay khoảng 700,000 năm.

Cách đây 9,000 năm, đồng bằng Cửu Long VN chưa được thành lập, còn là vùng
biển cạn với rừng ngập mặn, nước biển cao hơn hiện nay 3-4 m, và bờ biển còn ở
chân núi Vùng Thất Sơn (14).

Cách đây 8,000 năm, mực nước biển hạ thấp dần, phù sa từ từ lắng đọng trong
suốt hơn 2,000 năm, đồng bằng được thành lập, tiến dần ra Biển Đông và Biển
Tây (Vịnh Thái Lan).

Cách đây 6,000 năm, nước biển lại dâng cao trong suốt 1,000 năm, rừng ngập mặn
bị chôn vùi bởi phù sa tạo thành lớp than bùn ở độ sâu 1-2 m như thấy hiện nay.
Đồng thời các giồng duyên hải được thành lập dọc bờ biển, che chắn vùng bên
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


trong là các vùng trũng đầm lầy, Đồng Tháp M ười, U Minh, và vùng Tứ Giác
Long Xuyên. Đó là những giồng đất cao và các gò cao chạy song song với biển, từ
Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, cho tới Sài Gòn hiện nay.

Cách đây 4,500 năm, nước biển lại hạ thấp, đặc biệt là trong thời gian khoảng
4,000 năm đến 2,700 năm trước đây, phù sa bồi đấp nhiều thêm và đồng bằng tiến
thêm ra Biển Đông và Biển Tây. Cách đây 2,700 năm, đồng bằng Cửu Long có
hình dạng tương tự ngày nay. Trầm tích phù sa dày khoảng 500 m tại cửa biền,
khoảng 30 m tại Kratie. Hàng năm, đất bồi thêm khoảng 150 m ở mũi Cà Mau, tuy
nhiên cũng bị xói lở ở nhiều nơi khác.

Cách đây 2,500 năm người Melanesien (Nam Á Hải Đảo) đến định cư ở Đồng
bằng Cửu Long. Hải cảng trù phú Óc-eo của quốc gia Phù Nam (thế kỷ 1 – 7) nay
là vùng đất liền thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn (An Giang), trong vùng Tứ
Giác Long Xuyên.

Ngày nay, nước biển lại bắt đầu dâng cao.




Độ cao của đồng bằng Cửu Long

Ngoại trừ Thất Sơn là vùng đồi núi cao, đồng bằng Cửu Long có độ cao 0-4 m trên
mực nước biển, nhưng không đồng nhất.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Cao độ của ĐBCLVN (tổng hợp nhiều tài liệu – TDH)

Trong đồng bằng, đất hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu, và các sông rạch lớn là
vùng đất cao 3-4 m trên mực nước biển, đó là các đê thiên nhiên, hay còn gọi đất-
giồng-ven-sông, do phù sa sông bồi đắp. Càng xa sông cuộc đất thoai thoải thấp
dần. Vùng đất-giồng-ven-sông rộng khoảng 500 m ở mỗi bên bờ sông Tiền và
sông Hậu. Các thành phố như Vĩnh Long, Cần Thơ, Cao Lãnh, Long Xuyên, Châu
Đốc, v.v. nằm trên các đê thiên nhiên này, không bị ngập lụt. Bên trong là vùng
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


đất thấp, đọng nước, có cao độ 1-2 m trên mực nước biển, tạo các đầm lầy. Vùng
xa sông này bị ngập lụt trong mùa mưa.

Nếu tính từ biển trở vào, vùng sát biển chịu ảnh hưởng của thủy triều lên xuống là
rừng ngập mặn. Xa bên trong là giồng-cát-duyên-hải có độ cao từ 3-6 m, có chiều
rộng khoảng 500-1,000 m, tùy nơi, do phù sa của sóng biển và thủy triều tạo
thành. Bên trong các giồng-cát-duyên-hải này đất thoai thoải thấp dần, tạo thành
các vùng đầm lầy úng nước, có độ cao 0.5 – 1 m trên mực nước biển. Suốt hơn 6
ngàn năm thành lập, qua các thời kỳ nước biển hạ thấp rồi dâng cao nhiều lần,
nhiều giồng-cát-duyên-hải được thành lập, giồng cổ xưa hơn ở bên trong, chạy
song song với các giồng duyên hải mới. Các thành phố như Bạc Liêu, Sóc Trăng,
Trà Vinh nằm trên các giồng duyên hải cổ này.

Phân loại theo độ cao

Vì ảnh hưởng của sự thành hình đê thiên nhiên dọc sông, và nhiều giồng duyên
hải, về mặt cao độ ĐBCL có thể chia thành 4 vùng chánh (3):

(1) Vùng đồi núi Thất sơn, chiếm một diện tích nhỏ.

(2) Phù sa châu thổ. Đó là giải đất phù sa dọc hai bên sông Tiền, sông Hậu và các
sông rạch lớn khác, tương đối cao, 3-4 m trên mực nước biển, nhưng gần biển thì
thấp dần. Thường không bị ngập lụt lâu dài, là vùng trù phú, trồng được cây ăn
trái, dân cư đông đúc là nơi có các thành phố và thị trấn. Các cù lao giữa sông
cũng thuộc loại đất cao và màu mỡ. Bến Tre là một cù lao lớn.

(3) Giồng duyên hải, chạy song song với biển, có độ cao 3-6 m, không bị ngập lụt.
Các thành phố như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu nằm trên các giồng duyên hải
cổ. Như tại tỉnh Trà Vinh càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn,
chẳng hạn vùng có địa hình cao nhất (>4 m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Trường, Long Sơn (Cầu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên Hải)
(18).

(4) Vùng trũng có cao độ 0.5 đến 2 m, nằm phía sau giải đất cao dọc sông, hay sau
các giồng duyên hải, hay vùng giữa của hai giồng duyên hải. Do sự chia cắt bởi
các giồng và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằng chịt, địa hình toàn vùng khá phức
tạp. Là vùng trũng, khó thoát nước khi có mưa, tạo các đầm lầy.

Trong vùng trũng, tùy theo địa thế và điều kiện thoát nước, có thể phân chia các
tiểu vùng:

(i) Tả ngạn sông Tiền, trong đó có Đồng Tháp Mười.

(ii) Vùng trũng giữa hai sông Tiền và sông Hậu.

(iii) Hữu ngạn sông Hậu cho tới mũi Cà Mau, trong đó có Khu Tứ Giác Long
Xuyên và bán đảo Cà Mau gồm U Minh.

(iv) Các vùng trũng nhỏ nằm xen kẻ giữa các giồng trong vùng duyên hải. Như ở
tỉnh Trà Vinh, các vùng trũng có độ cao 4.2 m). Trong thời gian từ 1937 – 1952, hàng năm
đều xảy lụt cấp 3, riêng trong 4 năm 1937-1940, mực nước ở Tân Châu tới 4.85 m.
Các trận lut năm 1994, 1995 và 1996, mực nước ở Tân Châu là 4.6 m.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Vùng ngập lụt ở ĐBCLVN




Phân bố nước lụt

Lụt ở ĐBCLVN là một phần lụt của hạ lưu sông Cửu Long, gồm từ vùng rộng lớn
Biển Hồ tới vùng lũ lụt ở đồng bằng Việt Nam . Lụt ở phần lảnh thổ ĐBCLVN
nhận nước lũ từ địa phận lụt của Cambodia theo 2 lối: (i) bằng dòng chính của
sông Cửu Long (khoảng 75%), và (ii) chảy tràn qua biên giới vào Đồng Tháp
Mười và Tứ giác Long Xuyên (khoảng 25%). Ngoài ra, còn chưa kể phần nước
mưa rất lớn nhận được ở vùng lũ Việt Nam trong thời gian lũ lụt (tổng cộng
khoảng 990 mm trong 6 tháng từ tháng 6 đến tháng 11; khoảng 15 tỷ m3 nước).




(i) Thoát qua dòng chính của Sông Cửu Long. Trước khi đến Vàm Nao, tỷ lệ phân
phối lưu lượng từ Phnom Penh (100 %) qua Sông Tiền là 80 % và sông Hậu là 20
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


% vào mùa lụt. Sau Vàm Nao tỷ lệ phân phối lưu lượng qua 2 sông xấp xỉ nhau
(50 % cho mỗi sông) do một phần lượng nước từ Sông Tiền chảy qua Vàm Nao để
bổ sung cho sông Hậu. Số liệu đo cho thấy lưu lượng lớn nhất chảy vào Sông
Tiền, sông Hậu không thay đổi nhiều qua các trận lụt năm 1961 (36,950 m3/ s), lụt
năm 1996 (32,400 m3/s) và lụt năm 2000 (37,110 m3/s).




(ii) Chảy tràn trên đất liền qua biên giới. Khi mực nước ở Tân Châu quá 3 m thì
nước lụt chảy tràn qua biên giới. Hai khu lớn nhận nước chảy tràn vào mùa lụt ở
ĐBSCL là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên.




Lụt trong Đồng Tháp Mười

Trong trận lụt năm 1996, nước lụt đổ từ biên giới Campuchia vào Đồng Tháp
Mười khoảng 8,400 m3/s (tổng lượng khoảng 27 - 28 tỷ m3); và nước từ Sông
Tiền theo các kinh Hồng Ngự, Đồng Tiến, An Phong- Mỹ Hòa chảy vào với lưu
lượng lớn nhất khoảng 1,100 m3/s (tổng lượng 4,2 tỷ m3). Như vậy, Đồng Tháp
Mười nhận tổng cộng khoảng 32 tỷ m3, ch ưa kể số lượng nước mưa trong vùng
Đồng Tháp Mười trong thời gian này. Trong lúc đó, dòng nước chảy thoát ra khỏi
Đồng Tháp Mười qua ngả Sông Tiền ở các cửa ngang Quốc lộ 30 với lưu lượng
tối đa 2,200 m3/s, các cửa ngang ở Quốc lộ 1A cũng khoảng 2,200 m3/s, ra Sông
Vàm Cỏ Tây 1,700 m3/s và Sông Vàm Cỏ Đông 550 - 600 m3/s. Như vậy, tổng số
dòng nước chảy thoát khoảng 6,700 m3/s.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Phân phối nước lụt trong ĐBCLVN. Mũi tên chỉ hướng nước chảy vào và chảy ra
khỏi vùng lụt với lưu lượng theo vận tốc m3/s (in bên trên) hay khối lượng tỷ m3
(in bên dưới) (7)




Trong trận lụt năm 2000, trận lụt lớn nhất và được dùng làm chuẩn cho các công
trình chống lũ lụt và thủy lợi, lưu lượng lớn nhất từ Cambodia chảy vào Việt Nam
khoảng 55,280 m3/s (tổng lượng khoảng 445.2 tỷ m3), trong số này chảy qua dòng
chính sông Tiền và sông Hậu khoảng 37,110 m3/s (chiếm 67.2 %), chảy tràn qua
biên giới vào Đồng Tháp Mười khoảng 13,940 m3/s (chiếm 25.1 %), và chảy vào
khu Tứ giác Long Xuyên khoảng 4,230 m3/s (chiếm 7.7 %).

Cũng trong trận lụt 2000, tổng lưu lượng nước chảy vào Đồng Tháp Mười
qua biên giới khoảng 13,940 m3/s, với tổng khối lượng khoảng 89 tỷ m3, và thoát
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


nước ra khỏi Đồng Tháp Mười qua ngỏ sông Tiền khoảng 4,025 m3/s (khoảng 21
tỷ m3), và qua ngỏ sông Vàm cỏ khoảng 11,258 m3/s (khoảng 55 tỷ m3).

Trong trận lụt 2000, nước ngập sâu nhất xảy ra vào cuối tháng 9, vùng sâu
trên 2 m là huyện Tam Nông, Tân Hồng, và Tân Hưng; và sâu 1.5 đến 2 m ở
Thanh Bình, Cao Lảnh, Tháp Mười, Tân Thanh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng (6). Vùng
ngập lụt sâu nhất cũng là vùng lụt kéo dài nhất, hơn 4 tháng, nằm trong khu vực tứ
giác giới hạn bởi các kinh Kháng Chiến – Đồng Tiến – Phước Xuyên - Tân Thanh
- Lò Gạch, có diện tích khoảng 700 km2; và khu tứ giác này gần sông Tiền hơn
sông Vàm Cỏ.

Dòng chảy tràn qua biên giới vào Đồng Tháp Mười có xu hướng gia tăng,
lụt 1961 là 2,950m3/s, lụt 1991 là 6,300m3/s, lụt 1996 là 8,400m3/s và đến lụt
2,000 là 13,940 m3/s.




Lụt vùng giữa sông Tiền sông Hậu

Nước lụt từ Campuchia chảy tràn vào địa phận Tân Châu, ở đây một phần chảy lại
vào sông Hậu, một phần thoát qua các cầu trên trục lộ Châu Đốc – Tân Châu, kết
hợp với nước lụt tràn bờ sông Hậu sông Tiền gây lụt ở phần đất giữa sông Tiền
sông Hậu (Tân Châu). Ảnh hưởng lụt không đáng kể, ngoại trừ phần đất bờ bắc
trục lộ Châu Đốc- Tân Châu.




Lụt vùng trũng ngập bên hửu ngạn sông Hậu – Khu Tứ Giác Long Xuyên

Trong trận lụt năm 1961, khoảng 2,700 m3/s từ phần đất Cambodia tr àn về qua
biên giới, và 1,100m3/s từ sông Hậu phần giữa Prethmey và Châu Đốc tràn bờ.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Trong trận lụt này, lưu lượng tối đa chảy qua 7 cầu nằm trên đường Châu Đốc –
Nhà Bàng là 1,600m3/s, và khoảng 900 m3/s theo kinh Vĩnh Tế chảy về Biển Tây.

Phân tích trong nhiều năm, khoảng 70 % dòng lụt tràn từ vùng trũng
Campuchia chảy qua 7 cầu nằm trên đường Châu Đốc – Nhà Bàng, và 27 % là t ừ
sông Hậu theo các kinh và rạch chảy vào làm ngập lụt vùng hửu ngạn sông Hậu.

Ở địa phận Việt Nam , hàng năm phần ngập lụt hửu ngạn sông Hậu gồm hai
vùng, đó là Tứ Giác Long Xuyên và tứ giác Cái Sắn-Xà No.

Khoảng 70 % nước ngập lụt của Tứ Giác Long Xuyên tiêu thoát về biển
Tây, 2-5 % theo kinh rạch trở lại sông Hậu, và 21 % qua các cầu nằm trên lộ Cái
Sắn tiêu về nam Cần Thơ.

Khoảng 21 % nước ngập lụt trong tứ giác Cái Sắn – Xà No tiêu thoát về
sông Cái Lớn, 73 % chảy thẳng ra biển Tây, và 2-3 % theo kinh rạch trở lại sông
Hậu.

Lưu lượng tối đa dòng lụt tràn từ vùng trũng Campuchia đổ vào Tứ Giác
Long Xuyên cũng có xu hướng gia tăng. Chỉ tính riêng lưu lượng qua 7 cầu trên
tuyến đường Châu Đốc - Nhà Bàng, thì lụt 1961 khoảng 1,594 m3/s, lụt 1978
khoảng 1,780 m3/s, và lụt 1991 khoảng 2,140 m3/s, riêng lụt 1996 qua 7 cầu là
2,520 m3/s và qua cầu Hữu Nghị + Công Binh là 980 m3/s ; tổng cộng là
3,500m3/s. Kể từ 1999 về sau, nhờ hai đập tràn Tha La và Trà Sư và cầu cạn Xuân
Tô (thay thế cầu Công Binh), dòng chảy qua các cầu biên giới có giảm. Chẳng
hạn, các trận lụt lớn như 2000, 2001 và 2002, lưu lượng tổng cộng dòng chảy tràn
đổ vào Tứ Giác Long Xuyên là 2,240m3/s, trong số đó chảy qua 7 cầu chỉ còn 650
m3/s, qua cầu Hữu Nghị 560 m3/s và cầu cạn Xuân Tô 1,030 m3/s (1).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


CÔNG TRÌNH GIẢM THIỂU LŨ LỤT

Để giảm thiểu mức độ tai hại của lũ lụt trong ĐBCLVN, một số công tr ình đã
được thực hiện.

1. Công trình đê dọc biên giới Việt-Miên

Để ngăn nước lũ chảy tràn qua biên giới, tuyến đê cũng là đường lộ giao thông
được xây dựng từ 1978. Đó là tỉnh lộ 831 (chạy dọc theo kinh La Thành – Lò
Gạch) và tỉnh lộ 832, chạy từ cửa khẩu Bình Hiệp (Mộc Hóa) tới thị xả Hồng Ngự
trên tả ngạn sông Tiền (dài khoảng 55 km), đường đê chạy song song với biên
giới, và cách biên giới khoảng 15 km. Tỉnh lộ này dùng ngăn lũ tràn qua biên giới
vào Đồng Tháp Mười. Trên tuyến đê biên giới này có nhiều cầu bắc qua sông,
rạch, hay kinh đào. Tại các cầu trên tuyến đê này có cống để kiểm soát nước chảy
vào Đồng Tháp Mười.

Phần giữa sông Tiền và sông Hậu có tỉnh lộ 953, nối Tân Châu với Châu
Đốc (dài khoảng 16 km).

Bên hửu ngạn sông Hậu, một đoạn của quốc lộ 91 là bờ đê phía nam của
kinh Vĩnh Tế, từ Châu Đốc đến Nhà Bàng (dài 16 km), dùng ngăn nước lũ tràn
vào Tứ Giác Long Xuyên. Bờ đê dọc kinh Vĩnh Tế cao 3.8 m. Trên tuyến nam bờ
đê này có 7 công trình, gồm hai đập tràn Tha La và Trà Sư và các cống như Cống
Số 10, cống Đồn, cống Sáu Nhỏ, v.v. có nhiệm vụ kiểm soát n ước lụt, ngăn dòng
chảy tràn từ Campuchia vào Tứ Giác Long Xuyên, và cưởng ép dòng chảy vào
kinh Vĩnh Tế. Dự trù hoàn tất tuyến đường này thành quốc lộ N1, dài 235 km, đi
dọc biên giới từ Đức Huệ Long An đến Hà Tiên, mặt đường cao hơn nước lụt năm
2000.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Đập Trà Sư xây năm 1999 tại huyện Tịnh Biên (An Giang), thân đập bằng cao su,
dài 90 m, chiều cao thân đập 2.3 m, đỉnh cao 3.8 m, ngưởng đập cao 1.5 m. Bên
trên là cầu dài 112.5 m với 8 nhịp, rộng 4 m.

Đập Tha La dài 72 m, thân đập bằng cao su, chiều cao thân đập 2.3 m, đỉnh
cao 3.8 m, ngưởng đập cao 1.5 m.

Hiện nay (2007), nhờ các công trình tổng lượng nước tối đa từ vùng trũng
Campuchia chảy vào Tứ Giác Long Xuyên qua cầu Hữu Nghị (500 m3/s) + cầu
cạn Xuân Tô (1000 m3/s) + tuyến 7 cầu (700m3/s) là 2,200 m3/s thay vì 3,530
m3/s trước khi có công trình (1)




Đập Trà Sư (trái) và đập Tha La (phải)




2. Công trình đê dọc sông Tiền và sông Hậu ngăn nước tràn bờ

Sát bờ tả ngạn sông Tiền là tỉnh lộ 841 từ biên giới đến Hồng Ngự dài khoảng 25
km, tiếp nối với quốc lộ 30 chạy dọc sông Tiền đến An Hửu tr ên quốc lộ 1 A, dài
120 km. Tuyến đường này ngăn nước tràn từ sông Tiền vào Đồng Tháp Mười.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Bên hửu ngạn sông Tiền, tỉnh lộ 952 từ biên giới đến Tân Châu, nối với
tỉnh lộ 954 từ Tân Châu đến Vàm Nao. Bờ bên kia Vàm Nao là tỉnh lộ 942, nối
với tỉnh lộ 948 tới Sa Đéc.

Bên hửu ngạn sông Hậu, kể từ biên giới, cửa khẩu Tịnh Biên, là tỉnh lộ 956
đến Châu Đốc, tiếp với quốc lộ 91 nối Châu Đốc tới Cần Th ơ. Tuyến đường này
ngăn nước sông Hậu tràn vào Tứ Giác Long Xuyên và đồng bằng tỉnh Hậu Giang.
Ở 8 đầu kinh từ sông Hậu dẫn nước vào Tứ Giác Long Xuyên đều có cống kiểm
soát nước.

Hiện nay, tổng lưu lượng tối đa chảy từ Sông Hậu vào Tứ Giác Long
Xuyên qua các cống là 2,800m3/s thay vì 800m3/s trước kia (1).




3. Công trình thoát nước lụt

Đồng Tháp Mười. Để thoát nước lụt trong Đồng Tháp Mười, nhiều kinh đào thoát
nước ra lại Sông Tiền và sông Vàm Cỏ. Chảy thoát ra khỏi Đồng Tháp Mười qua
ngả Sông Tiền ở các cửa ngang Quốc lộ 30 nhờ các kinh An Hòa, Đồng Tiến, Đốc
Vàng, Nguyễn Văn Tiếp, Rạch Ruộng; các cửa ngang ở Quốc lộ 1A nhờ các kinh
Phước Xuyên, Nguyễn Văn Tiếp A - Nguyễn Tấn Thành (chảy ra cầu Kinh Xáng)
Nguyễn Văn Tiếp B, kinh 28 (chảy ra Cái B è); ra Sông Vàm Cỏ Tây nhờ kinh
Lagrange, Dương Văn Dương, Tổng Đốc Lộc; và ra Sông Vàm Cỏ Đông nhờ kinh
Bắc Nam, Trà Cú Thượng.

Khả năng thoát nước lụt ra khỏi Đồng Tháp Mười qua ngỏ sông Tiền
khoảng 4,025 m3/s (khoảng 21 tỷ m3), và qua ngỏ sông Vàm cỏ khoảng 11,258
m3/s (khoảng 55 tỷ m3).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Tứ Giác Long Xuyên. Kinh Vĩnh Tế và kinh Rạch Giá – Hà Tiên vẫn chủ yếu đưa
dòng nước lũ ra Biển Tây. Kinh Rạch Giá – Hà Tiên gom nước lũ của Tứ Giác
Long Xuyên qua các kinh Cái Sắn, Ba Thê, Tri Tôn, Hà Giang,Tám Ngàn, rồi đổ
ra Biển Tây qua 4 kinh Vàm Răng, Luỳnh Quỳnh, Vàm Rầy và Kiên Lương.

Hiện tại có 23 kinh thoát n ước ra Biển Tây. Đặc biệt sau các trận lũ lớn liên
tục 1994 – 1996, hệ thống tiêu thoát lũ ra biển Tây được hình thành, trong đó có
trục T4, T5 và T6 chuyển nước từ kinh Vĩnh Tế băng qua vùng Bắc Hà Tiên đổ về
kinh Rạch Giá – Hà Tiên, mở thêm các kinh nhánh nối kinh Rạch Giá – Hà Tiên
với biển Tây như Tuần Thống, T6, Lung Lớn. Kinh T5 (nay gọi là Kinh Võ Văn
Kiệt) đào năm 1997, dài 48 km, rộng 40 m, đáy rộng 20 m, sâu khoảng 4.5 m (sâu
3 m dưới mực nước biển) nối Kinh Vĩnh Tế tại cây Cầu Biên Giới ra Biển Tây tại
Cống Tuần Thống. Bờ đê bên trái cao 2 m, rộng 40 -50 m để làm tuyến dân cư.

Hiện nay (2007) khả năng thoát nước tối đa của Tứ Giác Long Xuyên qua
Kinh Vĩnh Tế chảy vào khu vực Bắc Hà Tiên và qua các cửa kinh T4 + T5 + T6 là
1,047m3/s; riêng qua các cửa T4+T5+T6 khoảng 450 m3/s; và lượng dòng chảy từ
tiêu về đầm Đông Hồ khoảng 700-1000 m3/s; tiêu về Nam Cần Thơ khoảng
900m3/s (1).




Vùng Tây Sông Hậu. Giới hạn bởi kinh Cái Sắn ở hướng bắc, sông Hậu ở phía
đông, sông Cái Lớn ở phía Tây và kinh Cái Côn - Phụng Hiệp - Quản Lộ. Diện
tích khoảng

365,060 ha, trong số này 288,143 ha là đất nông nghiệp. Đây là vùng ngập lụt ít,
trước đây là vùng lúa-cấy-2-lần, và có nhiều vườn cây ăn trái trên vùng đất cao.
Vùng đồng thấp canh tác 3 vụ lúa/năm nhờ bờ bao. Công trình gồm việc kiểm soát
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


nước chảy vào từ sông Hậu, và thoát nước ra Biển Tây theo Sông Cái Lớn và ngăn
nước mặn tại cửa sông Cái Lớn. Công trình thủy lợi Ô Môn đang thực hiện ở đây




4. Công trình thủy lợi

Để phát triển nông nghiệp, chủ yếu là canh tác lúa và cây hoa màu, cây ăn trái, tùy
theo vùng địa lý có kiểm soát được lụt hay không mà thiết lập các công trình thủy
lợi.




Vùng không kiểm soát lũ lụt (non-controlled flood area). Đối với vùng phía bắc
tuyến đê tỉnh lộ dọc biên giới là vùng không có công trình kiểm soát lũ lụt, diện
tích khoảng 117,000 ha. Nông dân phải “sống chung với lũ”. Muốn vậy, khu
ruộng được đắp “bờ bao” chung quanh, để có thể canh tác 2 vụ lúa một năm, ngăn
lụt đầu mùa để thâu hoạch lúa hè thu (phải gặt trước 20/7), và bơm nước ra (nếu
còn lụt) để canh tác vụ đông xuân. Trong mùa lũ lụt, phá ít chổ bờ bao để nước lũ
tràn vào ruộng. Phần dân cư sống tập trung trên các “tuyến”, hay “cụm dân cư”.




