intTypePromotion=1

Bài thảo luận: Lịch sử triết học Tây Âu phi Macxit hiện đại và đại diện chủ nghĩa hiện sinh

Chia sẻ: Mr Fullhouse | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:23

0
37
lượt xem
4
download

Bài thảo luận: Lịch sử triết học Tây Âu phi Macxit hiện đại và đại diện chủ nghĩa hiện sinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài thảo luận "Lịch sử triết học Tây Âu phi Macxit hiện đại và đại diện chủ nghĩa hiện sinh" được thực hiện với các nội dung: Khái lược về lịch sử triết học Tây Âu phi Mark hiện đại phương Tây, những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh và liên hệ thực tiễn ngày nay. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thảo luận: Lịch sử triết học Tây Âu phi Macxit hiện đại và đại diện chủ nghĩa hiện sinh

  1. MỤC LỤC
  2. MỞ ĐẦU Trong dòng chảy chung của lịch sử  tư  tưởng văn hóa nhân loại, con   người đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, nối tiếp nhau từ thấp   đến cao với những đặc trưng riêng, văn hóa, tư  tưởng riêng. Con người với  bộ não tiến hóa rất cao cho phép thực hiện các suy luận trừu tượng, ngôn ngữ  và xem xét nội tâm đã dần nhận biết thế  giới xung quanh, giao tiếp và góp  phần tạo nên những truyền thống, nghi thức, quy tắc đạo đức, giá trị, chuẩn   mực xã hội, và cả luật pháp... Triết học với vai trò là hệ thống tri thức lý luận   chung nhất của con người về  thế  giới, về vị trí vai trò của con người trong  thế giới đó đã trở thành công cụ đắc lực trong quá trình nhận biết và chế ngự  thiên nhiên và sự  nghiệp giải phóng con người của những lực lượng xã hội  tiến bộ. Nghiên cứu những vấn đề  cơ  bản của triết học giúp con người xây   dựng được phương pháp biện chứng trong nhận thức và cải tạo thế giới. Với   từng thời  kỳ, từng  điều kiện tự  nhiên, văn  hóa xã hội khác  nhau mà các   trường phái, quan điểm, tư  tưởng triết học lại có những đặc điểm riêng,  phương pháp nghiên cứu riêng xoay quanh các vấn đề  cơ  bản của triết học   như mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái   nào quyết định cái nào, con người có khả năng nhận thức thế giới không?...  Không nằm  ngoài  mục  đích nhận biết và chế  ngự  thiên nhiên và sự  nghiệp giải phóng con người của những lực lượng xã hội tiến bộ  nói trên,  với những đặc điểm riêng biệt, các trào lưu triết học phương Tây hiện đại  cũng có sự hình thành và phát triển nhất định tương ứng với điều kiện khách  quan từng giai đoạn khác nhau, gắn với lợi ích của một giai cấp nhất định.   Triết học phương Tây hiện đại ra đời trên cơ  sở  kế  thừa có chọn lọc triết  học phương Tây cận đại và triết học cổ  điển bao gồm triết học chủ  nghĩa   Marx và triết học phương Tây hiện đại phi Marx. Với sự  sáng tạo ra chủ  nghĩa duy vật biến chứng, tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa t ư duy với   tồn tại   trên lập trường duy vật triệt để  và nghiên cứu các quy luật chung  nhất của tự  nhiên, xã hội và tư  duy, triết học Marx đã trở  thành một trong   những trường phái triết học có tính logic và đóng vai trò to lớn trong đời sống  2
  3. xã hội thế  giới hiện nay. Tuy nhiên sẽ  là rất thiếu sót nếu chỉ  tập trung vào   nghiên cứu triết học Marx mà quên đi vai trò và sự  ra đời, tồn tại song hành  của các trào lưu triết học phương Tây hiện đại phi Marx đặc biệt là   Chủ   nghĩa hiện sinh  – một trong những trào lưu có  ảnh hưởng rất lớn tới con   người trong bối cảnh xã hội phát triển và có nhiều bất  ổn, áp lực như  ngày  nay. Bài thảo luận “Lịch sử triết học Tây Âu phi Macxit hiện đại và đại diện   chủ  nghĩa hiện sinh”  được nhóm 5 lớp cao học  K18.01.NHB tiến hành để  hiểu sâu sắc Triết học phương Tây hiện đại đặc biệt là chủ  nghĩa hiện sinh,  từ đó có cơ sở để lý giải và đối xử toàn diện, sâu sắc đối với triết học Mark   đã nghiên cứu ở bậc đại học và làm giàu và phát triển tư duy triết học, tư duy   trừu tượng khoa học của người học. Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bài thảo luận gồm hai phần chính cụ  thể : ­ Phần thứ  nhất: Khái lược về  lịch sử  triết học Tây Âu phi Mark hiện   đại phương Tây ­ Phần thứ hai: Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh và liên hệ  thực tiễn ngày nay. 3
  4. PHẦN I: KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU PHI MARK  HIỆN ĐẠI PHƯƠNG TÂY 1. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX  Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản Phương Tây chuyển nhanh từ  giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (Đế quốc chủ nghĩa) Khoa học kỹ  thuật phát triển làm thay đổi hiểu biết của con người về  thế giới và tạo cơ sở cho cách mạng công nghiệp, một sự chuyển đối căn bản  của các nền kinh tế  thế  giới. Việc sử  dụng những hình thức sản xuất mới   như các nhà máy, sản xuất hàng loạt, và cơ giới hoá để sản xuất ra nhiều loại  sản phẩm với tốc độ  nhanh hơn và tốn ít nhân công hơn. Kinh tế  phát triển   kèm với đó là ô nhiễm công nghiệp và những tổn hại đối với môi trường thiên  nhên. Thế kỷ XX: chứng kiến sự giảm sút mức độ  thống trị thế  giới của giới  tư sản Châu Âu  Chiến tranh thế  giới thứ  nhất (6/1914­11/1918): Đây là cuộc chiến tranh  có chiến trường chính bao trùm khắp châu Âuvà ảnh hưởng ra toàn thế  giới,  lôi kéo tất cả  các cường quốc châu Âu và Bắc Mỹ vào vòng chiến với số  người chết trên 19 triệu người với sức tàn phá và ảnh hưởng về vật chất tinh  thần cho nhân loại rất sâu sắc và lâu dài  Tất cả những Đế  quốc quân chủ  đều sụp đổ trong cuộc chiến tranh này. Sau chiến tranh, châu Âu lâm vào tình  trạng khủng hoàng và những cao trào dân tộc chủ  nghĩa trỗi dậy  ở  các nước  bại trận Chiến   tranh     thế   giới   thứ   hai   (đầu   1939   –   1945):   Hầu   hết   mọi lục  địa trênthế  giới đều bị   ảnh hưởng của cuộc chiến này, ngoại trừ   châu Nam  Cực và Nam Mỹ.  Cuộc chiến kết thúc tại châu Âu khi Đức đầu hàng vào ngày  8 tháng 5 năm 1945 (Châu Á: khi Nhật đầu hàng ngày 2/9/1945). Chiến tranh thế  giới thứ hai là một cuộc chiến tranh toàn diện, kể cả dân thường không ở mặt  trận cũng bị  đánh bom hàng loạt. Khoảng 70 triệu người đã bị  chết do cuộc   chiến này (thống kê vẫn tiếp tục nghiên cứu).  60% người chết là thường dân,  4
  5. chết vì bệnh dịch, nạn đói, nạn diệt chủng, bom đạn  và do thiếu lương thực  và không có dịch vụ cần thiết cộng thêm việc phá hoại nhà cửa và các phương  tiện cho dân trong chiến tranh Sau cuộc chiến, châu Âu bị chia ra làm hai phái: một phía chịu ảnh hưởng  phương Tây do Hoa Kỳ đứng đầu, còn phía kia chịu  ảnh hưởng của Liên Xô.  Đức bị các lực lượng từ Mỹ, Anh, Liên Xô và Pháp chiếm đóng, trong khi Áo  bị chia cắt từ Đức và cũng bị chiếm đóng một cách tương tự. Ảnh hưởng thế  giới lâu dài: Hầu hết các quốc gia đã theo phía này hay  phía kia trong chiến tranh. Một số quốc gia theo cả hai phía vào các thời điểm  khác nhau. Mọi lục địa có người ở, trừ Nam Mỹ, đều có trận chiến. Ngay cả  các nước trung lập cũng bị ảnh hưởng sâu sắc trong chiến tranh và sau chiến  tranh. Giữa thế kỷ XX, các cuộc cách mạng khoa học­kỹ thuật đạt được nhiều  kết quả  nghiên cứu mới, Thuyết tương đối rộng và hẹp (1905, 1915), tìm ra   điện tử  tia phóng xạ, Học thuyết về  Gien, Vật lý lượng tử  v.v. làm đảo lộn  nhiều tri thức trước đó.  Việc ứng dụng kết quả của khoa học đã làm cho loài  người chế  tạo được nhiều dạng công cụ  lao động mới, đưa năng suất lao   động lên cao chưa từng thấy, đồng thời, loài người cũng chế tạo ra những vũ  khí giết người hàng loạt (bom nguyên tử, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, vũ   khí sinh, hoá học v.v.) với lượng chất nổ trong tay, con người có thể phá huỷ  được nhiều lần Trái Đất. Cuộc chạy đua vũ trang, sự  phá huỷ  môi trường   sống luôn đặt loài người trước những thảm hoạ khủng khiếp và khó lường. 2. Khái quát về sự phát triển của triết học phương tây hiện đại và xu  thế phát triển 2.1 Các giai đoạn phát triển • Giai đoạn thứ  nhất:  từ  giữa thế  kỷ  XIX (triết học cổ  điển Đức kết  thúc, triết học Mác hình thành) đến đầu những năm 70 của thế kỷ XIX (công   xã Paris) 5
  6. • Giai đoạn thứ  hai: từ  những năm 70 của thế  kỷ  XIX đến đầu thế  kỷ  XX (chiến tranh thế giới thứ nhất và Cách mạng tháng Mười Nga) • Giai đoạn thứ ba: từ Đại chiến thế  giới thứ nhất và Cách mạng tháng  Mười Nga đến những năm 50 của thế kỷ XX • Giai đoạn thứ tư: từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay: 2.2. Xu thế phát triển  Triết học phương tây hiện đại thể hiện ở ba xu thế phát triển: Một là, trào lưu triết học duy lý khoa học  mà đại diện là chủ nghĩa thực   chứng, sau đó là chủ nghĩa thực chứng mới là một thứ chủ nghĩa duy khoa học  nổi bật nhất. Chủ nghĩa hậu thực chứng đã thay thế với các trường phái như  chủ  nghĩa duy lý mới, chủ  nghĩa duy lý phê phán, đặc biệt là triết học phân  tích Mỹ. Hai là, trào lưu triết học nhân bản phi lý tính. Đây chính là sự phản ứng  chống lại chủ  nghĩa duy lý, chống lại sự  thống trị  kỹ  thuật của chủ  nghĩa  thực chứng duy khoa học. Vì vậy, nó là một thứ  chủ  nghĩa phi duy lý nhằm   khẳng định những bản sắc của con người. Xu hướng này bao gồm chủ nghĩa  Freud, triết học đời sống, nhân học triết học, chú giải học, hiện tượng học,  chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc… Ba là, trào lưu triết học tôn giáo với chủ nghĩa Tômat mới được thay thế  bằng chủ nghĩa Teihard. Như  vậy có thể thấy từ  giữa thế kỷ XIX đến nay, triết học phương   Tây hiện đại đã phát triển rất phong phú và đa dạng theo từng thời kỳ. Từ   dần xa rời truyền thống duy vật và biện chứng của triết học Anh, Pháp,   Đức vào thời kỳ  đầu, triết học phương Tây hiện đại đã  chuyển hướng   sang chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình, nhưng sau đó không ngừng phân   hóa thành nhiều trường phái và xoay quanh hai trào lưu chủ  yếu, đó là   chủ nghĩa duy khoa học và chủ nghĩa nhân bản phi duy lý. 6
  7. 3. Đặc trưng chủ yếu của Triết học phương Tây hiện đại Cùng với tiến trình của lịch sử, triết học phương Tây hiện đại đã có  những diễn biến phức tạp của sự phân hóa và sự  thích hợp với thời đại. Từ  đó nó biểu hiện một số đặc trưng nổi bật sau: ­ Triết học phương Tây hiện đại có ý đồ  vượt lên trên sự  đối lập của  chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đều nhằm phủ nhận vấn đề cơ bản  của triết học. Triết học Phương Tây hiện đại chỉ  coi những vấn đề  lô gíc   học, kết cấu ngôn ngữ, quan hệ  ngôn ngữ  và tư  duy mới là những vấn đề  trung tâm của triết học và tuyên bố chống cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa  duy tâm. Tuy vậy, tính chất duy tâm của triết học phương Tây hiện đại lại  thể hiện rõ trong triết học lịch sử, phủ định tính quy luật khách quan của sự  phát triển xã hội. ­  Triết học phương Tây hiện đại giải thích sai lệch hoặc chống lại phép   biện chứng của chủ nghĩa Mác. Triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít  giải thích sai lệnh hoặc chống lại phép biện chứng, nó chỉ thừa nhận biến đổi  về lượng mà không thừa nhận biến đổi về chất, hoặc tuyệt đối hoá quá trình  vận động, phủ  nhận sự  đứng im tương đối, làm cho phép biên chứng mang   màu sắc thần bí. ­ Với tư cách là hình thái ý thức tư sản ở giai đoạn xã hội tư sản lâm vào   khủng hoảng sâu sắc, triết học phương Tây hiện đại đã không còn mang một  hình thức lý luận thống nhất và hoàn chỉnh. Phá vỡ  sự  thống nhất giữa bản   thể luận, nhận thức luận và lô gíc học. Với tư cách là hình thái ý thức tư sản   ở giai đoạn xã hội tư sản lâm vào khủng hoảng sâu sắc, triết học phương Tây  hiện đại đã không còn mang một hình thức lý luận thống nhất và hoàn chỉnh.  Nó phá vỡ  sự thống nhất của bản thể luận, nhận thức luận và lôgíc học, đề  cao khoa học để hạ thấp triết học, quy triết học là sự tổng hợp của các khoa  học cụ thể hoặc sự phân tích về phương pháp mà thực chất là nhằm thủ tiêu  triết học.  ­ Là hình thái ý thức của giai cấp tư sản nhưng khuynh hướng chính trị  của các trường phái lại có sự khác biệt nhất định. Đặt ra được nhưng không  7
  8. giải quyết đúng một số  vấn đề  cấp bách hiện nay của nhân loại. Triết học  phương Tây tư sản hiện đại xuất hiện với tư cách là hình thái ý thức của giai   cấp tư  sản, nhưng khuynh hướng chính trị  của các trường có sự  khác biệt  nhau. Biện hộ  cho chủ  nghĩa tư  bản, bộc lộ  trạng thái hoang mang của tầng   lớp trung gian đối với sự khủng hoảng của xã hội tư sản v.v. Quan hệ giữa khoa học kỹ thuật và con người. Sự tiến bộ của khoa học   kỹ thuật có ý nghĩa gì đối với đời sống của con người? Chủ nghĩa ta bản có  tiền đồ  hay không?  nhân loại rốt cuộc sẽ  ra sao? Đã phát hiện đúng một số  nhược điểm của chủ  nghĩa kỹ  trị  và triết học duy lý, đã vạch ra những mâu  thuẫn, khủng hoảng, nhất là hiện tượng tha hoá của xã hội phương Tây hiện  đại, nhưng các nhà triết học phương Tây bị  hạn chế   ở  lập trường duy tâm   không tổng kết và khái quát đúng quy luật phát triển của khoa học. Như vậy triết học phương Tây hiện đại phản ánh được một số  vấn đề  mới của thời đại hiện nay, đã có những tìm tòi và đạt được nhiều thành quả  nhận thức nhất định, song do hạn chế về lập trường giai cấp nên không đưa  ra được câu trả lời khoa học cho các vấn đề đó, càng không thể chỉ ra phương  hướng phát triển của nhân loại. PHẦN II: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH  VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ HIỆN NAY 1. Trào lưu triết học nhân bản phi lý tính Như đã trình bày phía trên, từ đầu thế kỷ XX, nhất là sau chiến tranh thế  giới thứ  hai, triết học phương Tây hiện đại không ngừng phân hóa thành  nhiều trường phái, nhưng xoay quanh hai trào lưu chủ  yếu, đó là chủ  nghĩa  duy khoa học và chủ nghĩa nhân bản phi duy lý. Ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản đi  lên, chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa nhân đạo đã từng là hai vũ khí tư tưởng của  giai cấp tư sản chống lại chế  độ  phong kiến và thần học và chủ  nghĩa kinh  viện. Lúc đó, giai cấp tư sản tôn sùng lý tính, đề  cao khoa học và chủ  nghĩa  nhân đạo để dùng chúng chống lại tôn giáo và chế độ chuyên chế phong kiến.   Trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư  sản nhằm xác lập và phát triển chủ  8
  9. nghĩa tư bản, thì chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa nhân đạo thống nhất với nhau  và đã có vai trò lịch sử  tiến bộ. Sau khi giành được chính quyền, giai cấp tư  sản buộc phải đối phó với những lực lượng xã hội mới và các mâu thuẫn xã  hội mới ngày càng bộc lộ gay gắt. Họ không còn nhu cầu chống lại thần học,   tôn giáo như trước đây. Nhưng để phát triển sức sản xuất, củng cố sự thống   trị của bản thân họ, giai cấp tư sản cần phát triển khoa học kỹ thuật. Vì vậy,   giai cấp này tìm cách điều hoà mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo. Dưới   chế độ tư bản, tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất phát triển   mạnh mẽ nhưng vẫn không đưa lại “tự do, bình đẳng, bác ái”. Trái lại, nó còn   dẫn đến các cuộc khủng hoảng xã hội, khủng hoảng tinh thần, khủng hoảng   sinh thái ngày càng sâu sắc, đẩy con người vào tình trạng tha hoá toàn diện   ngày càng nặng nề hơn. Trong điều kiện lịch sử đó, trong triết học phương Tây đã diễn ra sự tách  biệt và sự đối lập giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa nhân bản. Để phát triển  sản xuất, gia tăng lợi nhuận, giai cấp tư sản cần đến khoa học, nhưng lại lý  giải khoa học một cách duy tâm, do đó đã hình thành trào lưu triết học duy  khoa học theo lập trường duy tâm đẩy mâu thuẫn trong vấn đề  con người và  xã hội, giai cấp tư sản không muốn thừa nhận các quy luật khách quan của sự  phát triển nên họ  đề  cao chủ  nghĩa phi duy lý. Do đó đã hình thành trào lưu   chủ nghĩa nhân bản phi duy lý. Chủ nghĩa nhân bản phi duy lý hay còn gọi là  trào lưu triết học nhân bản phi lý tính chính là sự  phản  ứng chống lại chủ  nghĩa duy lý, chống lại sự  thống trị  kỹ  thuật của chủ  nghĩa thực chứng duy  khoa học. Nó là một thứ  chủ  nghĩa phi duy lý nhằm khẳng định những bản   sắc của con người mà đại diện có thể  kể  đến như: chủ  nghĩa Phreud, triết  học đời sống, nhân học triết học, chú giải học, hiện tượng học, chủ  nghĩa  thực dụng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc… 2. Chủ nghĩa hiện sinh và những nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện  sinh 2.1 Bối cảnh lịch sử và nguyên nhân ra đời * Về bối cảnh lịch sử 9
  10. Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học chủ yếu trong trào lưu  chủ nghĩa nhân bản phi duy lý Triết học hiện sinh đặt lên vị trí hàng đầu tính  đặc thù độc đáo của tồn tại con người. Tính độc đáo này không thể nhận thức  bằng khái niệm và cũng không thể  diễn đạt qua ngôn ngữ. Chủ  nghĩa hiện   sinh bắt nguồn từ  học thuyết của Kiếckegơ  và trở  thành một trào lưu tư  tưởng phổ biến  ở Đức vào những năm 20 của thế kỷ XX. Lúc đó nước Đức   thua trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất và bị tàn phá nghiêm trọng. Triết   học hiện sinh của Hâyđơgiơ  phản ánh tâm trạng bi quan của xã hội Đức   trước sự  tàn phá đó. Trong chiến tranh thế  giới II, trung tâm của chủ  nghĩa  hiện sinh từ  nước Đức chuyển sang nước Pháp. Sau chiến tranh thế  giới II,   mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản tiếp tục phát triển gay gắt. Các cuộc khủng  hoảng nhiên liệu, khủng hoảng sinh thái cùng với đạo đức xã hội suy thoái đã  làm tăng sự khủng hoảng về tâm hồn trong xã hội các nước tư bản chủ nghĩa,  khiến cho tư  tưởng hiện sinh lan tràn trên nước Mỹ  và sang nhiều nước  phương Tây khác. Chủ  nghĩa hiện sinh đầu thế  kỷ  XX có cội nguồn sâu xa  mà trực tiếp nhất là triết học phi duy lý ở thế kỷ XIX.  *Về nguyên nhân ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh ra đời từ hai nguyên nhân trực tiếp sau đây: ­ Nguyên nhân thứ nhất là từ mâu thuẫn của xã hội tư bản. PTSX TBCN  chạy theo lợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng tha hoá cùng cực,  lấy đi của họ cái vị trí làm người đích thực. Những tệ nạn xã hội cùng với sự  tàn phá khủng khiếp từ  hai cuộc thế  chiến do chủ  nghĩa đế  quốc gây ra đã   đẩy con người vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần.   Nhiều luận điểm của chủ nghĩa hiện sinh cùng với phong trào hiện sinh thể  hiện sự nổi loạn trong lòng xã hội tư bản nhằm lên án nó, chống lại nó, kêu  gọi con người phải tự cứu lấy mình. Nhưng dựa vào cái gì để  cứu mình và  cứu xã hội thì họ chưa rõ. ­ Nguyên nhân thứ  hai  là phản  ứng trước việc các nước phương Tây  tuỵêt đối hoá vai trò của khoa học, sùng bái kỹ  thuật đã hạ  thấp, bỏ  rơi con   người hoặc chỉ  quan tâm đến mặt vật chất mà xem nhẹ  mặt tâm hồn, đời   10
  11. sống tình cảm của họ. Triết học duy lý đã từng có vai trò tích cực nhất định  trong việc làm cho các nước phương Tây đạt được những thành tựu vượt bậc  trong chinh phục tự  nhiên bằng khoa học, công nghệ  hiện đại. Đồng thời  khoa học kỹ  thuật cũng bắt con người phải gánh chịu những hậu quả  nặng  nề về môi trường, xã hội, sinh thái, sức khoẻ. Một xã hội phương Tây giàu có  về vật chất lại nghèo nàn về văn hoá, tinh thần; tăng trưởng nhanh về kinh tế  lại suy thoái nhanh về văn hóa, đạo đức. Các nhà triết học hiện sinh hoàn toàn  có lý khi họ kịch liệt phê phán sự tuyệt đối hoá vai trò của lý trí, của khoa học  khi họ vạch rõ sự thiếu hụt tinh thần nhân đạo trong chính nền tảng của văn  minh phương Tây.  Nhưng họ  đã mắc sai lầm khi chỉ  thừa nhận vai trò của  cảm giác, của xúc cảm cá nhân, tức là ngả sang phía chủ quan phi duy lý. 2.2. Các nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh Chủ  nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học rất phức tạp. Quan   điểm của những đại biểu triết học này thường có sự khác nhau rất lớn. Ngoài  sự phân biệt quốc gia như chủ nghĩa hiện sinh Đức, chủ nghĩa hiện sinh Pháp  và chủ nghĩa hiện sinh của Mỹ, còn có thể phân biệt chủ nghĩa hiện sinh theo  thái độ  với tôn giáo như  chủ  nghĩa hiện sinh vô thần và chủ  nghĩa hiện sinh  hữu thần. Trên những vấn đề chính trị lớn, giữa những nhà triết học hiện sinh   cũng có những khác biệt lớn. Nhưng tất cả những người theo chủ nghĩa hiện  sinh đều coi sự hiện sinh của cá nhân là nội dung cơ bản trong triết học của   mình, đều coi hiện sinh là sự cảm thụ chủ  quan, sự thể nghiệm tâm lý có tính  chất phi lý tính của cá nhân. Các nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh thể  hiện ở các điểm cụ thể như sau: Về mặt bản thể luận: Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh việc nghiên cứu   bản thể  luận nhưng cho rằng khuyết  điểm căn bản của triết học truyền   thống không phải là đã nghiên cứu bản thể luận mà là phương hướng nghiên   cứu không đúng, không giải thích đúng đắn đối với hiện sinh. Bởi vì hiện sinh  có trước bản chất. Xactơrơ giải thích điều này như sau:  Thế nào là hiện sinh  có trước bản chất? Điều đó có nghĩa là con người hiện hữu trước, tự nổi lên  trong thế giới, và sau đó nó mới được định nghĩa. Con người nếu như nó không  11
  12. định nghĩa được, đó là vì không có cái gì cả. Con người không có cái gì khác  ngoài cái mà nó đang hiện ra. Các nhà hiện sinh phân biệt hai khái niệm hữu thể  và hiện hữu (hiện  sinh). Hữu thể là khái niệm chỉ  một cái gì đó (một vật,một người) đang tồn  tại, đang có mặt nhưng chưa là một cái gì đó cụ  thể  cả, chưa có diện mạo,  chưa có cá tính. Đó là một tồn tại chưa sống đích thực, vô hồn tức là chưa   hiện hữu. Còn hiện hữu là một khái niệm chỉ  một cái gì đó không những là  đang có mặt (tồn tại) mà còn là đang sống đích thực với diện mạo riêng. Do đó hiện sinh không phải là giới tự  nhiên hoặc sự  vật, mà là con   người. Bởi vì chỉ có con người mới hiểu được sự tồn tại của bản thân và của  sự  vật khác. Chỉ  có con người mới có hiện sinh. Hiện sinh của con người   không phải là sự  tồn tại lịch sử  cụ  thẻ  của họ trong những quan hệ xã hội,   mà là sự  tồn tại tinh thần của nhân vị. Chỉ  có xuất phát từ  tinh thần tồn tại   của nhân vị mới có thể lý giải ý nghĩa của toàn bộ thế giới. Do đó nhiệm vụ  hàng đầu của triết học là phân tích vè mặt bản thể luận đối với hiện sinh, tức   là mô tả sự tồn tại bản chất của con người trong hoạt động ý thức phi duy lý  của các cá nhân. Đó mới là bản thể luận duy nhất đúng. Thực chất đây là bản  thể luận duy tâm chủ quan. Về  mặt nhận thức luận: do đã coi vấn đề  bản thể luận trung tâm của  triết học là sự cảm thụ chủ quan và thái độ ứng xử của cá nhân nên chủ nghĩa   hiện sinh không chú trọng nghiên cứu nhận thức khoa học. Trái lại, chủ nghĩa  hiện sinh cho rằng những tri thức khoa học thu được do lý tính là hư   ảo.   Người ta càng dựa vào lý tính, khoa học thì càng khiến mình bị chi phối, từ đó  bị  tha hoá. Theo họ  để  đạt đến hiẹn sinh chân chínhchỉ  có thể  dựa vào trực   giác phi lý tính. Chỉ có trong cuộc sống đau khổ, cô đơn, sợ hãi, tuyệt vọng…   con người mới có thể  trực tiếp cảm nhận được sự  tòn tại của mình. Như  vậy, nhận thức luận của chủ nghĩa hiện sinh là nhận thức duy tâm chủ  quan  phi duy lý. Về luân lý: Chủ nghĩa hiện sinh phản đối mọi hình thức quyết định luận   trong đạo đức, phủ nhận sự tồn tại phổ biến của các nguyên tắc đạo đức. 12
  13. Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng, tự do là bản chất của sự hiện sinh của cá   nhân con người, nó không phục tùng Thượng đế  hoặc bất cứ  quyền uy nào,  cũng không chịu sự  ràng buộc của bất cứ  tính tất yếu khách quan nào, nó là   tuyệt đối. Giá trị hiện sinh của cá nhân được thể  hiện trong sự lựa chọn của   tự do cá nhân. Chủ nghĩa hiện sinh còn đặt tự do của cá nhân đối chọi với tự  do của cá nhân khác. Tự  do của cá nhân không bị  gò bó bởi người khác hay  bất kỳ  lưc lượng xã hội nào. Như  vậy, quan điểm tự  do của chủ  nghĩa hiện  sinh là quan điểm tự do cá nhân cực đoan. Về quan điểm lịch sử xã hội: Chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ tự do cá  nhân tuyệt đối, cho rằng chỉ có cá nhân mới là hiện sinh chân thực, xã hội chỉ  là một phương thức hiện sinh của cá nhân, hơn nữa là phương thức hiện sinh   không chân thực. Bởi vì xã hội và cá nhân liên hệ chặt chẽ thì sự tồn tại của  cá nhân sẽ  không còn là cá nhân thực sự  mà là cá nhân bị  đối tượng hoá, bị  mất cá tính do bị  ràng buộc với người khác và với xã hội, là cá nhân bị  tập  thể, bị  xã hội lấn át. Do đó, tồn tại xã hội đã bóp chết hiện sinh chân chính   của con người. Để  khôi phục sự  hiện sinh chân chính của mình, con người   cần thoát khỏi sự  ràng buộc của những người khác và của xã hội. Xã hội  chính là sản vật tha hoá của con người, bản thân nó không phải là cái tồn tại  khách quan tự  thân phát triển theo quy luật, mà chỉ  là một mớ  ngẫu nhiên  những con người bị  tha hoá. Động lực phát triển tất nhiên cũng không nằm  trong bản thân xã hội mà là do hiện sinh của cá nhân quyết định. Do đó cần   tìm tiến trình và đặc điểm của lịch sử thế giới ở bên trong cá nhân con người. Chủ nghĩa hiện sinh còn cho rằng, lịch sử là không thể nhận thức được.  Theo họ, lịch sử chẳng qua là sự  biểu hiện ra bên ngoài của tồn tại của con   người, mà sự  tồn tại của con người là không thể  biết được. Vì chúng ta  không hiểu biết về quá khứ, cũng không hiểu biết về tương lai, nên chúng ta   không hiểu được thực sự hiện tại. Cho nên đốivới con người thì líchử xã hội  mãi mãi chỉ là một vùng đen tối. Lịch xã hội đã không thể biết thì đứng trước  xã hội con người tất nhiên cảm thấy yếu đuối, bất lực. 13
  14. Theo chủ  nghĩa hiện sinh, một mặt lịch sử xã hội là sự  tha hoá của tồn   tại cá   nhân, nên bản thân nó không có thực tại khách quan; mặt khác con  người lại bị nô dịch bởi những cái mà họ sáng tao ra, đó là sức mạnh tha hóa.  Hơn nữa, mọi cố  gắng thoát khỏi sự  nô dịch đó đều vô ích, đều bị  thất bại.  Do đó, lịch sử loài người chỉ là một bi kịch không có kết thúc. Vậy con người   làm thế nào để giải thoát khỏi sức mạnh tha hoá và bi kịch của họ? Chủ nghĩa  hiện sinh nhận định rằng không thể  dựa vào khoa học và lý tính hay bất cứ  cái gì khác mà chỉ  có thể  tự  cứu mình bằng những hành động tự  phát, mạo  hiểm hoặc chờ mong sự giải thoát ở các lực lượng tôn giáo thần bí. Đó là con  đường bế tắc mà chủ nghĩa hiện sinh chỉ ra cho con người. Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng của con người trước tình trạng bất   ổn về xã hội trong thời kỳ khủng hoảng toàn diện của chủ nghĩa tư bản như  lo sự chiến tranh, không tin vào khoa học, đau khổ, phiền não, tuyệt vọng vì  thế nó có ảnh hưởng mạnh mẽ, rộng rãi đối với thế giới phương Tây. Từ cuối những năm 60 đầu những năm 70 đến nay, khi mà chủ nghĩa tư  bản đi vào thời kì tương đối ổn định thì vai trò của chủ nghĩa hiện sinh tương   đối mờ nhạt và bị thay thế bởi các triết học khác. Nhưng vì chủ nghĩa tư bản  không có cách nào căn bản thoát khỏi các mâu thuãn xã hội vốn có của nó, nên  chủ  nghĩa hiện sinh tuy đã suy thoái nhưng những tư  tưởng chủ  yếu của nó  vẫn tiếp tục có  ảnh hưởng đến khoa học nhân văn, triết học và khoa học xã  hội ở nhiều nước phương Tây. Giải pháp của chủ nghĩa hiện sinh đối với các  vấn đề xã hội cơ bản là tiêu cực.Nhưng các nhà hiện sinh đã đóng vai trò tích  cực khi họ đặt ra và đề cao nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề về bản chất con  người, về sự tôn vinh các giá trị con người, về tự do cá nhân, về sự tha hoá do   sự thống trị của kĩ thuật v. v. cũng như việc họ thức tỉnh mọi người phải trăn  trở về ý nghĩa của cuộc sống và về các hiện tượng bất hợp lý trong xã hội tư  bản hiện đại. 2.3. Đại biểu chủ yếu của chủ nghĩa hiện sinh 2.3.1. Kierkegaard (1812 – 1855): 14
  15. Kiếckegơ   sinh   ra   tại   Đan   Mạch  ông được coi là cha đẻ  của chủ  nghĩa  hiện sinh.  Ông là triết  gia  đầu tiên  đã  đem   đời   mình,   đời   cha   mình  ra  để   suy  nghiệm về nỗi thống khổ của con người.  Với   ông,   con   người   không   phải   là   con  người trừu tượng, con người phổ  quát,  con người được đem ra làm vật thể để lý  luận   như   trong   triết   học   duy   lý   của  Heghen,   con   người   mà   ông   khảo   sát   ở  đây là chính bản thân ông, với những giai  đoạn trong đường đời. Đó là lý do khiến ông trở  thành ông tổ  đích thực của   triết học Hiện Sinh. Người ta nói rằng “ hiện tượng học Đức + kierkegaard =   chủ  nghĩa hiện sinh” . Ông tiến hành phê phán chủ  nghĩa duy lý của A.Comte,  đặc biệt là của heeghen, có thể nói chủ nghĩa hiện sinh đã rút ra những chủ đề  của   mình   từ   sự   phê   phán   Heghen.   Triết   học   của   Kierkergaard   là   triết   học   nghiệm sinh trên cá nhân tác giả. 2.3.2. Martin Heiderger (1889 –1976):  Martin Heiderger   là một triết gia  Đức.   Ông   chịu   ảnh   hưởng   của triết  học Brentano,   sau   khi   nghiên   cứu,   ông  quyết   định   tìm   hiểu   ý   nghĩa   của khái  niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn  tại người. Ông từng là học trò và là trợ  giảng cho Huxec, sau đó đã kế tục Huxec  giảng dạy triết học tại đại học tổng hợp  Freiburg. Heiderger là người đã thừa nhận tư  tưởng Đức quốc xã, năm 1933 ­1934, ông  15
  16. trở thành hiệu trưởng đại học Freiburg nhưng sau đó do bị  khủng hoảng tinh  thần ông đã từ chức Một số  tác phẩm tiêu biểu của ông: "Tồn tại và thời gian" đây là tác  phẩm đã đưa ông trở  nên nổi tiếng được xuất bản năm 1927; "  Kant và vấn  đề  siêu hình học"; "Nhập môn siêu hình học" (1935); " Học thuyết Platon về  chân lý" (1942); "Bức thư về chủ nghĩa nhân đạo" (1947); "Những con đường  rừng" (1950); Những bài thuyết trình và những bài viết (1952); "Tư duy là gì"   (1954); "Nietzsche" (1961);…. Bản thể luận của Heidegger là học thuyết về tồn tại con người, về cấu  trúc của tồn tại con người. Heidegger cho rằng, triết học châu Âu trước đó chỉ  đặt ra vấn đề  hiện  hữu nói chung và sự hiện hữu tối cao là Chúa, chứ không đặt ra vấn đề: thông  qua cái gì mà tất cả mọi sự hiện hữu mới có thể là hiện hữu? Tức là triết học  truyền thống đã không đặt ra vấn đề tồn tại người. Heidegger cho rằng tồn tại người là xuất phát điểm, là hiện thực đầu  tiên có tính thứ  nhất. Khác các hiện hữu khác, tồn tại người là một hiện   hữu ý thức được sự hiện hữu của chính mình, tức là có khả  năng nhận thức,  khả năng tự hỏi về vấn đề hiện hữu. Tồn tại không phải là các sự vật và nó  cũng khác hiện hữu. Tồn tại người là nền tảng, là nguồn gốc của toàn bộ  hiện hữu. Nếu đối tượng nghiên cứu của bản thể luận truyền thống là vật thể, hay   cao hơn nữa là Chúa trời thì đối tượng nghiên cứu của bản thể  luận chính là  tồn tại. Theo Heiderger tồn tại chính là cái định đoạt sự vật như là sự vật, là  cái trên cơ sở đó sự vật đã được hiểu. Trong các vật thể, con người là một loại đặc biệt. Sự  đặc biệt đó, theo  Heiderger là do trong sự tồn tại của con người có sự  hiện diện sự  hiểu biết  về tồn tại. Chỉ trong sự tồn tại của con người mới tiềm  ẩn m ột s ự hi ểu bi ết   về tồn tại. Nó thể hiện trong cách sống của con người, trong cách con người   liên hệ với các vật thể khác. 16
  17. Heidegger phân biệt hiện hữu là khác với tồn tại, hiện hữu là một cái gì  đó được hình thành và có được bằng một cách nào đó. Bản thân hiện hữu có tính hữu hạn và tính đặc thù. Hiện hữu có nền  tảng là tồn tại người. Hiện hữu là đối tượng của các khoa học tự nhiên (vật  lý, hóa học, sinh học…) và các khoa học xã hội nhân văn (sử học, xã hội học,   nhân học…), trong khi đó chỉ có tồn tại người mới là đối tượng của triết học. Xuất phát từ quan niệm như vậy về tồn tại và hiện hữu, Heidegger đã đi  đến   phê   phán   triết   học   châu   Âu   sau Socrate.   Ông   cho   rằng   triết   học   sau  Socrate đã không phân biệt được sự khác nhau giữa tồn tại người với sự hiện   hữu của các sự vật khác. Nó coi tồn tại người cũng giống như tồn tại của các  sự vật khác, nó đã đồng nhất tồn tại và hiện hữu với nhau. Và như vậy, quan  niệm cũ đó đã đưa đến quan niệm sai lầm về con người, coi con người là một  con vật thuần túy sinh học. Nét đặc trưng cơ bản của tồn tại người là siêu việt, theo Heiderger thì sự  siêu việt này đặc trưng bởi sự  tồn tại trong thế  giới. Mọi mối liên hệ  giữa  con người với vật thể và đồng loại có được là do sự siêu việt này thế nên con  người không phải là "chủ  thể" tư duy, đứng ngoài quan sát và nhận biết thế  giới bên ngoài mà con người, trong sự tồn tại của mình với tư cách là tồn tại  trong thế giới đã luôn ở trong, hóa nhập với thế giới đó. 2.3.3. GI.P.Xáctơrơ (1905­1980) Chủ nghĩa hiện sinh vô thần của Gi.P.Xáctơrơ là sản phẩm của sự dung  hoà, sự kết hợp theo một cách riêng của ba khuynh hướng tư tưởng hiện đại ­  chủ nghĩa Mác, hiện tượng học Huxéc và chủ nghĩa hiện sinh Haiđơgơ ­ trên  cơ sở lấy quan điểm chung của ba khuynh hướng tư tưởng này làm xuất phát  điểm ­ quan điểm khẳng định vai trò tích cực của con người trong việc tự  sáng tạo nên bản chất của chính mình. Nguyên lý nền tảng của chủ  nghĩa  hiện sinh vô thần này là “Tồn tại có trước bản chất”, còn vấn đề  trung tâm  của nó là sự  tự  do của con người. Con người là tự  do nên con người có thể  làm cho mình trở thành một thực thể hiện hữu, tồn tại với tư cách một “nhân   vị”, một “hữu thể”. Bản tính con người là cái không thể  được “định nghĩa”  17
  18. trước bởi Thượng đế  hay một Đấng  sáng tạo nào đó. Con người tự  tạo   nên bản tính của mình bằng sự tự do   lựa chọn sau khi đã tồn tại như  một  “hữu   thể”,   tồn   tại   một   cách   hiện  sinh.  Là người có năng khiếu văn học  từ   rất   sớm,   Gi.P.Xáctơrơ   coi   “văn  học là hoạt động cao nhất của con  người”   và   với   quan   điểm   này,   ông  đặc biệt chú trọng sử  dụng văn học  làm phương tiện chuyển tải những tư  tưởng triết học.  Ở   ông, văn học và   triết học là bất phân. Văn học ở ông là văn học hiện sinh, còn triết học là triết   học hiện sinh. Do vậy, đã có người cho rằng, nói tới triết học hiện sinh của  Gi.P.Xáctơrơ mà bỏ qua văn học hiện sinh của ông thì như vậy, coi như mới  chỉ biết có “một nửa” triết học đó mà thôi. Trong sự nghiệp sáng tạo văn học,  Gi.P.Xáctơrơ  đã để  lại cho nhân loại, trong đó có cả  những người yêu văn  học  ở  nước ta, những tác phẩm vào hàng kinh điển mà không chỉ  nhiều độc   giả  trên phạm vi toàn thế  giới  ở thế  kỷ  XX và có lẽ  còn nhiều độc giả  nữa   trong thế  kỷ  XXI này vẫn đọc chúng một cách say mê. Với những tác phẩm   văn học đầy tính triết lý và mang nặng tư tưởng triết học hiện sinh, đặc biệt  là Buồn nôn và Ruồi mà nhiều độc giả  nước ta đã được đọc qua bản dịch  sang tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn học, vào năm 1964, Gi.P.Xáctơrơ  đã  được  Ủy ban giải Nôben đề  nghị  trao giải Nôben văn học. Thế  nhưng, thật   bất ngờ, Gi.P.Xáctơrơ  đã từ  chối giải thưởng cao quý này với lý do “Tôi  không muốn biến nó thành một cơ chế” và theo chúng tôi, có lẽ còn vì ông đã  nghĩ trước hết và hơn hết, ông là nhà triết học. Không chỉ  thế, Gi.P.Xáctơrơ  còn được tôn vinh bởi ông là một chiến sĩ   kiên cường trên mặt trận chống chủ  nghĩa phát xít (ông tham gia phong trào   kháng chiến chống Đức quốc xã chiếm đóng Pari trong tư cách một quân nhân  18
  19. Pháp và bị quân Đức bắt giam năm 1940, năm sau ông trốn thoát), là nhà hoạt   động chính trị  ­ xã hội lừng danh, người đấu tranh không biết mệt mỏi cho  hòa bình, công lý, cho phong trào giải phóng dân tộc và cho sự  tự  do của con  người. Với những đóng góp lớn lao trên lĩnh vực này, ông đã được Chính phủ  Pháp quyết định trao Huân chương Bắc đẩu bội tinh ­ Huân chương cao quý  nhất của Nhà nước Pháp. Song, cũng lại thật bất ngờ, ông đã từ  chối không  nhận vinh quang này với lý do đã dấn thân vào hoạt động chính trị mà ông cho  là “một cách tích cực”. Năm 1967, với tư  cách là người  ủng hộ  nhiệt thành  cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm  lược, Gi.P.Xáctơrơ  đã được bầu làm Chủ  tịch Tòa án quốc tế  xét xử  tội ác  chiến tranh  ở  Việt Nam. Và, nhân dịp Tòa án này mở  phiên chính thức đầu  tiên, ngày 6 tháng 5 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi đến ông và các vị  trong Tòa án lời chúc mừng và cảm ơn chân thành. Gi.P.Xáctơrơ  còn là người cầm bút  ở  cương vị  nhà báo, là người đồng   sáng lập tờ  báo Giải phóng (Liberation) và tờ  tạp chí Thời đại (Les Temps  Modernes) có khuynh hướng nghiêng về cánh tả. Với tư cách nhà báo, ông đã  viết nhiều bài chính luận nổi tiếng. Là con người nổi tiếng, nhưng Gi.P.Xáctơrơ  lại có cuộc sống đơn sơ,  thậm chí còn nghèo khó trong một căn hộ nhỏ ở Pari để rồi dành sự viên mãn  cho hoạt động sáng tạo triết học và văn học, cho những hoạt động chính trị ­   xã hội và qua đời khi đã viết đến gần như bị mù. Gi.P.Xáctơrơ  chịu  ảnh hưởng sâu xa của chủ  nghĩa Mác, coi chủ  nghĩa   Mác là triết lý của thời đại, đánh giá cao triết học Mác, nhất là chủ nghĩa duy  vật lịch sử  và cũng đã từng đi đến nhiều nước có phong trào cộng sản, tiếp   xúc với nhiều nhà lãnh đạo phong trào này, song ông chưa bao giờ  trở  thành  đảng viên cộng sản với lý do là làm như  vậy, “Tôi sẽ  phải quay lưng lại  vớiTồn tại và hư vô của mình”. Mặc dù còn có những hạn chế  nhất định, song chủ  nghĩa hiện sinh vô  thần của Gi.P.Xáctơrơ  vẫn được thừa nhận là một chủ  nghĩa nhân đạo, một  trào   lưu   triết   học   tiến   bộ   trong   lịch   sử   tư   tưởng   nhân   loại   thế   kỷ   XX.  19
  20. Gi.P.Xáctơrơ  vẫn đi vào lịch sử tư tưởng nhân loại với tư cách “nhà triết học  của thế kỷ XX”, người sáng lập chủ nghĩa hiện sinh vô thần Pháp. 3. Lối sống hiện sinh trong giới trẻ hiện nay Hiện sinh là lối sống mà con người hành động theo bản năng, theo sở  thích đôi khi là muốn làm cái gì đó một cách bồng bột trong lúc mất đi sự  kiểm soát của chính mình. Hiện sinh  ở  lối sống thanh niên đa phần là hành   động theo cảm tính chứ ít lý tính. Lối sống hiện sinh trong tầng lớp thanh niên  Việt Nam  hiện nay  đôi  khi  cũng có  lợi phát huy được khả  năng của con   người; nhưng đa phần là biểu hiện tiêu cực trong lối sống của không ít giới   trẻ hiện nay. Ví dụ  ở  lối sống hiện sinh, như trường hợp không ít bố  mẹ  áp  đặt ngành nghề  cho con em mình. Người Việt Nam có truyền thống lối dõi   tông đường, “con ông cháu cha”, cha truyền con nối. Cha mẹ luôn muốn con  đi theo con đường sự  nghiệp mà họ  muốn và cho rằng đó là con đường an   toàn và hạnh phúc nhất cho con mình; họ  không muốn để  ý đến ước mơ, sở  thích của con cái. Những  đứa trẻ  là con cái của những gia  đình như  vậy   thường có xu hướng theo bố mẹ, nhưng cá biệt với những trường hợp có ước   mơ hoài bão của riêng mình với tư tưởng hiện sinh chúng sẽ  không làm theo   cha mẹ, chúng làm những gì chúng thích và rồi chúng sống hạnh phúc với  nghề nghiệp mình chọn. Lối sống hiện sinh còn thể hiện ở việc giới trẻ kết  hôn với nhau vượt lên trên định kiến gia đình. Điển hình như  việc tuổi tác  không hợp nhau trong hôn nhân, với tư tưởng hiện sinh nhưng đôi yêu nhau sẽ  lấy nhau vì tình cảm mà không cần để  ý đến những định kiến xung quanh  như  không hợp tuổi, hợp mệnh, nhà người này không điều kiện bằng nhà  người kia… Nhiều khi theo chủ nghĩa hiện sinh con người có thể  được sống   thật với bản thân mình với những gì mình có. Mặt trái của chủ  nghĩa hiện   sinh đó là lối sống thực dụng của giới trẻ  hiện nay.   Thanh niên là một lực  lượng đông đảo chiếm trên 1/3 dân số và trên 1/2 lực lượng lao động trong xã   hội, có vai trò quan trọng trong sự  nghiệp xây dựng và bảo vệ  Tổ  quốc; là   người chủ tương lai của nước nhà. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản