22
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(13)- Tháng 12. 2025- Số 285
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Ảnh hưởng bất cân xứng của bất ổn chính sách đến
cầu tiền ở Việt Nam
Ngày nhận: 07/08/2025 Ngày nhận bản sửa: 29/8/2025 Ngày duyệt đăng: 10/12/2025
Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích tác động bất cân xứng của sự bất ổn chính
sách (đo lường qua Chỉ số bất ổn thế giới) đến lượng cầu tiền Việt Nam trong
giai đoạn quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2023 thông qua hình ARDL
tuyến tính (ARDL) và ARDL phi tuyến (NARDL). Kết quả từ mô hình ARDL cho
thấy trong ngắn hạn bất ổn chính sách làm giảm lượng cầu tiền mức độ
ảnh hưởng này không đáng kể trong dài hạn. Tuy nhiên, trong ngắn hạn
với mô hình NARDL, cú sốc tích cực của bất ổn chính sách làm gia tăng lượng
cầu tiền, ngược lại sốc tiêu cực của bất ổn chính sách sẽ làm giảm lượng
cầu tiền một lượng không cùng quy mô. Trong dài hạn, cả sốc tiêu cực
tích cực của bất ổn chính sách đều làm giảm lượng cầu tiền, nhưng tác động
của cú sốc tích cực là không đáng kể. Bên cạnh đó, thu nhập thực, lãi suất
tỷ lệ lạm phát cũng được xem là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cầu
tiền. Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực nghiệm quan trọng để đề xuất các hàm
The asymmetric impact of policy uncertainty on money demand in Viet Nam
Abstract: This study analyzes the asymmetric impact of policy uncertainty (measured by the World
Uncertainty Index) on money demand in Vietnam during the period from the first quarter of 2000 to the
fourth quarter of 2023 using the linear ARDL (ARDL) and nonlinear ARDL (NARDL) models. The results from
the ARDL model show that in the short term, policy uncertainty reduces money demand, but this effect is
insignificant in the long term. The NARDL estimation reveals that, in the short run, positive shocks to policy
uncertainty exert a statistically significant expansionary effect on money demand, whereas negative shocks
reduce money demand with an adjustment magnitude that is not symmetric to the positive response.
In the long run, both positive and negative policy uncertainty shocks are associated with a contraction
in money demand; however, the effect of positive shocks proves economically negligible. Additionally,
real income, interest rates, and inflation rates are also considered as important factors affecting money
demand. These empirical results provide a crucial foundation for policy recommendations to improve
monetary policy efficacy and foster macroeconomic stability in Viet Nam.
Keywords: Policy uncertainty, Money demand, Nonlinear ARDL, Viet Nam
Link Doi: http://doi.org/10.59276/JELB.2025.12.3044
Nguyen Thi Quy1, Pham Thi Thu Hien2
Email: nguyenquy@ufm.edu.vn1, phamhien@ufm.edu.vn2
Organization of all: University of Finance- Marketing, Ho Chi Minh City, Viet Nam
Nguyễn Thị Quý, Phạm Thị Thu Hiền
Trường ĐH Tài chính- Marketing, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
NGUYỄN THỊ QUÝ - PHẠM THỊ THU HIỀN
23
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ ổn định
kinh tế vĩ mô trong trường hợp thực tiễn ở Việt Nam.
Từ khóa: Bất ổn chính sách, Cầu tiền, ARDL phi tuyến tính, Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng
sâu rộng, các sốc chính sách biến
động kinh tế- chính trị trên thế giới ngày
càng trở nên phổ biến khó lường làm
gia tăng tính bất định trong môi trường
mô. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu năm 2008, nền kinh tế thế giới đã trải
qua hàng loạt biến động như khủng hoảng
nợ công châu Âu, căng thẳng trần nợ tại
Hoa Kỳ, sự kiện Brexit, chiến tranh thương
mại Mỹ- Trung, đại dịch Covid-19, cùng
với các xung đột địa chính trị khác. Những
biến động này không chỉ làm thay đổi cấu
trúc danh mục tài sản toàn cầu còn tác
động mạnh mẽ đến hành vi nắm giữ tiền
tệ của công chúng do động dự phòng
nhu cầu thanh khoản (Friedman, 1984;
Acedański & Pietrucha, 2025). Trong bối
cảnh đó, việc nhận diện chính xác phản
ứng của cầu tiền trước các sốc chính
sách trở thành quan trọng trong điều hành
chính sách tiền tệ hiệu quả.
Tuy nhiên, các nghiên cứu truyền thống
thường giả định mối quan hệ tuyến tính,
bỏ qua thực tế rằng phản ứng của các chủ
thể kinh tế thường mang tính bất cân xứng,
tức quy hoặc chiều hướng điều chỉnh
hành vi khi rủi ro tăng thường khác biệt so
với khi rủi ro giảm (Meyer & von Cramon,
2004; York, 2017). Đối với Việt Nam, một
nền kinh tế đang phát triển với độ mở cao,
những cú sốc từ bên ngoài tác động sâu
sắc đến ổn định chính sách tiền
tệ. Với 14 hiệp định thương mại tự do
hiệu lực kim ngạch xuất khẩu chiếm hơn
200% GDP (Tổng cục Thống kê, 2023),
Việt Nam trở thành nền kinh tế độ mở
lớn nhưng cũng dễ bị tổn thương trước các
biến động toàn cầu. Thực tiễn điều hành
tiền tệ trong giai đoạn hậu Covid-19 cho
thấy Ngân hàng Nhà nước đã các phản
ứng chính sách như điều chỉnh lãi suất
mở rộng cung tiền, M2 tăng từ 10,6 triệu tỷ
đồng năm 2020 lên 13,4 triệu tỷ đồng năm
2022 (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
2023), cho thấy mối liên hệ giữa bất ổn
chính sách lượng cầu tiền đáng kể.
vậy, các bằng chứng thực nghiệm hiện
tại về cơ chế truyền dẫn phi tuyến từ bất ổn
chính sách đến hàm cầu tiền tại Việt Nam
vẫn còn rất hạn chế.
Để lấp đầy khoảng trống này, nghiên cứu
được thực hiện với mục tiêu xác định
lượng hóa ảnh hưởng bất cân xứng của bất
ổn chính sách đến cầu tiền tại Việt Nam.
Về dữ liệu phương pháp, nghiên cứu
sử dụng chuỗi dữ liệu theo quý, áp dụng
mô hình tự hồi quy phân phối trễ phi tuyến
(NARDL) để phân tích ảnh hưởng của các
sốc dương âm từ biến số bất ổn. Kết
quả phân tích cung cấp sở khoa học
nhằm hoàn thiện công cụ điều hành chính
sách tiền tệ trong điều kiện môi trường
ngày càng những biến động phức
tạp. Cấu trúc của bài viết được thiết kế
thành năm phần: (i) Đặt vấn đề; (ii)
sở thuyết tổng quan nghiên cứu thực
nghiệm; (iii) Dữ liệu phương pháp
nghn cứu; (iv) Kết quả nghiên cứu thảo
luận; (v) Kết luận và hàm ý chính sách.
2. sở thuyết tổng quan nghiên
cứu thực nghiệm
Ảnh hưởng bất cân xứng của bất ổn chính sách đến cầu tiền ở Việt Nam
24
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
2.1. Cơ sở lý thuyết
sở thuyết về tác động của bất ổn
chính sách đến cầu tiền xuất phát từ thực tế
rằng quyết định nắm giữ tiền mặt của các
chủ thể kinh tế không chỉ chịu tác động bởi
các biến số vĩ mô truyền thống mà còn bởi
mức độ bất định của môi trường kinh tế.
thuyết cầu tiền của Keynes (1936) xác
định ba động nắm giữ tiền: giao dịch,
dự phòng đầu cơ; trong đó thu nhập
lãi suất là hai biến số quyết định chính.
thuyết số lượng tiền tệ hiện đại của Friedman
(1956) khẳng định cầu tiền là một hàm phụ
thuộc vào mức giá, thu nhập thực tế (tương
quan dương) lãi suất (tương quan âm).
Trong một nghiên cứu thực nghiệm sâu
hơn, Friedman (1984) lập luận rằng sự bất
ổn trong tăng trưởng tiền tệ các sốc
chính sách sẽ làm thay đổi kỳ vọng của
công chúng về giá trị tương lai của tiền.
Sự thay đổi này dẫn đến hai hiệu ứng đối
lập tác động lên cầu tiền: (i) Hiệu ứng thay
thế trong đó kỳ vọng tiêu cực về sự mất giá
của tiền tệ khiến các chủ thể chuyển dịch
sang nắm giữ các tài sản thực hoặc tài sản
tài chính khác để bảo toàn giá trị, dẫn đến
cầu tiền giảm. (ii) Hiệu ứng dự phòng: khi
các rủi ro gia tăng thúc đẩy hành vi gia tăng
tích trữ tiền mặt nhằm phục vụ mục đích dự
phòng trong điều kiện bất định. Sự tồn tại
đồng thời của hai hiệu ứng này tạo ra một
câu hỏi thực nghiệm bản: Tác động ròng
của bất ổn chính sách lên cầu tiền gì?
Liệu hiệu ứng dự phòng có lấn át hiệu ứng
thay thế, quá trình điều chỉnh của cầu
tiền có mang tính đối xứng giữa các chu kỳ
biến động hay không? Những câu hỏi này
đòi hỏi phải được kiểm định thông qua các
hình kinh tế lượng với dữ liệu thực tế,
được trình bày chi tiết trong phần tiếp
theo của nghiên cứu.
2.2. Tổng quan nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng
các thước đo bất ổn khác nhau tác động đến
lượng cầu tiền như bất ổn kinh tế (thường
được đo lường thông qua mức độ biến động
của sản lượng thực tế) được đề cập trong
các nghiên cứu của Bahmani-Oskooee
cộng sự, 2018; Bahmani-Oskooee Xi,
2014; bất ổn tiền tệ (đo lường qua sự biến
động của cung tiền danh nghĩa hoặc lượng
tiền rộng M2) (EI-Rasheed cộng sự,
2017) bất ổn chính sách kinh tế- EPU
(Bahmani-Oskooee & Nayeri, 2018a) hay
Chỉ số bất ổn thế giới- WUI (Akinlo, 2024).
Tuy nhiên, tác động của bất ổn chính sách
đến cầu tiền là không rõ ràng.
Nhóm thứ nhất cho rằng tăng bất ổn chính
sách nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng
về nhu cầu tiền tệ. Trong điều kiện bất ổn
chính sách, rủi ro lãi suất tăng làm tăng
rủi ro của các chứng khoán thu nhập cố
định, do đó sẽ khiến cho các chủ thể tham
gia sẽ thay thế các chứng khoán này bằng
tiền mặt (Choudhry, 2023). Bên cạnh đó,
bất ổn chính sách gia tăng cũng ảnh hưởng
đến lãi suất, lạm phát tỷ giá hối đoái,
từ đó làm khuếch đại tác động của đến
nhu cầu về tiền (Nusair cộng sự, 2024).
Các bằng chứng thực nghiệm từ nền kinh
tế lớn nhất thế giới xác nhận kết quả này.
Bahmani-Oskooee cộng sự (2016), sử
dụng dữ liệu quý của Mỹ trong giai đoạn
1997- 2013 thông qua hình phân phối
trễ tự hồi quy (ARDL), đã tìm thấy tác
động tích cực của EPU đến cầu tiền cả
trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả này ngụ
ý rằng, ngay cả tại một thị trường tài chính
phát triển như Mỹ, người dân vẫn xu
hướng tích trữ tiền mặt khi sự thiếu nhất
quán trong điều hành chính sách. Trước
đó, Choi Oh (2003) cũng chỉ ra rằng cả
bất ổn tiền tệ sản lượng đều tác động
đến cầu tiền. Tuy nhiên, nếu sự bất ổn trở
nên quá lớn, thể kích hoạt hiệu ứng
ngược lại, đẩy dòng tiền sang các tài sản
NGUYỄN THỊ QUÝ - PHẠM THỊ THU HIỀN
25
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
khác ít biến động hơn.
Nhóm thứ hai xác nhận bất ổn chính sách
lại làm giảm nhu cầu về tiền tệ. Theo
Choudhry (2023), bất ổn chính sách kinh
tế khiến tất cả các tài sản danh nghĩa trở
nên rủi ro hơn, giá trị của chúng về
mặt hàng hóa dịch vụ sẽ khó dự đoán
hơn. Trong những điều kiện như vậy, các
chủ thể tham gia trong nền kinh tế thể
chuyển từ các tài sản danh nghĩa bao gồm
cả tiền sang các tài sản hữu hình như vàng
hoặc hàng hóa. Như vậy, bất ổn chính sách
gia tăng thể gây ra hiệu ứng thay thế
từ việc đang nắm giữ tiền mặt sang các tài
sản ít biến động hơn, tức bất ổn đã làm
giảm lượng cầu tiền. Nhiều nghiên cứu
thực nghiệm đã tìm thấy bằng chứng hỗ
trợ cho chế này. Bahmani cộng sự
(2015) khi nghiên cứu tại Anh đã xác nhận
bất ổn chính sách làm giảm cầu tiền trong
ngắn hạn. Tương tự, Bahmani-Oskooee
Arize (2020) áp dụng hình ARDL kết
hợp kỹ thuật GARCH để đo lường độ biến
động tại Nam Phi, kết luận rằng bất ổn
tài chính tác động tiêu cực đáng kể đến
lượng tiền nắm giữ. Ivanovski và Churchill
(2019) cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn
về sự thay đổi hành vi theo thời gian tại Úc
(giai đoạn 1998- 2017). Kết quả xác nhận
trong ngắn hạn, bất ổn chính sách gây tác
động tiêu cực (do người dân chuyển sang
tài sản khác); tuy nhiên trong dài hạn, khi
các biện pháp kiểm soát lạm phát được
kỳ vọng sẽ phát huy tác dụng, người dân
lại quay trở lại nắm giữ tiền mặt để duy
trì thanh khoản. Ngược lại, Bahmani-
Oskooee Nayeri (2018b) trong nghiên
cứu về Mỹ (1998- 2017) lại thấy rằng sự
gia tăng bất ổn làm giảm cầu tiền (người
dân thận trọng), nhưng khi bất ổn giảm thì
không có tác động đáng kể. Điều này gợi ý
rằng nhà đầu phản ứng mạnh khi rủi ro
tăng, nhưng không vội thay đổi danh mục
khi tình hình ổn định lại.
Nhóm thứ ba đi vào phân tích tác động
của bất ổn chính sách đến cầu tiền cân
xứng hay bất cân xứng. Bahmani-Oskooee
Nayeri (2018a) khi sử dụng hình
ARDL tuyến tính đã không tìm thấy tác
động đáng kể nào của bất ổn chính sách
đến cầu tiền. Tuy nhiên, khi chuyển sang
hình NARDL, kết quả đã chỉ ra sự bất
cân xứng: bất ổn tăng làm giảm cầu tiền,
nhưng bất ổn giảm lại không tác động.
Điều này hàm ý rằng tồn tại mối quan hệ
bất cân xứng giữa bất ổn chính sách
cầu tiền. Tại Anh (giai đoạn 1997- 2016),
Bahmani-Oskooee và Nayeri (2020) thông
qua hình NARDL cho rằng cả việc gia
tăng hay sụt giảm bất ổn chính sách đều làm
tăng lượng tiền mặt nắm giữ, cho thấy tâm
phòng thủ rất cao của người dân Anh.
Trong khi đó, nghiên cứu của Choudhry
(2023) lại tìm thấy mối quan hệ tuyến tính
tiêu cực ràng giữa hai biến số này. Tại
châu Á, Ongan Gocer (2021) phân tích
dữ liệu của Nhật Bản (2000- 2018) và cung
cấp bằng chứng thuyết phục về tính bất cân
xứng: sự gia tăng bất ổn chính sách tiền
tệ làm giảm cầu tiền (hiệu ứng thay thế
mạnh hơn), trong khi sự giảm bớt bất ổn
lại khuyến khích cầu tiền tăng lên. Kết quả
này cũng được xác nhận trong nghiên cứu
của Fotie và Fotie (2024).
Như vậy, từ tổng quan các nghiên cứu
thực nghiệm cho thấy, tác động của bất ổn
chính sách đến cầu tiền vẫn còn gây tranh
cãi, khi bằng chứng thực nghiệm chia
thành ba hướng chính: (i) bất ổn chính sách
làm tăng nhu cầu tiền do chức năng phòng
ngừa và thanh khoản; (ii) bất ổn chính sách
làm giảm nhu cầu tiền thông qua hiệu ứng
thay thế sang các tài sản an toàn khác;
(iii) tồn tại mối quan hệ bất cân xứng, tức
tác động của sự gia tăng và suy giảm bất ổn
không giống nhau phụ thuộc vào bối cảnh
kinh tế cụ thể của từng quốc gia (Bahmani-
Oskooee & Nayeri, 2019, 2020; Ongan &
Ảnh hưởng bất cân xứng của bất ổn chính sách đến cầu tiền ở Việt Nam
26
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
Gocer, 2021). Điều này hàm ý rằng kết quả
thực nghiệm rất khác biệt, chịu ảnh hưởng
bởi đặc thù kinh tế, mức độ phát triển của
thị trường tài chính, cơ chế điều hành chính
sách và khả năng dự đoán môi trường vĩ mô
mỗi quốc gia. Mặt khác, các bằng chứng
thực nghiệm hiện tại chủ yếu tập trung vào
các nền kinh tế phát triển (Mỹ, Anh, Nhật
Bản, Úc) hoặc quốc gia mới nổi như Nam
Phi. Cho đến nay, hầu như chưa nghiên
cứu hệ thống nào xem xét tác động (đặc biệt
bất cân xứng) của bất ổn chính sách đến
hàm cầu tiền Việt Nam- một nền kinh tế
đang chuyển đổi với thị trường tài chính
chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, nghiên cứu
sử dụng chỉ số bất ổn thế giới (WUI- World
Uncertainty Index) để đo lường bất ổn chính
sách thay sử dụng chỉ số bất ổn chính sách
(PU- Policy Uncertainty Index) trong mối
quan hệ với cầu tiền như các nghiên cứu
trước đó của Bahmani‐Oskooee Nayeri
(2018, 2020). Chỉ số WUI được coi là toàn
diện hơn so với PU và giúp nghiên cứu ảnh
hưởng của bất ổn chính sách đến cầu tiền có
cơ sở dữ liệu đa chiều hơn, tránh bỏ sót các
yếu tố bất ổn lan tỏa từ bên ngoài (Ahir
cộng sự, 2022). Do đó, nghiên cứu sẽ cung
cấp thêm bằng chứng thực nghiệm mới cho
một nền kinh tế đang phát triển châu Á,
vốn chưa được xem xét ở khía cạnh bất cân
xứng của bất ổn chính sách một cách toàn
diện đối với cầu tiền. Đồng thời khám phá
tính bất cân xứng trong quan hệ cầu tiền và
bất ổn chính sách tại Việt Nam thông qua
hình NARDL (thường được chú ý đối
với các thị trường tài chính phát triển). Việc
phát hiện bằng chứng về ảnh hưởng bất cân
xứng sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách
Việt Nam hiểu hơn về chế truyền
dẫn của bất ổn chính sách đến cầu tiền, qua
đó hỗ trợ việc thiết kế các công cụ điều hành
tiền tệ hiệu quả hơn trong bối cảnh nền kinh
tế chưa thực sự ổn định chịu nhiều sốc
bên ngoài.
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu chuỗi thời
gian được tổng hợp theo quý trong giai
đoạn từ quý 1/2000 đến quý 4/2023 của
Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ các tổ
chức uy tín trên thế giới Ngân hàng thế giới
(World Bank), Quỹ Tiền tệ thế giới IMF,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tổng
cục Thống của Việt Nam. Nguồn dữ liệu
thống tả các biến được thể hiện
chi tiết trong Bảng 1, Bảng 2.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên sở thuyết về cầu tiền tệ của
Keynes (1963), Frideman (1956, 1984)
các nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian
gần đây, hàm cầu tiền được xác định bởi
thu nhập thực tế (Y) để tính đến nhu cầu
giao dịch về tiền và lãi suất (R)- chi phí cơ
hội của việc giữ tiền (Bahmani & Nayeri,
2018) và tỷ lệ lạm phát- chi phí cơ hội của
việc nắm giữ số tiền mặt (Crockett &
Evans, 1980; Atta-Mensah, 2004). Áp
dụng khung phân tích này cho Việt Nam,
nghiên cứu đưa các yếu tố trên vào với vai trò
là biến kiểm soát bên cạnh biến bất ổn chính
sách. Mô hình tổng quát có dạng như sau:
lnM(t) = δ0 + δ1PU + δ2lnYt + δ3Rt + δ4IFt +
εt (1)
Trong đó: M- lượng cầu tiền được đo
lường thông qua lượng cung tiền rộng M2.
Đây là chỉ số được sử dụng phổ biến trong
các nghiên cứu về hàm cầu tiền do tính bao
quát hơn so với các đại lượng tiền hẹp hơn
như M0 M1. M2 thường biểu hiện tính
ổn định phù hợp cao trong hình cầu
tiền hơn so với các đại lượng tiền hẹp do
bao gồm những tài sản thể dễ dàng
chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng nhu
cầu thanh khoản (Bahmani-Oskooee &