Vùng kiểm soát lũ lụt theo mùa (Timely-controlled flood). Trong vùng phía b ắc
kinh Nguyễn Văn Tiếp, phía đông kinh Bo Bo - Rạch Tràm Mỹ Bình trong Đồng
Tháp Mười; hay phía bắc kinh Cái Sắn trong Tứ Giác Long Xuyên. Diện tích tổng
cộng khoảng 859,000 ha. Ở vùng kiểm soát lũ lụt theo mùa chủ trương đắp đê hay
bờ bao để ngăn chặn lụt đầu mùa và cuối mùa lụt, canh tác an toàn hai vụ lúa đông
xuân và hè thu. Nước lụt trong khu Tứ Giác Long Xuyên được kiểm soát chỉ sâu
20 – 40 cm, ở Đồng Tháp Mười sâu 10 – 40 cm.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Vùng kiểm soát lũ toàn diện quanh năm (Yearly round flood controlled areas).
Phần diện tích còn lại là vùng kiểm soát lũ toàn diện, khoảng 938,490 ha, nước
trong đồng được kiểm soát hoàn toàn theo ý muốn, có thể canh tác 3 vụ lúa/năm.
Vùng giữa sông Tiền và sông Hậu là vùng kiểm soát lũ toàn diện quanh năm với
diện tích khoảng 357,277 ha, ngoại trừ vùng phía bắc Kinh Vĩnh An là vùng
không kiểm soát lụt.

Các công trình gồm:




Thiết lập hệ thống đê thành các “tiểu vùng canh tác”. Đây là hình thức “polder”
khép kín, được thực hiện trước tiên ở Đồng Tháp Mười từ 1988, sau áp dụng rộng
rải ở Tứ Giác Long Xuyên. Các đường lộ dọc 2 bên bờ sông Tiền và sông Hậu
cũng là những đê cao, khá rộng có nhà cửa dân cư. Cứ 2 – 5 km là có một kinh cấp
1 thẳng góc với sông, ở đầu kinh đều có cống kiểm soát n ước chảy vào từ Sông
Tiền hay sông Hậu. Các kinh cấp 1 thường song song. Hai bên bờ kinh cấp 1 là đê
cao, dân cư có thể sống trên đó thành tuyến dân cư. Cứ 2 – 5 km trên kinh cấp 1, là
kinh cấp 2 thẳng góc với kinh cấp 1, ở đầu kinh cũng có cống. Như vậy, cánh
đồng chia thành nhiều ô vuông hay chử nhật, gọi là tiểu vùng, có đê cao bao
quanh. Mỗi tiểu vùng như vậy có diện tích trên dưới 1,500 ha. Trong mỗi tiểu
vùng, có kinh cấp 3 (nối với kinh cấp 2, hoặc 1), ở đầu kinh cũng có cống có nắp
đóng mở tùy ý. Nối giữa các kinh cấp 3, là các mương nước (cấp 4) để dẫn nuớc
từ kinh cấp 3 vào ruộng, hay thoát nước từ ruộng. Ở mỗi đầu kinh cấp 3 th ường
đặt trạm bơm để tưới hay để tiêu (khi có mưa lớn, úng nước). Thông thường, mỗi
tiểu vùng có 3 mặt đê và một đường nhựa bao quanh. Mặt đê rộng 4 m, chân đê
rộng 11 m, thông thường cao 4.5 m. Các đê dọc sông Tiền và Hậu (cũng là đường
lộ giao thông) đều cao hơn mực nước lụt năm 2000 (lụt lớn nhất thế kỹ) là 1 m.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


Như vậy tiểu vùng hoàn toàn được kiểm soát không bị ngập trong trường hợp lũ
tương tự năm 2000 xãy ra. Trong mỗi tiểu vùng, canh tác 3 vụ lúa /năm, và cứ 3
năm (tức vụ thứ 9) thì xả lũ một lần, cho nước lụt ngập cánh đồng để tái tạo phì
nhiêu và vệ sinh đồng ruộng. Nói tóm lại, nước trong tiểu vùng được điều chỉnh
theo ý muốn, nên có thể sản xuất 3 vụ lúa/năm, hay 2 vụ lúa + 1 vụ màu, hoặc 1 vụ
lúa + 2 vụ màu, hay 1 vụ lúa + 1 vụ thuỷ sản với điều kiện là tất cả nông dân trong
tiểu vùng phải cùng theo một chương trình và cùng một lịch trình sản xuất.

Công trình Cù Lao Bắc Vàm Nao là một trong những công trình điển hình
của “polder” ở ĐBCLVN. Nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, thuộc 2 huyện Phú
Tân và một phần huyện Tân Châu, có địa hình bằng phẳng, thấp trũng, bao gồm
toàn bộ diện tích của 22 xã và thị trấn, với 30 ngàn ha đất nông nghiệp và trên
270,000 cư dân sinh sống. Đây là vùng trước đây canh tác lúa 2 vụ/năm, nhưng
thường xuyên bị ngập lụt. Dự án Bắc Vàm Nao I được cơ quan Phát triển Quốc tế
Úc (AusAID) thực hiện từ năm 1999 đến tháng 6 năm 2000, tiếp theo Dự án kiểm
soát lụt Bắc Vàm Nao II từ ngày 07.01.2002, kết thúc vào năm 2006 với tổng kinh
phí là 37.9 triệu đô la Úc, trong đó, phần đóng góp của phía Úc l à 19.5 triệu đô la
Úc. Công trình gồm các tuyến đê khép kín bao cặp vách sông Hậu, kinh Cái Tắc,
kinh Vĩnh An với gần 100 cống hở, cống tròn, kiểm soát lụt triệt để, đồng thời
xuồng ghe có thể lưu thông qua lại. Toàn vùng Bắc Vàm Nao năm 2007 có 9 tiểu
vùng có đê bao chống lụt triệt để với diện tích khoảng 12,607 ha canh tác 3 vụ
lúa/năm, tăng lên 22 tiểu vùng năm 2009 với diện tích 23,200 ha sản xuất được vụ
3/năm, và dự trù tới năm 2010 sẽ hoàn chỉnh 24 tiểu vùng đưa 100% diện tích của
toàn vùng dự án Bắc Vàm Nao với 24,039 ha sản xuất được 3 vụ lúa/năm (8).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Công trình Bắc Vàm Nao (trái) và các cống kiểm soát nước (phải) (8)




Hiện tại ĐBLLVN có khoảng 123,000 ha được xây dựng đê bao kiểm soát lụt cả
năm dưới hình thức tiểu vùng polder có khả năng trồng 3 vụ lúa/năm.




Công trình trình bảo vệ thành phố. Các thành phố đông dân cư nằm trong vùng lũ
lụt như thị xã Hồng Ngự, Mộc Hóa, TP Cao Lảnh đều được thiết lập tuyến đê kín
bao quanh, cao hơn mực nước lụt năm 2000 khỏang 0.5 m . Chẳng hạn, tại thị x ã
Mộc Hóa 16,000 dân cư được bảo vệ bởi một hệ thống đê kín cao chung quanh
thành phố có đường kính 3.2 km, có cống kiểm soát nước, và một hệ thống bơm
khi có nước ngập do mưa lớn hay đê bị rò rỉ. Ở những nơi lụt ngập sâu, đê cao từ
4.5 m đến 6.8 m như ở vùng ngập sâu Tân Hưng, Vĩnh Hưng.




Thành lập tuyến dân cư. Ở những vùng lũ lụt nặng, để “sống chung với lụt”, bắt
đầu từ 1991, tuyến dân cư được thiết lập ở An Giang, Ðồng Tháp, Long An, Hậu
Giang, Tiền Giang và một số vùng ngoại ô thành phố Cần Thơ. Dân chúng được
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


định cư trên các mặt bờ đê cao nới rộng 40 – 50 m, hoặc trong khu được xáng thổi
cao hơn mực nước lụt năm 2000. Chẳng hạn, khu tái định cư của xã Phú Xuân,
huyện Phú Tân được xây dựng trên khu đất san nền theo mức vượt đỉnh lụt năm
2000, mỗi hộ dân được nhận một nền nhà diện tích 102 m2, có khung nhà và mái
tôn, còn vách, cửa và gạch lát nền nhà thì dân phải tự lo.

Tính đến tháng 10/2007, 811 cụm tuyến dân cư được hoàn thành trong
vùng ngập lụt ĐBCL, định cư khoảng 110,763 gia đình.




LỢI ÍCH CÔNG TRÌNH NGĂN LỤT VÀ THỦY LỢI




1. Làm giảm tác hại của lụt. Ở khu bờ nam Kinh Vĩnh Tế trong Tứ Giác Long
Xuyên, nhờ các công trình ngăn lụt và thủy lợi, lụt đến chậm hơn 30 ngày, làm
giảm độ sâu 20 – 50 cm, rút ngắn thời gian ngập lụt đ ược 45 ngày so với trước kia
(1), nên bảo vệ được thu hoạch lúa hè thu và canh tác sớm được vụ đông xuân.




2. Cách mạng xanh tiến vào vùng lũ lụt. Vùng được bảo vệ giảm thiểu tác động
của lũ lụt gồm một diện tích khoảng 910,000 ha, trong đó gồm khoảng 693,000 ha
đất canh tác và dân cư. Trong số này, khoảng 123,000 ha trong các tiểu vùng
(polders) được bảo vệ toàn diện bởi các đê bao quanh, có khả năng canh tác 3 vụ
lúa/năm. Phần còn lại bảo đảm canh tác 2 vụ lúa/năm, bằng cách ngăn lụt đầu mùa
(tháng 7 và 8) nhờ hệ thống đê hay bờ bao để nước trong ruộng đồng còn thấp khi
thâu hoạch vụ hè thu (trể nhất là 20/8), và bơm nước ra khỏi đồng để sớm canh tác
vụ đông xuân (lịch sạ lúa trong khoảng 15/11 đến 30/12). Nhờ công tr ình kiềm chế
lụt và thủy lợi, cuộc cách mạng xanh tiến vào vùng lũ lụt. Cuộc cách mạng xanh
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


với các giống lúa Thần Nông có năng xuất cao vào ĐBCLVN từ 1968 nhưng
không tiến vào được Đồng Tháp Mười và khu Tứ Giác Long Xuyên. Sau khi hệ
thống thủy lợi được thực hiện, nông dân chuyển hướng bỏ canh tác lúa nổi, theo
thời gian với canh tác 2 vụ/năm (lúa nổi-TN hoặc TN-TN) rồi 3 vụ (TN-TN-TN).
Riêng tại tỉnh An Giang, trong thời gian 1975-1994, diện tích trồng lúa nổi giảm
80 %, diện tích canh tác lúa dẫn thủy gia tăng từ 35,000 ha đến 175,000 ha. Hiện
nay (2005), riêng An Giang có hơn 80,000 ha ruộng trồng 3 vụ lúa/năm, chiếm
hơn 1/3 diện tích canh tác lúa toàn tỉnh (2). Năng xuất trung bình 3 vụ/ha/năm ở
An Giang là 18 tấn lúa.

Tóm lại, nhờ các chương trình thủy lợi ngăn lụt đã góp phần tích cực đưa
sản lượng lương thực tăng nhanh từ 4.7 triệu tấn năm 1976 lên 19.1 triệu tấn năm
2005.




3. Đa canh hóavới nhiều loại hoa màu, cây ăn trái thay vì chỉ độc canh với lúa.
Hiện nay, diện tích vườn cây ăn trái cũng gia tăng trong vùng trước kia bị lũ lụt.




4. Chăn nuôi gia súc và thủy sản nước ngọt gia tăng trong các ô-canh-tác, nhất là
cá tra trong ao ở vùng Đồng Tháp cho xuất cảng.




5. Giải quyết một phần nạn thất nghiệp nông thôn nhờ canh tác th êm vụ 3.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


6. Giáo dục: Trẻ em đi học đủ thời gian, bằng cách khai giảng sớm hơn một tháng,
và trường chỉ đóng cửa 1 tháng trong dịp lụt cao điểm thay vì nhiều tháng như
trước kia.




7. Thiệt hại do lũ lụt vào mùa màng, tài sản và nhân mạng giảm rỏ rệt.




8. Giao thông đường bộ dễ dàng vì mặt đê cũng là đường lộ giao thông cho máy
cày, và xe hàng vận tải. Dưới kinh là ghe thuyền.




9. Khu công nghiệp dần dần thiết lập ở địa phương, đặc biệt ngành chế biến thủy
sản, thức ăn cho thủy sản.

Nhờ vậy, đời sống người dân khá giả hơn trước kia.




TAI HẠI CỦA CHƯƠNG TRÌNH THỦY LỢI

1. Thay đổi tình trạng lũ lụt. Ngoài việc nhiều công trình xây đập và thủy lợi ở
phần thượng lưu sông Cửu Long có ảnh hưởng đến lụt và thiếu nước ở ĐBCLVN
(đề cập ở phần 9), hệ thống kinh đào hiện nay ở ÐBSCL sâu hơn, rộng hơn, và dày
đặc hơn so với trước kia. Ngoại trừ ở vùng kiểm soát lũ lụt toàn diện được kiểm
doát bởi hệ thống cống, hệ thống kinh thủy lợi đã tạo thành những lòng lạch thuận
lợi khiến cho nước lụt từ Cambodia và từ sông Tiền và sông Hậu chảy vào Ðồng
Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên sớm hơn, nhiều hơn, và nhanh hơn. Ngoài ra,
nhiều hệ thống giao thông và đê nội đồng, cống ngăn mặn cản trở dòng nước thoát
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


khiến cho mực nước lụt sâu hơn và thời gian ngập lụt kéo dài hơn trước ở nhiều
nơi.

Sự gia tăng lưu lượng qua biên giới Việt Miên từ 6,300 m3/sec trong trận
lụt 1991, đến 8,270 m3/sec trong trận lụt 1996, so với l ưu lương 2,930 m3/sec
trong trận lụt 1961 là do các kinh cấp I và II nối từ rạch Cái Cỏ - Long Khốt vào
Ðồng Tháp Mười. Thời gian truyền lụt từ Tân Châu đến Mộc Hóa, thường mất từ
15 đến 17 ngày trong thập niên 1970, chỉ còn khoảng 3 đến 5 ngày trong thập niên
1990. Trong trận lụt 2000, mực nước lụt nội đồng trong vùng Ðồng Tháp Mười và
Tứ Giác Long Xuyên cao hơn mực nước cao nhất các năm 1978 và 1996 từ 20 đến
50 cm trong lúc mực nước đo trên mốc ở Tân Châu thấp hơn (5.06 m năm
2000) (4).

Lụt được ngăn chận hay giảm thiểu ở một số n ơi trong Đồng Tháp Mười và
Khu Tứ Giác Long Xuyên, nhưng lụt đến sớm hơn, ngập sâu hơn và kéo dài lâu
hơn trước kia ở bên bờ bắc tuyến đê dọc biên giới (thuộc phần đất Campuchia và
một ít của Việt Nam). Chẳng hạn, ở bờ bắc kinh Vĩnh Tế, lụt đên sớm hơn 20
ngày, sâu hơn 20 – 30 cm, và lụt kéo dài hơn 45 ngày so với trước kia (1).

Vì hệ thống cống đầu kinh rạch dọc sông Hậu sông Tiền ngăn nước chảy
vào Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười nên làm gia tăng ngập lụt ở các
tỉnh hạ nguồn như tỉnh Hậu Giang, Cần Thơ, Tiền Giang và vùng Long An, gây
nhiều thiệt hại ở những vùng này.

Trong tương lai, nếu lụt xảy ra lớn hơn lụt năm 2000, hay các đập ở th ượng
nguồn xả lũ, hay vở đập vì động đất hay vì chiến tranh, lụt ở ĐBCLVN sẽ vượt
quá đê hiện nay và thảm họa sẽ vô cùng tàn khốc về nhân mạng và nông nghiệp
bên trong các đê bao đồng và thành phố.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


2. Đất đai trong đồng ruộng kém màu mở hơn xưa vì không còn phù sa bồi đấp,
ngược lại sông rạch bị cạn vì lắng tụ phù sa. Các nghiên cứu ở Đại Học An Giang
cho biết sau 3 năm canh tác lúa 3 vụ/năm trong các ô có đê bao cho năng suất lúa
bằng nơi canh tác 2 vụ ở ngoài vùng đê bao, và cho rằng giảm năng xuất là do
thiếu phù sa bồi đấp do lụt mang đến hàng năm.

Tổng số phù sa do sông Cửu Long mang trung bình hàng năm khoảng 150
triệu tấn, năm nào mưa lũ lớn lượng phù sa khoảng 240 triệu tấn. 80% là do lưu
vực thượng nguồn trong lảnh thổ Trung quốc cung cấp (2). Phù sa được lắng động
tại Biển Hồ và các chi lưu trong đồng bằng Campuchia khoảng 9 triệu tấn, đáy hồ
dày thêm 0.1 - 0.16 mm/năm (2). Nước lụt tràn qua biên giới vào Đồng Tháp
Mười và Tứ Giác Long Xuyên không chứa nhiều phù sa bao nhiêu vì đã lắng động
bên phần đất Campuchia. Chỉ có dòng nước lụt của sông Tiền sông Hậu mới có
mang phù sa. Khi đến Tân Châu, hàm lượng phù sa bình quân mùa lụt khoảng 800
g/m3, tháng cao nhất (tháng 8) trên 1,000 g/m3, nhưng vào mùa kiệt chỉ còn
khoảng 200 g/m3. Hàm lượng phù sa trung bình trên sông Hậu trong mùa lụt ở
Châu Đốc khoảng 500g/m3. Số lượng này rất ít so với Sông Hồng (từ 1.2 đến 1.5
kg/ m3, xem phần 4).

Không phải tấc cả phù sa do lụt mang được lắng tụ trong đồng ruộng. Qua
8,000 năm bồi đắp, lớp phù sa ở ĐBCLVN chỉ dày 0.8 đến 1.2 m (bên dưới là lớp
hửu cơ do rừng ngập mặn bị vùi lấp), như vậy mỗi năm đồng ruộng trong
ĐBCLVN cũng chỉ dày thêm từ 0.1 đến 0.15 mm/năm, phù hợp với số phù sa lắng
đọng ở vùng Biển Hồ, tức trung bình mỗi ha được bồi dưởng 1 – 1.5 m3 phù
sa/năm, tức khỏang 1,625 đến 2,438 kg phù sa/ha/năm, cung cấp khoảng 1.2 – 1.8
kg N, và 0.3 – 0.5 kg P2O5/ha/năm. Số dưởng liệu này thật ra không đáng kể, so
với một vụ lúa (100 ngày) nông dân ở vùng Tân Châu sử dụng 100 - 120 kg N/ha,
46 kg P2O5/ha và 30 – 50 kg K2O/ha. Ngoài ra cũng cần nhớ rằng phù sa lắng
đọng nhiều ở đồng ruộng đầu kinh giáp sông chính. Càng xa sông luợng phù sa
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


trong nước kinh rạch càng chứa ít. Chẳng hạn, trong vùng Tứ Giác Long Xuyên,
hàm lượng phù sa lơ lững trong đầu kinh sát sông Hậu là 65 g/ m3, cách sông Hậu
20 km là 50 g/m3, cách 40 km là 35 g/m3 và cách 60 km (giáp kinh R ạch Giá-Hà
Tiên) là 25 g/m3 (1). Cũng vậy, các đo lường lượng phù sa trong thời gian 1991 –
1997 cho biết kinh Hồng Ngự - Cao Lảnh chứa 300 – 900 g/m3, Châu Đốc – Long
Xuyên 200 - 400 g/m3, và chỉ còn 100 - 200 g/m3 trong đồng ruộng.

Để sửa chửa vấn đề giảm năng xuất lúa canh tác liên tục, hiện nay áp dụng
biện pháp là xả lũ cho ngập cánh đồng trong 3-4 tháng trong mùa lụt sau 8 mùa
canh tác lúa liên tục để làm vệ sinh ruộng đồng (diệt sâu bọ, hạn chế chim chuột
sinh sản, và có lẻ rửa hóa chất thuốc sát trùng, nhất là thuốc diệt cỏ tồn tại trong
đất). Nông dân vùng Tân Châu mỗi vụ lúa dùng 1.2 l/ha hoạt chất butaclor để diệt
cỏ tiền nẩy mầm.




3. Hệ thống tiêu nước nhanh quá và không có nơi tồn trử nước nên thiếu nước
ngay vào đầu mùa hạn, và đồng thời hiện tượng xâm nhập nước mặn trầm trọng
hơn ngày xưa. Chẳng hạn, năm 2007 khoảng 500 km các kinh cấp 1 và 2 trong
Đồng tháp Mười không có nước, như ở các huyện đầu nguồn tỉnh Đồng Tháp nh ư
Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông. Mực nước thấp hơn mức trung bình hằng năm
từ 10 – 20 cm.Nắng gắt kéo dài làm lượng nước tại các mương, rạch có chức năng
bảo vệ 12,000 ha rừng tràm tại Vườn Quốc gia Tràm Chim cạn kiệt. Theo Chi cục
Kiểm lâm An Giang, gần 14,000 ha rừng ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Bi ên đã
không còn nước. Tại Long An, khoảng 61,000 ha rừng tràm cũng đang kiệt nước,
có nguy cơ cháy rừng. Tương tự, hàng chục ngàn ha rừng ở các huyện Hòn Đất,
Kiên Lương (Kiên Giang) cũng có nguy cơ cháy rất cao.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


4. Trong hàng chục năm đầu sau khi có kinh đào, hiện tượng phèn gia tăng trong
đất ruộng trong mùa hạn khi kinh rạch không còn đủ nước để giữ mực thủy cấp
cao ngăn chận hiện tương oxýt hóa thành phèn. Tuy nhiên, sau nhiều năm được
nước mưa và nước lụt rửa, phèn từ từ giảm.




5. Vào mùa hạn, nước trong kinh rạch chứa nước phèn có pH rất thấp (pH = 3 hay
thấp hơn) làm chết thủy sản. Dân chúng không có n ước sinh hoạt, phải mua nước
ngọt chuyên chở từ sông Tiền.




TÀI LIỆU THAM KHẢO




1. Bùi Đạt Trâm (2006). Bờ bao và đê bao đang phát huy hiệu quả. Báo Lao Động
ngày 27/9/2006: http://www.laodong.com.vn/Home/Bo-bao-va-de-bao-dang-phat-
huy-hieu-qua/20069/4929.laodong.

2. Mekong River Commission (2006). Mekong Hydrological, Environmental and
Socio-Economic Modelling Tools for the Lower Mekong Basin Impact
Assessment. WUP-FIN Phase 2 Final Report – Part 2: Research, Findings and
recommendationst

3. Nguyễn Minh Quang. 2000. Lũ lụt ở ĐBCL ngày xưa và ngày nay.
http://www.vastvietnam.org/quang/qglutxn.html

4. Nguyễn Minh Quang (2006). Những vấn đề thủy lợi ở ĐBCLVN. Phần 1 –
phần 7. http://www.vastvietnam.org/
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


5. Trần Tiển Khanh (2001). Thử tìm những nguyên nhân lũ lụt lớn tại ĐBCL.
http://www.buddhismtoday.com/viet/baolut/dongbang_songCuuLong.htm

6. Tran Thuc & Hoang Minh Tuyen. Hydraulics computations for the lower
Mekong river basin to study flood drainage for the plain of reeds in Vietnam :
http://www.mekongnet.org/images/5/55/Thuc.pdf

7. Nguyen Tat Dac (2004). Flood in the Mekong Delta and modeling approach
requirement. Seminar on Water hazard and Risk Management. Tsukuba 20 -23
January 2004.

8. Vô danh (2005). Dự án kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao.
http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/chuyenquenha/2005/04/414055/

9. Ian White (2002) Water management in the Mekong Delta: Changes, conflicts
and opportunities. Technical Documents in Hydrology, No 61.UNESCO, Paris ,
2002.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long




Phần 8: Thách thức với
biển cả
Để gia tăng diện tích canh tác lúa, việc đ ưa nước ngọt vào vùng đất nhiểm mặn
dọc duyên hải và bán đảo Cà Mau được thực hiện từ lâu. Dưới thời Cao Miên,
người Khmer đã đào nhiều kinh như kinh Beng Kok (tức Bưng Cóc) và kinh Tà
Lim ở vùng Sóc Trăng.

Đến thời Pháp thuộc, một hế thống kinh đào chằng chịt cùng các kinh phụ
dẫn nước ngọt từ sông Hậu đến Sóc Trăng như kinh Kế Sách - Sóc Trăng, kinh
Cái Côn đến Phụng Hiệp (Ngã Bảy) và từ đó qua nhiều kênh khác đưa nước ngọt
đến Sóc Trăng, Bạc Liêu, và Cà Mau. Mặt khác một số kênh phụ nối kinh Xà No
vào vùng U Minh, Bạc Liêu (xem phần 6).

Từ năm 1991, với yêu cầu đảm bảo an ninh lương thực, chương trình ngọt
hóa bán đảo Cà Mau với công trình Quản Lộ – Phụng Hiệp được tiếp tục và phát
triển thêm từ các công trình dở dang thời Pháp thuộc, sau đó là công trình ngọt hóa
Nam Măng Thít, Gò Công và Bến Tre với cống đập Ba Lai.




VẤN ĐỀ NHIỂM MẶN Ở ĐBCLVN

Tùy theo ba yếu tố chánh là lưu lượng của sông, thủy triều và gió mà nước ngọt
của sông lấn ra ngoài biển trước khi hòa lẫn vào nước biển, hay ở cửa sông, hay
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long


nước mặn chảy ngược vào sông để xâm nhập vào nội địa. Nếu vận tốc yếu, thủy
triều lên cao, và gió chướng thổi vào, nước mặn xâm nhập sâu vào sông.

Nước biển chứa khoảng 35 g muối ClNa trong một lít (tức 3.5% hay 35
phần ngàn). Tiêu chuẩn nước uống ở Tây Phương là
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản