intTypePromotion=1
ADSENSE

Bài thu hoạch hết học phần: Xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:11

49
lượt xem
9
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Quan hệ sản xuất tiến bộ là các QHSX khắc phục được những tính chất lạc hậu, tiêu cực của các quan hệ sản xuất trước kia đã tồn tại ở đất nước; phòng tránh; khắc phục được tính chất lạc hậu, tiêu cực của một số QHSX đang tồn tại trên thế giới; chứa đựng càng nhiều giá trị nhân văn, dân chủ, công bằng. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm chi tiết nội dung bài thu hoạch.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thu hoạch hết học phần: Xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam

  1. TỈNH ỦY BÌNH PHƯỚC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ * BÀI THU HOẠCH HẾT HỌC PHẦN Chương trình Trung cấp lý luận chính trị ­ hành chính CHỦ ĐỀ: Xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù  hợp trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam Họ tên học viên: Bùi Quang Tùng Lớp: Trung cấp lý luận CT­HC  TC120 Phần: I.1 Những vấn đền cơ bản của chủ nghĩa  Mác­Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh 
  2. 2 Bình Phước, năm 2021
  3. 3 PHẦN 1: CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ  Trong   điều   kiện   nền   kinh   tế   quá   độ   là   nền   kinh   tế   nhiều   thành   phần,  V.I.Lênin khẳng định: “không thể quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà  phải qua con đường gián tiếp, không thể  quá “vội vàng, thẳng tuột, không được  chuẩn bị” (1). Xây dựng quan hệ sản xuất (QHSX) mới thông qua con đường gián   tiếp là chủ nghĩa tư bản nhà nước. V.I.Lênin chỉ rõ: “Để chuẩn bị….. việc chuyển  sang chủ nghĩa cộng sản, thì phải có một loạt những bước quá độ như chủ nghĩa tư  bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội” (2). Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa  Mác­Lênin, Đảng chủ  trương phát triển kinh tế  nhiều thành phần thông qua phát  triển nền kinh tế thị  trường định hướng xã hội chủ  nghĩa với nhiều hình thức sở  hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ  chức kinh doanh và hình thức phân  phối. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH và   đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn coi trọng mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng các QHSX   của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Có thời kỳ, Đảng ta tập trung nhấn mạnh thiết   lập, củng cố chế độ công hữu; thời kỳ khác, Đảng ta chủ trương xây dựng QHSX  xã hội chủ  nghĩa. Đến Đại hội X (2006) Đảng ta cụ  thể  hóa những đặc trưng,  phương hướng của CNXH  ở nước ta là xây dựng các QHSX phù hợp với trình độ  phát triển của lục lượng sản xuất. Đại hội XI của Đảng đã bổ sung, phát triển đầy   đủ  hơn luận điểm rất quan trọng này là: Xây dựng các quan hệ  sản xuất tiến bộ,   phù hợp. 1.1: Cơ sở lý luận 1.1.1 Các quan hệ sản xuất chính là cơ sở hạ tầng, trên đó từng xã hội thiết  lập một kiến trúc thượng tầng tương  ứng. Thể  chế  chính trị, trước hết là nhà  nước, có đứng vững hay không, suy cho cùng là do QHSX quyết định. Bởi vậy, nhà  nước nào cũng phải chăm lo xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế của mình. Các cuộc   cách mạng, tuy khẳng định chiến thắng ban đầu bằng việc giành lấy chính quyền,  nhưng chỉ có đi đến thắng lợi cuối cùng khi thiết lập xong các QHSX tiến bộ hơn   các QHSX mà mình đấu tranh xóa bỏ. 1.1.1.2: Quan hệ  sản xuất là quan hệ  giữa người với người trong quá trình   sản xuất vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) thể hiện ở quan hệ về mặc sở  hữu đối với tư liệu sản xuất. QHSX bao gồm: Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản   xuất; quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất   ra. Trong đó quan hệ sở hữu chiếm vị trí hàng đầu, chi phối các quan hệ khác. Để  thể hiện tầm quan trọng của QHSX nói chung và quan hệ sở hữu nói riêng, C.Mác   và Ph.Ăngnghen đã khẳng định trong tuyên ngôn Đảng cộng sản: “Trên ý nghĩa   nhất định, giai cấp vô sản có thể  tóm tắt mục tiêu đấu tranh của mình là: Xóa bỏ   tư hữu”. 1.2: Cơ sở thực tiễn Đảng ta luôn coi trọng mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng các QHSX của chế độ xã  hội xã hội chủ  nghĩa. Tuy nhiên, trong thời gian dài chúng ta đã phạm sai lầm chủ  quan, duy ý trí, xây dựng các QHSX xã hội chủ  nghĩa vượt trước quá xa trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất còn lạc hậu, thấp kém. Đại hội VI đã thẳng   thắng thừa nhận, chúng ta chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật  về sự phù  hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; bởi vậy, đại hội 
  4. 4 đã đề ra đường lối đổi mới chú trọng hàng đầu việc phải giải phóng sức sản xuất,   điều chỉnh lớn cơ cấu sản xuất, bố trí lại cơ  cấu đầu tư; xây dựng và hoàn thiện   QHSX mới phù hợp, cải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc bảo đảm phát triển   sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động. Đến Đại  hội X, Đảng ta cụ thể hóa những đặc trưng, phương hướng của CNXH ở nước ta   là xây dựng các QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đại   hội XI của Đảng đã bổ sung, phát triển đầy đủ hơn. PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ CHỦ ĐỀ 2.1: Những kết quả đạt được Tư  duy đúng đắn nêu trên đã được Đảng, Nhà nước tiếp tục bổ  sung, phát  triển. Đại hội VII nêu định hướng, phù hợp với sự  phát triển của lực lượng sản   xuất, phải thiết lập từng bước QHSX xã hội chủ  nghĩa từ  thấp đến cao với sự  đa  dạng về  hình thức sở hữu. Đại hội VIII xác định mục tiêu công nghiệp hóa, hiện   đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ  sở  vật chất ­ kỹ  thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, QHSX tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực   lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững   chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đại hội IX đã nêu rõ   thêm, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắng liền với QHSX mới phù hợp  trên cả ba mặc sở hữu, quản lý và phân phối. Tiêu chuẩn  căn bản để đánh giá hiệu  quả  xây dựng QHSX theo định hướng xã hội chủ  nghĩa là thức đẩy phát triển lực  lượng sản xuất, cỉa thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. Đại hội  X đã khái quát một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ  nghĩa của nhân   dân ta xây dựng là “có nền kinh tế cao, dựa trên  lực lượng sản xuất hiện đại và  quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lương sản xuất”. Tổng kết 20   năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI đã xác định lại, một trong những   đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là “có nền kinh tế  phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hện sản xuất tiến bộ  phù hợp” Nhất quán với quan điểm đã được thực tiển chứng minh là đúng đắn và thiết   thực, dự  thảo của Báo cáo chính trị  Đại hội XII một lần nữa khẳng định: “ nền   kinh tế  thị  trường định hướng xã hội chủ  nghĩa Việt Nam có QHSX tiến bộ  phù  hợp với trình độ  phát triển của lực lượng sản xuất”. Tổng hợp các nội dung dự  thảo, thấy rõ ràng các QHSX tiến bộ phù hợp đã được thừa nhận đồng bộ  trên cả  ba bình diện. 2.1.1 Về mặc sở hữu, “có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,  trong đó kinh tế  Nhà nước giữ  vai trò  chủ  đạo, kinh tế  tư  nhân là một động lực  quan trọng của nền kinh tế; các chủ  thể thuộc thành phần kinh tế bình đẳng, hợp   tác và cạnh tranh trên pháp luật. Đại hội XIII khẳng định nền kinh tế Việt Nam làn   nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức   sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo;   kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư  nhân là một động lực quan trọng; kinh tế  có vốn đầu tư  nước ngoài ngày càng   được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát   triển kinh tế ­ xã hội.
  5. 5 2.1.2 Về mặc tổ chức quản lý sản xuất , nền kinh tế nước ta “vận hành đầy  đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm theo định   hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; có sự  quản lý  của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm  mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh…Nhà nước đóng vai   trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh   bình đẳng, minh bạch và lành mạnh, phát huy vai trò làm chủ  của nhân dân trong  phát triển kinh tế  ­ xã hội”. Văn kiện Đại hội XIII xác định trong nền kinh tế thị  trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước, thị  trường và xã hội có quan  hệ  chặt chẽ. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể  chế, bảo vệ  quyền tài sản,  quyền kinh doanh, giữ  ổn định kinh tế vĩ mô; tạo môi trường thuận lợi, công khai,  minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều   tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế  phát triển, gắn kết phát triển kinh tế  với phát  triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.  Nhà nước  quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế  hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế  nhà nước phù hợp với các  yêu cầu và quy luật của kinh tế thị trường. 2.1.3  Về  quan hệ  phân phối, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  VI của   Đảng đã khẳng định phải thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động, đồng  thời mở  rộng nội dung phân phối trong các kỳ  Đại hội VII, VIII theo hướng có   nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả  kinh  tế là chủ yếu. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Kinh tế thị  trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao   động và hiệu quả kinh tế; đồng thời phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực   khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”. Đây là một bước tiến   mới so với các nguyên tắc phân phối được nêu trong Văn kiện các kỳ  Đại hội   trước, khẳng định nguyên tắc phân phối của cả thời kỳ quá độ đi lên chủ  nghĩa xã  hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định, hoàn  thiện nguyên tắc phân phối trên và coi đó là nguyên tắc phân phối của thời kỳ quá  độ  lên chủ  nghĩa xã hội.  Báo cáo chính trị  Đại hội XII một lần nữa nhấn mạnh:  “Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển”. 2.2: Những hạn chế, tồn tại: Một số  chỉ  tiêu kinh tế  ­ xã hội chưa đạt kế  hoạch; nhiều chỉ  tiêu, tiêu chí  trong mục tiêu phấn đấu để  đến năm 2020 nước ta cơ  bản trở  thành nước công  nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định nhưng  chưa vững chắc; nợ công tăng nhanh, nợ xấu đang giảm dần nhưng còn ở mức cao;   sản xuất kinh doanh còn gặp rất nhiều khó khăn, năng suất, chất lượng, hiệu quả,  sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã   hội chủ  nghĩa chậm được hoàn thiện, chưa có cơ  chế  đột phá để  thúc đẩy phát   triển; cơ  cấu nguồn nhân lực mất cân đối, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp;  kết cấu hạ  tầng thiếu đồng bộ  tiếp tục là những yếu tố  cản trở  sự  phát triển.   Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm.  Kinh tế  nhà nước, doanh nghiệp nhà nước chưa phát huy được vai trò chủ  đạo  trong nền kinh tế. Chưa đổi mới kinh tế hợp tác, hợp tác xã tan rã hoặc chỉ tồn tại  
  6. 6 hình thức chưa có hình thức hợp tác xã mới, chưa thực sự thúc đẩy và quản lý tốt   kinh tế tư nhân, quản lý kinh tế liên doanh với nước ngoài còn nhiều sơ hở. 2.3: Nguyên nhân Nguyên nhân khách quan là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và  suy thoái kinh tế toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh; những diễn biến mới rất phức t ạp   của tình hình thế  giới và khu vực, tình hình căng thẳng do tranh chấp chủ  quyền  trên Biển Đông; sự  chống phá của các thế  lực thù địch. Song trực tiếp và quyết  định nhất là nguyên nhân chủ quan: Cuối nhiệm kỳ khóa X, kinh tế vẫn trên đà tăng  trưởng, song một số khó khăn, hạn chế và những yếu kém vốn có của nền kinh tế  đã bộc lộ, nhưng do chưa đánh giá và dự báo đầy đủ, nên Đại hội XI đề ra một số  chỉ  tiêu, nhiệm vụ  khá cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa   giải đáp được kịp thời một số  vấn đề  đặt ra trong quá trình đổi mới. chưa chú   trọng đúng mức tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp khi tập trung thực hiện chủ  trương kiềm chế  lạm phát,  ổn định kinh tế  vĩ mô; chưa quyết liệt trong việc chỉ  đạo thực hiện một số  chủ  trương, quan điểm phát triển đã được nêu trong Nghị  quyết Đại hội XI về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng  và các đột phá chiến lược, chưa tạo được cơ chế, chính sách có tính đột phá để huy  động mọi nguồn lực cho phát triển. PHẦN 3:  GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ  VÀ BÀI HỌC GẮN VỚI CÔNG VIỆC  CỦA HỌC VIÊN 3.1: Giải pháp, kiến nghị Như vậy, xây dựng quan hệ sản xuất mới định hướng chủ nghĩa xã hội ở  nước ta phải đảm bảo các yêu cầu sau đây : Một là, quan hệ sản xuất mới được xây dựng phải dựa trên kết quả của sự  phát triển lực lượng sản xuất, “ bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở  hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới”. Hai là,  trong xây dựng hoàn thiện QHSX tiến bộ  cần chú trọng cả  ba mặt:  Chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối: ­ Về  sở  hữu, vẫn sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại các hình thức sở  hữu   khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó kinh tế  nhà nước giữ  vai   trò chủ đạo. Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất  theo định hướng xã hội chủ  nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải   thiện đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội nên phải từng bước xác lập  và phát triển chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu một cách vững   chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt mà không tính đến hiệu quả như trước đây. ­ Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự  quản lý của Nhà nước xã hội chủ  nghĩa. Nhà nước xã hội chủ  nghĩa quản lý nền   kinh tế  bằng pháp luật, chiến lược, kế  hoạch, chính sách đồng thời sử  dụng cơ  chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị trường để  kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế  những mặt tiêu cực, khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của người lao  động và  toàn thể nhân dân.
  7. 7 ­ Về phân phối, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa  dạng hoá các hình thức phân phối. "Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết  quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn  lực khác và thông qua phúc lợi xã hội”. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực  kích thích các chủ thể kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh,  đồng thời hạn chế những bất công trong xã hội. Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn  liền với tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát  triển.. 3.2: Bài học gắn với công việc liên hệ thực tế tại huyện Lộc Ninh Huyện Lộc Ninh là huyện biên giới miền núi phía Tây ­ Bắc tỉnh Bình  Phước, có đường biên giới dài hơn 100 km,  tiếp giáp với các tỉnh Krache, tỉnh  Congpongcham của Vương quốc Campuchia, có 01 cửa khẩu quốc tế Hoa Lư. Về  ranh giới, phía Tây ­ Nam giap tỉnh Tây Ninh, Phía Đông giáp huyện Bù Đốp và  huyện  Bù Gia Mập, phía Nam giáp thị xã Bình Long. Diên tích tự nhiên 86 297,52  ha. Dân số 115 268 người ( năm 2017). Trong đó, dân tộc thiểu số chiếm khoảng  18% dân số toàn huyện. Huyện Lộc Ninh có 01 thị trấn và 15 xã, có đường QL13 đi  qua nối liền với nước Campuchia thông qua cửa khẩu Hoa Lư và sắp tới có đường  sắt xuyên Á. Lộc Ninh có địa hình cao từ phía Bắc thấp dần về phía Nam, nằm  trong khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt. Có tổng diên tích tự nhiên 86 297,52 ha,  trong đó diện tích rừng chiếm 68 714 ha, còn lại là đất nông nhiệp,  phần lớn là đất  đỏ Bazan có độ phì nhiêu cao, phù hợp trồng với các loại cây có thu nhập cao như:  Hồ tiêu, cao su. Có hai con sông lớn chảy qua là sông Măng tạo thành biên giới Việt  Nam và Campuchia, Sông Bé tạo thành ranh giới giữa huyện Lộc Ninh và Huyện  Bù Gia Mập, ngoài ra có suối Cần Lê tạo thành ranh giới giữa huyện Lộc Ninh và  thị xã Bình Long 3.2.1: Kết quả đạt được: 3.2.1.1: Phát triển lực lương sản xuất thông qua công nghiệp hóa ­  hiện đại  hóa:  Kinh tế duy trì phát triển ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng  nên đã tác động tích cực đền nền kinh tế phát triền, trong đó khu vực thương mại­ dịch vụ chiếm tỉ trọng 19% (3), công nhiệp­ xây dựng 18% (4), sản  xuất nông nhiệp  63% (5). Kết cấu hạ tầng nông thôn ngày càng hoàn thiện, đời sống vật chất tinh  thần của ngưới dân ngày càng nâng lên, đến năm 2020, các xã đã đạt 16/19 tiêu chí  nông thôn mới. Hoạt đông khoa học công nghệ ngày càng được quan tâm, đã đưa  vào dịch vụ công trực tuyến liên thông từ tỉnh tới huyện và đến các xã thị trấn. Ứng  dụng hội nghị trực tuyến đến các xã thị trấn và ứng dụng phòng họp không giấy  cấp huyện, các môn hình ứng dụng KH­CN  được chú trọng như: Chuyển giao mô  hình tưới nước tiết kiệm, mô hình ứng dụng công nghệ Nano vào sản xuất nộng  nghiệp. … 3.2.1.2:  Xây dựng mối quan hệ sản xuất: ­ Quan hệ hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế: Huyện thực hiện tốt  chủ trương phát triển nền kinh tế đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức sản  xuất, kinh doanh, nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế phát triển đa  dạng, được tự do kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh theo quy định của pháp luật, 
  8. 8 ngày càng phát huy vai trò tích cực trong nền kinh tế quốc dân, giúp địa phương tận  dụng tối đa nguốn vốn, nguồn nhân lực trong phát triển nền kinh tế. Thực hiện  bình đẳng, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt, đối xử giữa các thành  phần kinh tế để  cùng phát triển lâu dài. Kinh tế hợp tác xã bước đầu hình thành phù hợp với cơ chế  thị trường, kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả  kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào ngân sách nhà nước.  Trong đó: + Thực hiện tốt Nhà nước  đại diện toàn thể nhân dân thực hiện đảm bảo  quyền sở hữu của toàn dân đối với đất đai. Đến nay huyện đã hoàn thành quy  hoạch đất đai giai đoạn 2015­2020 và kế hoạch sử dụng đất hằng năm. Thực hiện  quy hoạch có chi tiết khu dân cư, tiến hành đo đạc địa chính trên thị thấn Lộc Ninh  và 8 xã. Trong nhiệm kỳ 2015­2020 đã giao 1944 (6) trường hợp, cho thuê đất 167(7)   trường hợp đối với diện tích đất lâm phần trã về địa phương quản lý sau khi quy  hoạch 3 loại đất, chiếm khoản 34,6%  tổng diện tích đất giao về, chuyển mục đích  sử dụng đất cho 809 trường hợp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu  dài cho 1165(8) trường hợp. + Khuyến kích đẩy mạnh quá trình khởi nghiệp doanh nghiệp, kinh doanh,  thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế cả về số lượng và chất lượng, thật sự  trỡ thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong  nhiệm kỳ 2015­2020, toàn huyện có 7276(9) cơ sở thương mại dịch vụ; có 488 cơ sở  sản xuất công nghiệp­ tiểu thũ công nghiệp; 6125 cơ sở kinh doanh thương mại ­  dịch vụ và 323 cơ sở hoạt động vận tải và kinh doanh kho bãi, thông tin truyền  thông. Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Hoa Lư đã thu hút 72 dự án đầu tư, trong đó  31 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, 5 doanh nghiệp đang triển  khai hạ tầng các  dự án, lĩnh vực được quan tâm chủ yếu là xây dựng kho bãi thu mua, sơ chế hàng  nông sản. ­ Về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế: Xây dựng phát triển kinh tế là  nhiệm vụ chính trị chủ yếu phải tiến tới. Thực hiện quản lí sản xuất theo cơ chế  thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quan hệ điều hành quản lí sản  xuất hiện nay trong các thành phần kinh tế được pháp luật bảo vệ , theo hướng  bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, hai bên cùng có lợi. Theo đó, ngoài việc quản lí  điều hành sản xuất kinh doanh đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách  pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh doanh như: xây dựng 03 chương trình  đột phá: Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chương  trình phát triển khu kinh tế cửa khầu quốc tế Hoa Lư, chương trình phát triển du  lịch. Phát triển 300 doanh nghiệp, mỗi xã, thị trấn có ít nhất 06 hợp tác xã, 03 hợp  tác xã hoạt động có hiệu quả và 01 sản phẩm nông nghiệp có đăng  kí thương hiệu.  Triển khai 02 cụng công nghiệp Lộc Thịnh, Lộc Thành với tổng diện tích 94 ha đã  được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch. ­ Về quan hệ phân phối: Bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển,  quan tâm thực hiện đầy đủ và thống nhất hệ thống pháp luật, bảo đảm cơ  sở  cho   tất cả các thành phần  kinh tế  tự do sáng tạo và tạo thu nhập theo đúng năng lực  của mình, được phân phối hợp pháp những thành quả  chính đáng của mình; có  quyền hưởng những thu nhập chính đáng từ  tài sản, tiền bạc, và trí tuệ  của mình, 
  9. 9 được huy động các nguồn lực hay phát huy các cơ  hội phát triển phục vụ  lợi ích  của mình. Huyện làm tốt công tác chi trã, trợ  cấp kịp thời cho người có công, gia   đình chính sách, các đối tượng bảo tợ xã hội trên 31 tỉ đồng. Công tác đào tạo nghề,   giải quyết việc làm đạt được kết quả  tích cực, hằng năm tạo việc làm mới trên  4000 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3,78%   xuống còn 1,68% vào cuối năm 2020. Triển khai dự án khu đô thị Hành chính ­ Dịch  vụ­ Thương mại­ Dân cư huyện Lộc Ninh quy mô 35 ha…  3.2.2 Những hạn chế tồn tại Tuy nhiên, những kết quả đạt trên chưa xứng với tiềm năng, lợi thế của  huyện, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, trong 5 ngành Nông nghiệp ­ Lâm ­   Thủy sản chỉ giảm được 5,45%; ngành Công nghiệp ­ Xây dựng chỉ tăng 2,48% và  Thương Mại­ Dịch vụ chỉ tăng 2,97%. Chưa triển  khai xây dựng cụng công nghiệp  theo quy hoạch, công tác phối hợp với Ban quản lý các khu kinh tế của tỉnh để đẩy  nhanh quá trình phát triển khu kinh tế của khẩu quốc tế Hoa Lư chưa chặt chẽ,  thiếu đồng bộ; chưa phát triển các khu đô thị hiện đại, khu thương mại ­ dịch vụ  lớn. Các điểm du lịch của tỉnh, huyện tuy đã đầu tư bước đầu nhưng chưa tạo  được sự kết nối, chưa phát huy huy hiệu quả tương xứng với tiềm năng. Nông  nghiệp ít được quan tâm, hơn 60% hợp tác xã hoạt động chưa cao. Việc ứng dụng  khoa học ­ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp đã và đang được áp dụng ở tất cả  các địa phương, tuy nhiên vai trò hổ trợ tạo điều kiện, định hướng phát triển của  nhà nước chưa rõ nét. Ngành chăn nuôi heo quy mô công nghiệp phát triển mạnh  nhưng việc kiểm soát ô nhiễm môi trường còn nhiều bất cập… 3.2.3 Nguyên nhân hạn chế yếu kém: 3.2.3.1 Nguyên nhân khác quan: Trong nhiều năm tình hình thời tiết diễn  biến phức tạp, hạn hán kéo dài và lộc xoáy gây thiệt hại lớn đến sản xuất nông  nghiệp; giá cả các mặt hàng nông sản chủ lực như cao su, hồ tiêu giảm mạnh trong  thời gian dài. Các huyện phía Campuchia giáp biên giới Lộc Ninh  kinh tế­ xã hội  cón kém phát triển, nên việc phát triển kinh tế cửa khẩu quốc tế Hoa Lư còn gặp  nhiều khó khăn, phần nào đã tác động, ảnh hưởng đến sự phất triển chung của  huyện Lộc Ninh. Quy mô, nội lực các doanh nghiệp trên địa bàn còn nhỏ và yếu  nên chưa tham gia, tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu của huyện 3.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan: Công tác dự báo phân tích tình hình đề ra các  nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị quyết trên các lĩnh vực còn hạn chế. Công tác  tham mưu với Tỉnh tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế chính sách đố với sự phát  triển của huyện chưa chủ động kịp thời. Công tác phối hợp giữa các phòng ban, các  xã, thị trấn có chuyển biến nhưng hiệu quả chưa cao, còn có tình trạng né tránh,  đùn đẩy trách nhiệm; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác của một  bộ phận cán bộ đặc biệt là cán bộ cơ sở còn hạn chế. Trách nhiệm, ý thức chấp  hành pháp luật của một bộ phận người dân chưa cao, nhất là trong lĩnh vực đất đai,  xây dựng, môi trường… góp phần gây cho công tác quản lý của nhà nước. 3.2.4 Liên hệ bản thân trong phát triển quan hệ sản xuất ­ Tích cực học tập chủ nghĩa Mác, trang bị thế giới quan và phương pháp  luận khoa học, phương pháp luận duy vật biện chứng. Tin vào con đường mà  Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã lực chọn, đó là độc lập dân tộc gắn  liền với chủ 
  10. 10 nghĩa xã hội, đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam ­ Tích cực học tập tri thức khoa học, không ngừng nâng cao năng lực, phẩm  chất đạo đức, chung tay đóng góp xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam  nói chung và huyện Lộc Ninh nói riêng trong kinh tế, khoa học và giáo dục.  Thực hiện đúng đường lối chủ trương, chính sách  pháp luật của Đảng và  Nhà nước pháp quyền XHXN Việt Nam. Bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ các thành  quả cách mạng mà các thế hệ cha ông đã giành lấy và giữ gìn. Cùng với nhân dân tham gia xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng  XHCN, chủ động nghiên cứu, học tập nâng cao lực giảng dạy, giáo dục đạo đức và  phát huy năng lực học sinh. Xây dựng nhà trường ngày càng phát triển kể cả về  chất và lượng. Tham gia tích cực bảo vệ tài sản nhà trường cũng như tài sản khác  của nhân dân và nhà nước. Bảo vệ chân lý khoa học của chủ nghĩa Mác ­ Lênin và Tư tưởng Hồ Chí  Minh, giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống lịch sử. Đấu tranh các quan điểm sai  trái của các thế  lực thù địch, phê phán những quan điểm lệch lạc trong nhận thức  của người khác về CNXH, không bi quan, dao động, mất niềm tin trước những  luận điệu xuyên tạc. Nắm vững quy luật vận động, quyết tâm xây dựng thành công  CNXH, xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN, vì mục tiêu dân giàu,  nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. PHẦN 4: KẾT LUẬN Quan hệ sản xuất  tiến bộ là các QHSX khắc phục được những tính chất lạc  hậu, tiêu cực của các quan hệ  sản xuất trước kia đã tồn tại  ở  đất nước; phòng  tránh; khắc phục được tính chất lạc hậu, tiêu cực của một số QHSX đang tồn tại  trên thế  giới; chứa đựng càng nhiều giá trị  nhân văn, dân chủ, công bằng. Đó là   QHSX đi trước một bước, định hướng phát triển cho lực lượng sản xuất hiện đại  và chủ động bảo đảm cơ sở vật chất­ kinh tế cho chế độ  xã hội của nhân dân, do  nhân dân, vì nhân dân. Tuy nhất quán với chính sách kinh tế  nhiều thành phần,   nhưng không thể chấp nhận tư hữu tư bản chủ nghĩa đối với các tư liệu sản xuất   trở thành chế độ sở hữu ở nước ta. Mặc khác, hiện nay chúng ta chấp nhận bóc lột   lao động, nhưng không thể cho phép bất cứ thế lực nào thống trị, nô dịch người lao   động và nhân dân lao động nói chung. Chúng ta chấp nhận chênh lệch về thu nhập,  phân hóa xã hội, nhưng không thể tạo điều kiện cho sự chênh lệch và phân hóa ấy  diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Thông qua nhiều biện pháp khác nhau, nhà nước   và toàn xã hội phải thu hẹp khoảng cách nói trên. Trên cả  3 bình diện sở  hữu, tổ  chức­ quản lý sản xuất và phân phối, không thể để QHSX tư bản chủ nghĩa chiếm  vai trò, ví trí chủ  đạo trong cơ  sở hạ  tầng nước ta. Xây dựng QHSX tiến bộ, phù   hợp là một quá trình đòi hỏi nhận thức kịp thời, đầy đủ  và tôn trọng các quy luật   khác quan. Đồng thời nó tạo ra yêu cầu rất cao về tính chủ động, tự giác của nhân   tố chủ quan, được thể hiện trước hết ở năng lực, bản lĩnh của Đảng cầm quyền; ở  hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; ở sự đồng thuận và hành động tích cực   của nhân dân…. Trong quá trình này, phải phòng tránh các bệnh chủ  quan, duy ý   chí. Trên một ý nghĩa rất lớn, kết quả của quá trình này quyết định thành bại của   công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ  tổ  quốc Việt Nam xã hội chủ  nghĩa.
  11. 11 (1),(2) Giáo trình trung cấp lý luận – hành chính, trang 238 (3),(4),(5)….Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ Huyện Lộc Ninh lần thức XI, nhiệm kì 2020­2025
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2