intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Ẩn dụ ý niệm về quyền lực và sự kính trọng trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt

Chia sẻ: Năm Tháng Tĩnh Lặng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
100
lượt xem
27
download

Ẩn dụ ý niệm về quyền lực và sự kính trọng trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc nghiên cứu thành ngữ từ quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là dưới góc độ ẩn dụ ý niệm đang ngày càng được giới nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm, bởi vì nó có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Theo hướng tiếp cận này, bài báo khảo sát vai trò của các ẩn dụ ý niệm về quyền lực và sự kính trọng trong thành ngữ chứa yếu tố “tay”, “mặt”, “mũi” của tiếng Anh và tiếng Việt để đánh giá vai trò của ẩn dụ ý niệm trong việc tạo lập nghĩa hàm ẩn của thành ngữ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ẩn dụ ý niệm về quyền lực và sự kính trọng trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt

  1. Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM       Nguyễn Ngọc Vũ  _____________________________________________________________________________________________________________  ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ QUYỀN LỰC VÀ SỰ KÍNH TRỌNG TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT NGUYỄN NGỌC VŨ* TÓM TẮT Việc nghiên cứu thành ngữ từ quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là dưới góc độ ẩn dụ ý niệm đang ngày càng được giới nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm, bởi vì nó có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Theo hướng tiếp cận này, bài báo khảo sát vai trò của các ẩn dụ ý niệm về quyền lực và sự kính trọng trong thành ngữ chứa yếu tố “tay”, “mặt”, “mũi” của tiếng Anh và tiếng Việt để đánh giá vai trò của ẩn dụ ý niệm trong việc tạo lập nghĩa hàm ẩn của thành ngữ. Từ khóa: ẩn dụ ý niệm, hoạt động ý niệm hóa, miền ý niệm, thành ngữ. ABSTRACT Conceptual metaphor about power and respect in English and Vietnamese idioms Research on idioms from the point of view of cognitive linguistics, especially through conceptual metaphor has been growing steadily among linguists as it sheds light on many unsolved problems. With this viewpoint, the article examines the role of conceptual metaphor about power and respect in English and Vietnamese idioms with the aim of evaluating its importance in idiom’s illiteral meaning formation. Keywords: conceptual metaphor, conceptualization, conceptual domains, idioms. 1. Ẩn dụ ý niệm văn chương. Lí thuyết về ẩn dụ ý niệm Từ lâu, ẩn dụ đã được biết đến như do hai ông đề xướng đã thu hút sự quan một phương pháp tu từ hiệu quả, nhất là tâm đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ học trong ngôn ngữ văn chương. Theo cách tri nhận. Theo quan điểm của ngôn ngữ hiểu thông thường, ẩn dụ là phương thức học tri nhận, ẩn dụ là một công cụ thông lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các qua đó những trải nghiệm mơ hồ của con sự vật b, c, d vì giữa a, b, c, d có điểm người được ý niệm hóa dựa trên những giống nhau [5]. Hay nói cách khác, ẩn dụ trải nghiệm cụ thể hơn [4]. Lakoff cho là phương thức chuyển nghĩa dựa vào rằng khá nhiều trải nghiệm của chúng ta quy luật liên tưởng tương đồng. Trong được tạo thành theo phương thức ẩn dụ quyển Ẩn dụ trong đời sống chúng ta thông qua một số lượng hữu hạn các lược (Metaphor we live by), Lakoff và đồ hình ảnh, chẳng hạn như lược đồ hình Johnson [7] đã chứng minh ẩn dụ không ảnh về sự chứa đựng. Lược đồ hình ảnh chỉ đơn giản là dùng sự vật này để gọi tên này được tạo ra bởi một vật chứa đựng có sự vật khác. Ẩn dụ xuất hiện rất nhiều phía trong, phía ngoài và được xét trong trong lời nói sử dụng hàng ngày của một không gian ba chiều. Qua quá trình chúng ta chứ không chỉ có trong ngôn ngữ khảo sát, Lakoff đã phát hiện ra rằng lược đồ hình ảnh về sự chứa đựng được áp * TS, Trường Đại học Sư phạm TPHCM dụng theo phương thức ẩn dụ đối với một 3
  2. Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM       Số 35 năm 2012  _____________________________________________________________________________________________________________  số lượng lớn các phạm trù ý niệm phi 2. Một số ẩn dụ ý niệm về quyền lực không gian. Chẳng hạn như phạm trù và sự kính trọng ngôn ngữ, tình cảm vốn có tính phi 2.1. Nắm cái gì đó trong tay là có không gian nhưng vẫn được ý niệm hóa quyền kiểm soát thành vật chứa đựng như trong ngữ Trong cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt “empty words” và “to be in love” của đều có một số thành ngữ liên quan đến ẩn tiếng Anh. [8] dụ ý niệm “tay biểu trưng cho quyền Ẩn dụ ý niệm khi được xem xét ở lực”. Chẳng hạn chúng ta có thể xem xét cấp độ cơ bản nhất chính là cơ sở tạo ví dụ “to rule someone/something with a nghĩa cho nhiều cấu trúc thành ngữ. Ví hand of iron” (cai trị ai/nơi nào đó bằng dụ như thành ngữ “to let off steam” có bàn tay sắt). Rất có thể thành ngữ này bắt thể tách ra thành hai đơn vị cấu thành là nguồn từ việc ngày xưa các ông hoàng “let off” và “steam”. Nghĩa tổng quát của thường mang găng tay làm bằng lưới sắt. nó có thể hiểu là xả ra hay trút ra cơn Ở đây, nghĩa tường minh của thành ngữ giận dữ. Theo như phân tích của Lakoff “cai trị theo hình thức ép buộc người [8] và Kovecses [6] thì sự giận dữ thường khác” có liên hệ với nghĩa hàm ẩn thông được hiểu theo phương thức ẩn dụ như qua ẩn dụ “nắm cái gì đó trong tay là có sau “mind is a container” (cái đầu là một quyền kiểm soát”. Một ví dụ khác nữa vật chứa) và “anger is a hot fluid in a liên quan đến việc dùng ẩn dụ ý niệm này container” (cơn giận dữ là nước nóng ở là thành ngữ “an iron hand in a velvet trong một vật chứa). Trong trường hợp glove” (bàn tay sắt bọc nhung) có nghĩa này, việc thiết lập quan hệ giữa nghĩa hàm ẩn là “một thái độ cứng rắn được tường minh của “steam” (hơi nước) và làm cho trở nên mềm mỏng”. Qua khảo nghĩa hàm ẩn “anger” (sự giận dữ) hoàn sát, chúng tôi còn xác định được một số toàn có thể hiểu được cả về thực nghiệm thành ngữ cùng loại khác trong tiếng Anh lẫn tri nhận bởi vì hơi nước có sức mạnh như: - có thể chuyển động động cơ. “Steam” - The arrangements for the party are được xem là hơi nước đun nóng và việc now in Tim's hands (Việc tổ chức bữa xả hơi nước nóng thể hiện cơ giận dữ tiệc bây giờ nằm trong tay Tim). đang dần dần nguội đi. Để làm rõ hơn vai - There were concerns that the trò của ẩn dụ ý niệm trong việc tạo lập weapons might fall into the hands of nghĩa của thành ngữ, trong khuôn khổ bài terrorists (Người ta lo lắng rằng vũ khí có báo này chúng tôi tập trung phân tích các thể rơi vào tay bọn khủng bố). ẩn dụ ý niệm có liên quan đến miền ý - What people want is a president niệm quyền lực và sự kính trọng thông with a firm hand on the tiller (Cái mọi qua các thành ngữ tiếng Anh chứa yếu tố người cần là một tổng thống có khả năng “tay”, “mặt” và “mũi” trong sự so sánh cầm chắc bánh lái). với thành ngữ tiếng Việt. - I'm sure they don't want to reduce the price but if you threaten to pull out of 4
  3. Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM       Nguyễn Ngọc Vũ  _____________________________________________________________________________________________________________  the sale that might force their hand (Tôi một ai đó”. Còn có những thành ngữ khác chắc là họ không muốn giảm giá nhưng trong cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt có thể nếu anh dọa sẽ không mua nữa thì họ sẽ chứng minh rằng ẩn dụ ý niệm trên đóng chùn tay). một vai trò quan trọng trong việc tạo - To enforce each new law the nghĩa cho thành ngữ. Chẳng hạn như president uses persuasion first, and then trường hợp của thành ngữ “to be out of force - the iron hand in the velvet glove one’s hands” (không còn quyền kiểm soát (Để thi hành luật pháp mới, tổng thống ai/vật gì nữa) và “to take the law into trước hết là thuyết phục rồi mới dùng vũ one’s own hands” (tự đưa ra quyết định). lực – bàn tay bọc nhung). Tương tự với cách phân tích như vậy ta Trong quá trình khảo sát thành ngữ có thể suy được nghĩa của thành ngữ “to chứa yếu tố “tay” tiếng Anh và tiếng have something/somebody in the palm of Việt, chúng tôi còn nhận thấy rằng có khá one’s hand” (nắm quyền kiểm soát tuyệt nhiều thành ngữ mà nghĩa ẩn dụ của đối ai đó hay việc gì) và “to lay hands on chúng được tạo ra do các ẩn dụ ý niệm someone” nghĩa là “chộp/bắt được ai đó”. cũng như là những tri thức quy ước Một số thành ngữ khác cũng có ẩn dụ ý chung mà các dân tộc ở những nền văn niệm này là: hoá khác nhau cùng chia sẻ. Trước hết, - The court will decide how much chúng ta hãy xem xét trường hợp của money you get - the decision is out of our thành ngữ “to take someone/something in hands (Tòa sẽ quyết định anh nhận được hand” (nắm lấy ai/vật gì). Khi nắm vật gì bao nhiêu tiền – quyết định không ở đó trong tay, chúng ta có thể làm bất kì trong tay anh). điều gì với vật đó cũng được. Như vậy ẩn - When you fly, your life is in the dụ ý niệm “Nắm cái gì đó trong tay là có hands of complete strangers (Khi lên máy quyền kiểm soát” lại đóng vai trò cầu nối bay, mạng sống của anh nằm trong tay giữa nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn những người hoàn toàn xa lạ). thường được hiểu là “có quyền điều - The police haven't done anything khiển toàn bộ đối với một người hay việc about the vandalism, so local residents gì đó”. Một trường hợp khác là thành ngữ have taken matters into their own hands “fall into someone’s hands” (rơi vào tay (Cảnh sát chưa làm gì trước nạn phá ai đó). Ở đây, chúng ta đều biết rằng khi phách nên người dân địa phương phải tự một vật gì đó rơi vào tay chúng ta thì nó giải quyết lấy). thường là việc làm vô tình. Một khi ta đã Với thành ngữ tiếng Việt, chúng ta nắm được vật gì đó trong tay thì ta có thể cũng có một số thành ngữ chứa yếu tố toàn quyền quyết định mình sẽ làm gì với “tay” với ẩn dụ ý niệm “nắm cái gì đó vật ấy. Như vậy trong trường hợp này tri trong tay là có quyền kiểm soát” nhưng thức quy ước kết hợp với ẩn dụ ý niệm lại số lượng ít hơn. Qua khảo sát của chúng cho phép ta suy ra nghĩa của thành ngữ tôi, chỉ có vài thành ngữ như sau là có cơ này là “vô tình rơi vào tầm kiểm soát của sở từ ẩn dụ ý niệm trên [3]: 5
  4. Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM       Số 35 năm 2012  _____________________________________________________________________________________________________________  - đàn bà dễ có mấy tay biết rất nhiều thứ về tình cảm và thái độ - cờ đến tay ai người ấy phất của người nào đó. Tuy nhiên, tri thức quy - tay hòm chìa khóa ước vẫn chưa đủ để giúp chúng ta suy - sống tay người chết tay ta. được nghĩa của những thành ngữ như thế Tiếng Việt cũng có những tổ hợp này. Để có thể làm được điều đó người ngữ cố định, còn được gọi là từ ghép có học cần phải vận dụng thêm mối liên hệ liên quan đến ẩn dụ ý niệm trên như “ra với ẩn dụ ý niệm “khuôn mặt là danh dự tay”, “thẳng tay”, “mát tay”, “ngứa tay”, của con người”. Ẩn dụ ý niệm này chính “mó tay” và “đụng tay”. Điều này cho là cầu nối giữa nghĩa tường minh với chúng ta thấy rằng người Việt cũng có xu nghĩa hàm ẩn “bị mất đi sự kính trọng hướng ý niệm hóa đôi tay theo miền ý hay vị nể của người khác”. Chúng ta niệm quyền lực và khả năng kiểm soát cũng có một số thành ngữ tiếng Anh với khá phong phú. ẩn dụ ý niệm tương tự như: 2.2. Khuôn mặt là danh dự của con - They've had some bad luck, but người they've put a brave face on their problems Khuôn mặt vốn là một trong những (Họ không gặp may nhưng ngoài mặt tỏ bộ phận cơ thể quan trọng nhất của con ra không có gì). người. Đặc biệt, khuôn mặt là bộ phận có - He asked them to put out their nét đặc trưng rất cao phân biệt người này cigarettes but they just laughed in his với người khác. Mỗi khi chúng ta tương face (Anh yêu cầu bọn chúng dập thuốc tác với người hay vật nào đó thì khuôn lá nhưng bọn chúng lại cười vào mặt mặt luôn hướng về người hay vật ấy. Có anh). thể nói khuôn mặt có vai trò trung tâm - Are the ministers involved more trong hoạt động giao tiếp của con người. interested in saving face than telling the Chính vì vậy mà khuôn mặt thường truth? (Có phải các vị bộ trưởng chú xuyên xuất hiện trong các cách nói về trọng nhiều đến việc giữ thể diện hơn là danh dự hay phẩm giá của con người. nói sự thật?) Với ẩn dụ ý niệm “khuôn mặt là danh dự - He refused to admit he made a của con người” chúng ta có thể tìm thấy mistake because he didn't want to lose khá nhiều điểm tương đồng giữa thành face (Hắn không chịu nhận lỗi vì không ngữ tiếng Anh và tiếng Việt. Thành ngữ muốn mất mặt). “lose face” trong tiếng Anh gần như - The decision to close the sports hall tương đương trong tiếng Việt là “mất mặt was a slap in the face for all those who mất mũi”. Trong cả hai trường hợp này had campaigned to keep it open. (Quyết thì khuôn mặt có mối liên hệ với sự tự định đóng cửa nhà thi đấu là cái tát vào trọng hay sự kính trọng mà người khác mặt những người đấu tranh để giữ nó). dành cho mình. Như đã phân tích ở trên, Trong tiếng Việt, chúng ta cũng có tri thức quy ước cho chúng ta biết rằng tương đối nhiều thành ngữ chứa yếu tố điệu bộ khuôn mặt có thể cho chúng ta 6
  5. Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM       Nguyễn Ngọc Vũ  _____________________________________________________________________________________________________________  mặt với ẩn dụ ý niệm “khuôn mặt là danh mở mặt” nói lên sự hãnh diện của mình dự của con người” [3]: đối với mọi người xung quanh. Trong - tát nước vào mặt cuộc sống, ai cũng muốn được mọi người - tắm khi nào vuốt mặt khi ấy tôn trọng. Khi được nể nang thì người ta - mở mày mở mặt luôn cảm thấy vui sướng và hạnh phúc. - tai to mặt lớn Vì vậy, mà khuôn mặt và ánh mắt lúc nào - chơi với chó, chó liếm mặt cũng rạng ngời. Thành ngữ “mở mày mở - mặt trơ trán bóng mặt” nói về những tình huống người ta - mặt nạc đóm dày hãnh diện với mọi người xung quanh. - đeo mo vào mặt Trong văn hóa Việt Nam, khuôn mặt lớn, - mát mặt với anh em tai to, trán cao được xem là hình mẫu của - mắng như tát nước vào mặt những người có quyền lực, địa vị trong - mắng vuốt mặt không kịp xã hội và được nhiều người kính nể. Như - xấu mặt mà no lòng vậy thành ngữ “tai to mặt lớn” chỉ hạng - xấu mặt xin tương cả làng cùng người có chức có quyền, uy danh lừng húp lẫy. Một lần nữa chúng ta lại thấy khuôn - thêm cơn mưa nào mát mặt cơn mặt được dùng để biểu trưng cho danh dự mưa ấy của con người. Cũng từ kinh nghiệm - mặt trơ như mặt thớt. sống, chúng ta biết rằng, thớt là một vật Trong thành ngữ “mát mặt với anh dụng để chặt, thái hay cắt thức ăn. Thớt em” thì “mát mặt” thể hiện niềm tự hào, thì lúc nào cũng trơ ra để người ta mặc hãnh diện của mỗi người. Anh em ở đây tình làm gì thì làm. Từ hình ảnh thực tế chính là bạn bè cùng trang lứa. Trong trong cuộc sống như vậy, câu “mặt trơ quan hệ với bạn bè cùng trang lứa, để như mặt thớt” chỉ những kẻ lì lợm, không được mọi người nể trọng thì phải cư xử biết xấu hổ hay sĩ diện là gì. Ngoài các phải phép, không tỏ ra quá thua sút và thành ngữ đã được liệt kê ở trên, chúng ta cũng không chơi trội so với bạn bè. cũng thấy những ngữ cố định chứa yếu tố Thành ngữ “mát mặt với anh em” chính “mặt” sau xuất hiện trong tiếng Việt: là một lời khuyên về cách đối nhân xử “rửa mặt”, “mặt dày”, “mặt mo”, “mặt thế trong cuộc sống sao cho chúng ta thớt”, “mặt thịt”, “mặt nạc”, “mặt chuột” được mọi người xung quanh kính trọng. … Điều đó cho thấy ngoài thành ngữ, ẩn Trong thành ngữ “mắng như tát nước vào dụ ý niệm “khuôn mặt là danh dự của con mặt” thì lời mắng nhiếc có mục đích hạ người” cũng xuất hiện phổ biến ở trong nhục, làm cho người khác xấu hổ. Nước các tổ hợp ngữ cố định tiếng Việt. Các ví mà tát vào mặt thì thế nào cũng làm cho dụ trên cho chúng ta thấy rằng nghĩa của người ta ngộp thở. Như vậy, “mắng như thành ngữ rõ ràng là có nguồn gốc từ trải tát nước vào mặt” là mắng rất nhiều với nghiệm sống trong thế giới khách quan mục đích mạt sát hay hạ nhục người và một khi xác định được ẩn dụ ý niệm khác. Cũng như vậy, thành ngữ “mở mày 7
  6. Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM       Số 35 năm 2012  _____________________________________________________________________________________________________________  làm nền tảng thì chúng ta có thể suy được 29 nhóm thành ngữ có chứa yếu tố chỉ bộ nghĩa của thành ngữ. phận cơ thể (7 thành ngữ). Đa số thành 2.3. Giương mũi lên là thể hiện niềm ngữ này có liên quan đến danh dự hay sự tự hào tự hào: Khi xem xét ẩn dụ ý niệm này - xỏ chân lỗ mũi chúng ta có thể tìm thấy điểm tương đồng - mất mặt mất mũi giữa người Anh và người Việt. Thành - vuốt mặt không nể mũi ngữ tiếng Anh “to go/walk around with Thông thường ở đời không ai dám one’s nose in the air” (đi tới đi lui mũi xỏ chân lỗ mũi người khác mà lôi họ đi. vểnh lên trời) hay “turn your nose up” Từ đó thành ngữ “xỏ chân lỗ mũi” ngụ ý (vểnh mũi lên) gợi ra hình ảnh một người nói mình quá dễ dãi với người khác nên nào đó nghiêng đầu về phía sau để cho bị người ta khinh thị và coi thường. mũi của mình vểnh lên. Người nói cũng Nghĩa của thành ngữ “mất mặt mất mũi” nhận thức được rằng khi người ta tự hào xuất phát từ thực tế là khi ghét nhau thì về bản thân mình và khinh thường người người ta tìm đủ mọi cách để hạ nhục khác thì họ thường có xu hướng không người khác khiến cho họ cảm thấy xấu hổ nhìn xuống những gì mà họ coi là thấp với mọi người xung quanh và không dám hơn địa vị xã hội của mình. Tri thức quy xuất hiện ở chỗ đông người nữa. Yếu tố ước này cùng với ẩn dụ ý niệm “giương “mặt” đóng vai trò chính trong nghĩa của mũi lên biểu hiện sự tự hào” đã tạo nghĩa thành ngữ này nhưng yếu tố “mũi” cũng cho thành ngữ này. Tương tự như vậy, có nghĩa này. Trong thành ngữ “vuốt mặt thành ngữ “look down your nose at không nể mũi” chúng ta cũng có thể phân sth/sb” (khinh miệt ai đó) trong ví dụ “I tích tương tự như vậy. Mũi là phần gồ lên always felt that she looked down her nose cao nhất của khuôn mặt nên vuốt mặt thế at us because we spoke with strong nào cũng đụng phải mũi. Như vậy “vuốt accents and hadn't been to college” (Tôi mặt không nể mũi” là vuốt qua luôn, coi luôn cảm thấy rằng cô ta khinh miệt như mình không có cái mũi vậy. Thành chúng tôi vì chúng tôi nói giọng hơi nặng ngữ này chỉ việc đối xử không phải với và chưa học đại học) thể hiện sự khinh thị những người mà cha ông của họ vốn là đối với người khác vì cho rằng họ không người có vai vế to hơn mình. Tất nhiên bằng mình. Nếu hình ảnh mũi giương lên không nể mặt người khác như vậy thì sẽ thể hiện sự kiêu hãnh hay tự hào thì cái chuốc lấy phiền toái vào thân. Khi khảo nhìn qua mũi là biểu hiện của sự khinh sát các tổ hợp từ ghép trong tiếng Việt miệt. chúng tôi cũng thấy xuất hiện một số Trong tiếng Việt, thành ngữ có trường hợp có liên quan đến ẩn dụ ý niệm chứa yếu tố “mũi” có số lượng rất ít. “giương mũi lên là thể hiện niềm tự hào” Bảng cứ liệu khảo sát của chúng tôi cho như “phổng mũi”, “nở mũi”, “bể mũi” và thấy thành ngữ chứa yếu tố “mũi” trong “vểnh mũi”. tiếng Việt chiếm số lượng ít nhất trong 8
  7. Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM       Nguyễn Ngọc Vũ  _____________________________________________________________________________________________________________  3. Kết luận hợp. Đây là một điểm đáng lưu ý vì lâu Việc phân tích các ẩn dụ ý niệm nay thành ngữ vẫn được coi là những tổ liên quan đến miền ý niệm quyền lực và hợp bền vững về cấu trúc, ổn định về ngữ sự kính trọng cho chúng ta thấy rằng ẩn nghĩa và nghĩa của thành ngữ là nghĩa dụ ý niệm rõ ràng là có tham gia đáng kể của toàn khối. Việc khảo sát thành ngữ từ vào việc tạo nghĩa hàm ẩn cho thành ngữ. quan điểm ngôn ngữ học tri nhận đã có Chúng ta cũng thấy rằng nghĩa của thành đóng góp đáng kể trong việc cung cấp ngữ có thể suy ra được nếu xác định được cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn về ẩn dụ ý niệm và tri thức quy ước phù nghĩa hàm ẩn của thành ngữ. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 2. Hoàng Văn Hành (1987), “Thành ngữ trong tiếng Việt”, Tạp chí Văn hóa dân gian, (1). 3. Vũ Ngọc Phan (1994), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 4. Lý Toàn Thắng (2005), Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 5. Kovecses, Z. (1986), Metaphors of anger, pride and love. Arnsterdam: John Benjamins. 6. Kovecses, Z. (2002), Metaphor: A practical introduction. Oxford: Oxford University Press. 25-32. 7. Lakoff, G. và Johnson, M. (1980), Metaphor we live by, Chicago: University of Chicago Press. 8. Lakoff, G. (1987), Women, fire and dangerous things, Chicago: University of Chicago Press.   (Ngày Tòa soạn nhận được bài: 25-11-2011; ngày chấp nhận đăng: 17-4-2012)    9

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản