intTypePromotion=3

Báo cáo tốt nghiệp: " Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất và chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất "

Chia sẻ: Da Ada | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:87

0
50
lượt xem
9
download

Báo cáo tốt nghiệp: " Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất và chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Qui hoạch tổng thể của tỉnh đến năm 2010 đã được Chính phủ phê duyệt. Xác định Thanh Hoá có sức thu hút mạnh vốn đầu tư. Các lĩnh vực đầu tư lớn được triển khai như khu công nghiệp Lễ môn, khu công nghiệp Nghi Sơn, Cảng nước sâu Nghi sơn, Nhà máy đường Lam Sơn, caỉ tạo nâng cấp Nhà máy xi măng Bỉm sơn, nuôi trồng và đánh bắt chế biến hải sản. Công nghiệp qui mô vừa và nhỏ cũng được mở rộng sản xuất như sản xuất giấy, bao bì, thép, sản xuất...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo tốt nghiệp: " Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất và chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất "

  1. Báo cáo tốt nghiệp " Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất và chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất "
  2. mục lục Nội dung Trang - Lời mở đầu : 3 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 3 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 4 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 4. Phương pháp nghiên cứu 4 5. Kết cấu khoá luận 5 - Chương I : Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất 6 và chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất. 6 I. Hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm hộ sản xuất 6 2. Vai trò của của HSX trong nền kinh tế thị trường 7 3. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh 9 tế HSX II. Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế 11 HSX 1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng 11 2. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với HSX 13 3. Yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ tín dụng giữa Ngân 16 hàng và HSX 17 III. Chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với HSX 1. Khái niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng 17 2. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đối 18 với HSX 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Ngân 23 hàng đối với HSX - C hương II : Thực trạng tín dụng đối với hộ sản 27 xuất tại NHNo & PTNT huyện Từ Liêm. 27 I. Giới thiệu về NHNo & PTNT huyện Từ Liêm 1. Đặc điểm kinh tế xã hội tác đ ộng đến kinh doanh kinh 27 doanh của NHNo huyện Từ Liêm 2. Quá trình hình thành phát triển và chức năng của NHNo & 29 PTNT huyện Từ Liêm 2
  3. 3. Đặc điểm khách hàng của NHNo & PTNT huyện Từ 31 Liêm II. Khái quát hoạt động kinh doanh của NHNo & 32 PTNT Hà Tây 1. Huy động vốn 32 2. Hoạt động cho vay 34 III. Thực trạng tín dụng đối với HSX tại NHNo & 40 PTNT huyện Từ Liêm 1. Tình hình thực hiện quy trình tín dụng tại NHNo 40 huyện Từ Liêm 2. Kết quả cho vay thu nợ đối với kinh tế hộ tại NHNo 42 huyện Từ Liêm trong thời gian qua 58 IV. Đánh giá về hoạt động tín dụng đối với HSX tại NHNo & PTNT huyện Từ Liêm 1. Kết quả đạt được 58 2. Hạn chế trong hoạt động cho vay hộ sản xuất 62 - C hương III : Giải pháp nâng cao chất lượng tín 68 dụng nhằm góp phần phát triển kinh tế hộ sản xuất 68 I. Đ ịnh hướng về hoạt động tín dụng đối với HSX 1. Chính sách tín dụng đối với HSX của Nhà nước 68 2. Định hướng chung của NHNo & PTNT Việt Nam 68 3. Định hướng phát triển kinh tế tỉnh Hà Tây 69 4. Định hướng về hoạt động tín dụng đối với HSX của 70 NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây 71 II. Một số giải pháp cơ bản 1. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với 71 H SX 2. Giải pháp nhằm mở rộng cho vay HSX 81 3. Giải pháp bổ trợ 84 86 III. Kiến nghị 1. Kiến nghị với Nhà nước 86 2. Kiến nghị với chính quyền địa phương 88 3. Kiến nghị với NHNo & PTNT Việt Nam 89 Kết luận 90 Tài liệu tham khảo 91 3
  4. Lời nói đầu 1 . Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu : Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng X ã hội chủ nghĩa, NHNo & PTNT huyện Từ Liêm đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tiến trình phát triển. N ăm đầu thành lập, Ngân hàng phải đối mặt với nhiều khó khăn chồng chất, nguồn vốn kinh doanh nhỏ bé, khách hàng chính là các Doanh nghiệp Nhà nước và các HTX b ị giải thể hoặc thu hẹp quan hệ với Ngân hàng do việc tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp và chính sách giao đất sử dụng lâu d ài cho các hộ gia đình. Trong thị trường hoạt động cũ bị thu hẹp thì thị trường mới là các hộ nông dân đang trong bước đầu thử nghiệm. Đ ứng trước những khó khăn trên, Ngân hàng vẫn kiên trì thực hiện chuyển hướng trong kinh doanh , xác định đối tượng phục vụ chính là "nông nghiệp, nông thôn và nông dân". Sự chuyển hướng kinh doanh đúng đắn đã đem lại kết quả to lớn. Ngân hàng có mạng lưới gồm 3 chi nhánh cơ sở hoạt động có chất lượng cao với thị trường rộng lớn. Vốn tín dụng Ngân hàng đã giúp đỡ hàng nghìn hộ sản xuất trên đ ịa bàn có đủ vốn sản xuất kinh doanh góp phần phát triển kinh tế địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng tích cực ra nhiều công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người nông dân. Trong quá trình CNH - HĐH đất nước đặc biệt là quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn, Đảng và Nhà nước ta có rất nhiều chính sách để phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và hộ sản xuất nói riêng. Trong đó, Đ ảng và Nhà nước có chính sách tín dụng hỗ trợ vốn cho vay hộ nông dân phát triển. Tuy nhiên thực tế việc mở rộng cho vay hộ sản xuất ngày càng khó khăn do tính chất phức tạp của hoạt động này, món vay nhỏ bé, chi phí nghiệp vụ cao, khả năng rủi ro ngày càng lớn. Với chủ trương CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn xoá đói giảm nghèo, xây dựng 4
  5. nông thôn mới thì nhu cầu vay vốn của hộ sản xuất hoạt động Ngân hàng nhất là trong môi trường kinh doanh đầy rủi ro như khu vực nông nghiệp, nông thôn. X uất phát từ tình trạng của vấn đề, đề tài : "Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng nhằm góp phần phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo & PTNT huyện Từ Liêm" mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất, đáp ứng nhu cầu vay vốn của hộ, góp phần thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và N hà nước. 2 . Mục đích nghiên cứu của đề tài : - Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hộ sản xuất và vai trò của TDNH đối với việc phát triển kinh tế hộ sản xuất, qua đó thấy đ ược tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất. - Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHNo & PTNT huyện Từ Liêm. Từ đó, tìm ra những mặt còn tồn tại, trên cơ sở đó có những giải pháp tháo gỡ khó khăn và nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất, mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị để thực hiện giải pháp. 3 . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : V ới tính đa dạng, phức tạp của đề tài, cho nên chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề thực tiễn cụ thể trong hoạt động cho vay hộ sản xuất tại NHNo & PTNT huyện Từ Liêm trong năm 1998 - 2000. 4 . Phương pháp nghiên cứu : - Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng hoá, phân tích tổng hợp, diễn giải, quy nạp, phân tích thống kê, so sánh. - Kết hợp nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm nước ngoài vào thực tiễn vận dụng vào NHNo & PTNT huyện Từ Liêm. 5 . Kết cấu khoá luận : N goài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm 3 chương. 5
  6. Tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất và chất lượng Chương I : tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất. Thực trạng tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHNo & Chương II : PTNT huyện Từ Liêm. Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng nhằm góp phần p hát triển kinh tế hộ sản xuất. 6
  7. Chương I Tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất và chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất. I. Hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường : Đ ại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 với đường lối đổi mới, nông nghiệp được xác định là "mặt trận hàng đ ầu", tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn chuyển nền nông nghiệp tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Chính vì vậy những năm gần đây các nhà kinh tế bắt đầu quan tâm thực sự đến sự phát triển nông thôn, nông nghiệp và mô hình kinh tế hộ sản xuất. Sự quan tâm nghiên cứu về hộ sản xuất của các nhà khoa học đã đánh d ấu thời kỳ thay đổi, thái độ đối với hộ sản xuất trong hệ thống lý thuyết chính thống và hệ thống chính sách kinh tế xã hội hiện thời. 1 . Khái niệm hộ sản xuất : Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần thấy rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền sản xất nông nghiệp trên thế giới. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn đang tiếp tục phát triển. Chúng ta có thể xem xét một số khái niệm khác nhau về hộ sản xuất , trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, nhóm người đó cùng hộ sản xuất là hộ, hộ gia đình. N gày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng sự nghiệp CNH - H ĐH đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong qúa trình xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hướng x ã hội chủ nghĩa. Để phù hợp với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và N hà nước , NHNo & PTNT Việt Nam ban hành phụ lục số 1 kèm theo quyết định 499A ngày 2/ 9/ 1993, theo đó thì khái niệm hộ sản xuất được hiểu như sau : "H ộ sản x uất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình". Thành phần chủ 7
  8. yếu của hộ sản xuất bao gồm : hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộ gia đình xã viên. N hư vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn. Hộ sản xuất hoạt động trong nhiều ngành nghề nhưng hiện nay phần lớn ho ạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và PTNT, các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ. Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nói trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất ở nước ta trong thời gian qua. 2 . Vai trò của hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường: Từ khi NQ 10 - Bộ chính trị ban hành, hộ nông dân được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ, năng động trong kinh tế nông thôn, nhờ đó người nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu tư vốn để thâm canh, tăng vụ, vừa đổi mới cơ cấu sản xuất, việc trao quyền tự chủ cho hộ nông dân đã khơi dậy nhiều làng nghề truyền thống, mạnh dạn vận dụng tiến bộ KHKT trong sản xuất để có hiệu quả kinh tế lớn nhất. Điều này càng khẳng định sự tồn tại khách quan của hộ sản xuất với vai trò là cầu nối trung gian giữa hai nền kinh tế , là đơn vị tích tụ vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn. a. Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá. Lịch sử phát triển sản xuất hàng hoá đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình, tiếp theo là giai đoạn chuyển biến từ kinh tế hàng hoá nhỏ lên kinh tế hàng hoá quy mô lớn, đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ. Bước chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình là một giai đoạn lịch sử mà nếu chưa trải qua thì khó có thể phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn giải thoát khỏi tình trạng nền kinh tế kém phát triển. b. Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn. 8
  9. Lao động là một trong những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất , lao động là nguồn gốc của giá trị thặng d ư, lao động góp phần làm tăng của cải vật chất cho mọi quốc gia. Việt Nam có 80 % dân số sống ở nông thôn, nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực này còn đang ở mức thấp do trình đ ộ thấp. Hiện nay, ở nước ta có khoảng 13 triệu lao động chưa được sử dụng và quỹ thời gian của người lao động ở nông thôn cũng chưa được sử dụng hết. Các yếu tố sản xuất chỉ mang lại hiệu quả thấp do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông thôn. Như vậy, để sử dụng hợp lý nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn nước ta cần phải phát triển kinh tế hộ sản xuất. Trên thực tế đã cho thấy trong những năm vừa qua hàng triệu cơ sở sản xuất được tạo ra bởi các hộ sản xuất trong khu vực nông nghiệp và nông thôn. c. Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá. N gày nay, hộ sản xuất đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì ? Sản xuất như thế nào để trực tiếp quan hệ với thị trường. Đ ể đạt được điều này các hộ sản xuất đều phải không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cầu, từ đó mở rộng sản xuất đồng thời đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. V ới quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể dễ dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường mà không sợ ảnh hưởng đến tốn kém về mặt chi phí. Thêm vào đó lại được Đảng và N hà nước có các chính sách khuyến khích tạo điều kiện để hộ sản xuất phát triển. Như vậy với khả năng nhạy bén trước nhu cầu thị trường, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển cao hơn. 3 . Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế hộ sản xuất : N ước ta là m ột nước nông nghiệp với 80% dân số sống ở nông thôn, chúng ta tiến lên CHXH dựa trên nền sản xuất thuần nông. Sớm nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta từng bước có những chủ trương chính sách về nông nghiệp, tạo 9
  10. điều kiện cho kinh tế hộ phát triển làm nòng cốt để phát triển kinh tế nông thôn. Tháng 1/ 1981 Ban bí thư TW Đ ảng ban hành chỉ thị 100 về khoán cho nông nghiệp, thực chất là giải phóng "tự do hoá" sức lao động của hàng chục triệu hộ nông dân thoát khỏi sự giàng buộc của cơ chế tập trung. Đ ại hội Đảng to àn quốc lần thứ 6, với đường lối đổi mới, nông nghiệp được xác định là "m ặt trận hàng đầu" tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn, chuyển nền nông nghiệp tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước , phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Đảng và N hà nước đ ã ban hành những chủ trương, chính sách để thực hiện định hướng nêu trên. Nhờ đó kinh tế hộ sản xuất cần được đặt vào đúng vị trí của nó. Tháng 4/ 1988 - Bộ chính trị đã ban hành nghị quyết 10 nhằm cụ thể hoá một bước quan điểm đổi mới của Đại hội 6 đối với lĩnh vực quản lý nông nghiệp, tạo điều kiện cho việc hình thành và thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất phát triển. Từ đây nộ nông dân được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh và là đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn. Sau nghị quyết 10 của Bộ chính trị, rồi đến NQ 66 của HĐBT ngày 2/ 3/ 1992 cùng luật doanh nghiệp tư nhân nghị định 29 ngày 29/ 3/ 1998, luật công ty. .. thì hộ sản xuất đã được thừa nhận là một đơn vị kinh tế bình đẳng như các thành phần kinh tế khác. Điều này được khẳng định tại điều 21 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 : "kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển". Đ ại hội lần thứ 7 của Đảng với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Chủ trương đúng đắn của Đại hội 7 đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nước ta nói chung và đặc biệt đối với kinh tế hộ gia đ ình nói riêng. Tháng 6/ 1993 tại kỳ họp lần thứ 5 (khoá 7) Đảng đã ban hành nghị quyết TW 5, tiếp tục khẳng định quyền tự chủ của hộ với tư cách là m ột chủ thể kinh tế ở nông thôn đ ược luật thừa nhận quyền sử dụng đất đai (5 quyền), quyền vay vốn tín dụng, quyền lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh có lợi nhất, quyền tự do lưu thông tiêu thụ sản phẩm. 10
  11. Nghị quyết TW 5 cùng các văn bản luật, NĐ của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý, khơi dậy động lực cho hơn 10 triệu hộ nông dân phát triển. Từ đó phát triển mạnh nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đ ại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 với chủ trương CNH - H ĐH nông nghiệp nông thôn thì nông nghiệp nông thôn nói chung, hộ sản xuất nói riêng đã được đặt lên vị trí quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Nghị quyết TW 6 lần 1 với chủ trương "tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước nhất là CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn " đã khẳng định nông nghiệp nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và về lâu d ài làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế x ã hội. Cùng với chính sách về các thành phần kinh tế , kinh tế hộ được khuyến khích phát triển : "kinh tế hộ gia đình tồn tại và phát triển lâu dài, luôn luôn có vị trí quan trọng". II. Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế hộ sản xuất: 1 . Khái niệm tín dụng Ngân hàng : Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá. Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có ho àn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi. Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như : Tín dụng thương m ại, tín dụng Ngân hàng , tín dụng N hà nước , tín dụng tiêu dùng. Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các N gân hàng, tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Đ iều 20 Luật các tổ chức tín dụng quy định : "Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng" "Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác" 11
  12. Do đặc điểm riêng của mình, tín dụng Ngân hàng có được những hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Với đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trở thành một hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có. Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ "tín dụng hộ sản xuất". Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng Ngân hàng giữa một bên là Ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hoá. Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, có thừa kế, quyền sở hữu tài sản, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, có tài sản thể chấp thì hộ sản xuất mới có khả năng và đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với Ngân hàng. Đây cũng chính là điều kiện cần để hộ sản xuất đáp ứng điều kiện vay vốn Ngân hàng. Đối với Ngân hàng từ khi chuyển sang hệ thống Ngân hàng 2 cấp, hạch toán kinh tế và kinh doanh độc lập, các Ngân hàng phải tự tìm kiếm thị trường với mục tiêu an toàn và lợi nhuận. Thêm vào đó là nghị định 14/ CP ngày 2/ 3/ 1993 của thủ tướng Chính phủ, thông tư 01/ TD - NH ngày 26/ 3/ 1993 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện nghị định 14 CP về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông lâm ngư nghiệp. V à gần đây là quy đ ịnh số 67/ 1999/ QĐ- TTG của Thủ tướng chính phủ, văn bản số 320/ CV- NHNN14 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện quy định trên, văn bản số 791/ NHNN - 06 của Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về thực hiện một số chính sách Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn. Tiếp sau đó một loạt các thông tư, văn bản của Ngân hàng Nhà nước ra đời như văn bản số 283/ QĐ - NHNN14 ngày 25/ 8/ 2000 về việc ban hành quy chế bảo lãnh Ngân hàng, văn bản 284 QĐ - NHNN1 ngày 25/ 8/ 2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thay cho văn bản 324 cũ. Thông tư số 10 NHNN1 ngày 31/ 8/ 2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện giải pháp về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng theo QĐ số 11/ 2000/ NQ- CP của Chính phủ ngày 31/ 7/ 2000. Quyết định số 06/ HĐQT - NHNo & PTNT Việt Nam về việc quy định cho vay đối với khách hàng mới gần đây nhất ngày 18/ 1/ 2001 thay cho quyết định 180 cũ. Từ đó đã 12
  13. giải quyết cơ b ản những khó khăn thắc mắc về cơ chế thủ tục tạo môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng phát triển. Với các văn bản trên đã mở ra một thị trường mới cho Ngân hàng trong hoạt động tín d ụng. Trong khi đó hộ sản xuất đã cho thấy sản xuất có hiệu quả nhưng còn thiếu vốn để mở rộng tiến hành sản xuất kinh doanh. Đứng trước tình trạng đó, việc tồn tại một hình thức tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất là m ột tất yếu v à phù hợp với cung cầu trên thị trường được môi trường xã hội, pháp luật cho phép. 2 . Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất : Trong nền kinh tế hàng hoá các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu không có vốn. Nước ta hiện nay thiếu vốn là hiện tượng thường xuyên x ảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đ ối với hộ sản xuất. Vì vậy vốn tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá. N hờ có vốn tín dụng các đ ơn vị kinh tế đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh. Riêng đối với hộ sản xuất, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ sản xuất. a. Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế. V ới đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên môn hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã d ẫn đến tình trạng các hộ sản xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác. Trong những lúc này các hộ sản xuất cần có sự trợ giúp của tín dụng Ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất , hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Từ đó nâng cao đ ời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người. 13
  14. Như vậy, có thể khẳng định rằng tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất là cần thiết và rất lớn, khu vực nông thôn trở thành một thị trường to lớn của tín dụng N gân hàng. Cũng vì thế mà thị phần của hộ sản xuất trong dư nợ của NHNo ngày càng tăng. b. Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất. Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn tập trung sản xuất của tín dụng Ngân hàng đã thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các Ngân hàng phải đảm bảo được độ an to àn và có lợi nhuận, tránh rủi ro trong cho vay. Bằng cách tập trung vốn vào kinh doanh, các hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giúp cho các hộ sản xuất càng có điều kiện để mở rộng sản xuất có hiệu quả hơn thúc đ ẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời N gân hàng cũng đảm bảo hạn chế được rủi ro tín dụng. Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, Ngân hàng phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay. Vì vậy Ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông. Trên cơ sở đó hộ sản xuất biết phải tập trung vốn như thế nào để sản xuất góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn. c. Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới giải quyết việc làm cho người lao động. V iệt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH chúng ta cũng phải quan tâm đến ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả kinh tế , đặc biệt trong quá trình thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ và tín d ụng Ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút được số lao động nhàn dỗi, giải quyết việc làm cho người 14
  15. lao động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại. Do đó, tín d ụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề kinh tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các ngành nghề này phát triển một cách nhịp nhàng và đồng bộ. d. Vai trò của tín dụng Ngân hàng về mặt chính trị, xã hội : Tín dụng Ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội. Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta. Có việc làm, người lao động có thu nhập sẽ hạn chế được những tiêu cực xã hội. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế những luồng di dân vào thành phố. Thực hiện được vấn đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân, đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị càng nhích lại gần nhau hạn chế bớt sự phân hoá bất hợp lý trong xã hội , giữ vững an ninh chính trị. N goài ra tín dụng Ngân hàng góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo. Tín dụng Ngân hàng thúc đ ẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh làm thay đổi bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở lên khá hơn, hộ khá trở lên giầu hơn. Chính vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần dần được xoá bỏ như : rượu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan... nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động. Qua đây chúng ta thấy được vai trò của tín dụng N gân hàng trong việc củng cố lòng tin của nông dân nói chung và của hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đ ạo của Đảng và Nhà nước 3 . Yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và hộ sản xuất : Q uan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và hộ sản xuất một mặt cũng giống như các quan hệ tín dụng khác trong cơ chế thị trường, nhưng m ặt 15
  16. khác đó còn là chính sách của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy, có rất nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quan hệ tín dụng này. - Chính sách của chính phủ : trên 80% dân số ở nước ta sống ở nông thôn, hình thức sản xuất chủ yếu là làm kinh tế ở quy mô gia đ ình. Do vậy sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế đất nước. Vì vậy, chính sách đối với hộ sản xuất có vị trí quan trọng trong chính sách kinh tế quốc gia, trong đó chính sách về đầu tư vốn có ý nghĩa quan trọng nhằm giải quyết khó khăn về vốn sản xuất kinh doanh của hầu hết các hộ sản xuất. Các chính sách của chính phủ sẽ tạo cơ sở để vốn tín dụng Ngân hàng tiếp cận đến các hộ sản xuất. - Chính sách của Ngân hàng : Trong sản xuất kinh doanh , mục tiêu hàng đ ầu là đạt được lợi nhuận và an toàn trong kinh doanh. Mức độ rủi ro đầu tư trong nông nghiệp, nông thôn cao trong khi tỷ suất lợi nhuận không cao vì chi phí lớn, do đó hạn chế nhiều trong công việc mở rộng cho vay và giảm hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất. Đối với NHNo, hộ gia đình là khách hàng truyền thống, là đối tượng phục vụ chính, do vậy chính sách cho vay của Ngân hàng có ảnh hưởng tới quy định đến khối lượng cho vay các hộ sản xuất. - Sự phát triển của hộ sản xuất : Mối quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng vay vốn là quan hệ 2 chiều, vì vậy khả năng sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng cho vay của Ngân hàng đối với các hộ sản xuất. Hiện nay phần lớn hộ gia đình năng lực sản xuất kinh doanh thấp kém do trình độ kinh nghiệm còn hạn chế, kinh tế hộ còn trong giai đo ạn tự cung, tự cấp, sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất hàng hoá còn chưa phát triển , người nông dân còn chưa thực sự đặt quá trình sản xuất của mình trong nền kinh tế hàng hoá và đối với các nguyên tắc hoạt động của nền kinh tế đó, tìm phương hướng tự sử lý để phát triển. Cho nên, việc cho vay của Ngân hàng đối với hộ sản xuất gặp nhiều khó khăn. III. Chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất : 1 . Khái niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng : Trong nền kinh tế thị trường., bất kỳ một loại sản phẩm nào sản xuất ra cũng phải là những sản phẩm mang tính cạnh tranh. Điều này có nghĩa là mọi sản phẩm sản xuất ra đều phải có chất lượng. Các nhà kinh tế đã nhận 16
  17. xét rằng : "Chất lượng phù hợp với mục đích của người sản xuất và người sử dụng về một loại hàng hoá nào đó" hay "Chất lượng là một sản phẩm ho ặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu khách hàng". Tín d ụng là một trong những sản phẩm chính của Ngân hàng. Đây là hình thức sản phẩm mang hình thái phi vật chất, là dịch vụ đặc biệt. Sản phẩm này chỉ có khả năng đánh giá được chất lượng sau khi khách hàng đã sử dụng. Do vậy, có thể quan niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng là việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển Ngân hàng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. N hư vậy, chất lượng tín dụng Ngân hàng thể hiện qua các đ iểm sau : - Đối với khách hàng: Tín dụng Ngân hàng đưa ra phải phù hợp với yêu cầu của khách hàng về lãi xuất (giá cả sản phẩm), kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình thức thanh toán, thủ tục đơn giản thuận tiện nhưng luôn đảm bảo nguyên tắc tín dụng. - Đố i với Ngân hàng : Ngân hàng đưa ra các hình thức cho vay phù hợp với phạm vi mức độ, giới hạn phù hợp với bản thân ngân hàng đ ể luôn đảm bảo tính cạnh tranh, an toàn, sinh lời theo nguyên tắc trả đầy đủ và có lợi nhuận. 2 . Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất : Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của NHNo & PTNT Việt Nam, hộ sản xuất được xác định là khách hàng chính của NHNo Việt Nam. Trong quá trình cung ứng sản phẩm của m ình cho hộ sản xuất, một việc làm quan trọng và cần thiết là đánh giá được chất lượng của sản phẩm cung ứng, cụ thể là chất lượng tín dụng hộ sản xuất , nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi ích của Ngân hàng và khách hàng. Việc đánh giá này phải thông qua các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cụ thể. 2.1. Chỉ tiêu định tính : a. Bảo đảm nguyên tắc cho vay : Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đề được dựa trên một nguyên tắc nhất định. Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế , chính trị, xã hội của đất nước, do vậy các nguyên tắc hoạt động của Ngân hàng rất chặt chẽ. Với mỗi Ngân hàng lại có những nguyên tắc khác nhau. Nguyên tắc cho vay là một nguyên tắc 17
  18. quan trọng đối với mỗi Ngân hàng. Đ ể đánh giá chất lượng một khoản cho vay, điều đầu tiên phải xem xét là kho ản cho vay đó có đảm bảo nguyên tắc cho vay hay không. Ba nguyên tắc cơ bản của cho vay là : - Thứ nhất : Cho vay có mục đích kế hoạch. - Thứ hai : Cho vay có đảm bảo - Thứ ba : Cho vay phải hoàn trả đúng hạn và có lãi. Ba nguyên tắc cho vay trên là nguyên tắc tối thiểu m à bất cứ một khoản cho vay có chất lượng nào cũng phải đảm bảo. b. Cho vay bảo đảm có điều kiện : Chi tiêu định tính thứ 2 để đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó là cho vay đ ảm bảo có điều kiện. Các điều kiện để một khách hàng được vay tại NHNo & PTNT Việt Nam. - Một là : Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với hộ sản xuất phải thường trú tại địa bàn nơi chi nhánh NHNo & PTNT đóng trụ sở có xác nhận hộ khẩu nơi thường trú và có xác nhận của UBND x ã (phường) nơi cho phép ho ạt động sản xuất kinh doanh. - Hai là : Khả năng tài chính đ ảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Hộ sản xuất vay vốn phải có vốn tự có tham gia vào dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Hộ sản xuất phải kinh doanh có hiệu quả, không có nợ quá hạn tren 6 tháng với Ngân hàng. - Ba là : Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp : Không vi phạm pháp luật phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. - Bốn là : Hộ sản xuất có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả thi có hiệu quả. - N ăm là : Hộ sản xuất thực hiện các quy định để đảm bảo tiền vay. + Đối với hộ vay đến 10 triệu đồng không phải thế chấp tài sản + Đối với hộ vay trên 10 triệu đồng phải thực hiện đảm bảo tiền vay bằng tài sản, quyền sử dụng đất (bao gồm cả công trình, giá trị cây lâu năm, thủy hải sản nuôi trồng đã đến kỳ thu hoạch gắn liền với đất). 18
  19. Bất cứ một khoản cho vay hộ sản xuất nào đều phải xem xét đến 5 điều kiện cho vay trên để đánh giá chất lượng khoản vay. c. Quá trình thẩm định. Q uá trình thẩm định là chỉ tiêu định tính quan trọng nhất quyết định tới chất lượng khoản cho vay. Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để Ngân hàng nắm được thông tin về khách hàng, về năng lực pháp luật đạo đức của khách hàng, tình hình tài chính của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng... Đây là khâu không thể thiếu trong quá trình quyết định cho vay và theo dõi khoản vay. Quá trình thẩm định phải tuân theo các quy định về quy trình thẩm định và nội dung thẩm định cho vay của từng Ngân hàng. Một khoản vay có chất lượng là khoản cho vay đã được thẩm định và phải đảm bảo các bước của quá trình thẩm định. Quá trình thẩm định một khoản cho vay hộ sản xuất rất phức tạp do đặc điểm sản xuất kinh doanh của hộ là sản xuất kinh doanh tổng hợp. Vì vậy, việc tuân thủ quy trình thẩm định và nội dung thẩm định cho vay là b ắt buộc để một khoản cho vay đạt chất lượng. 2.2. Chỉ tiêu định lượng. Chất lượng tín dụng Ngân hàng là một khái niệm hoàn toàn tương đối. Bên cạnh mặt trừu tượng mà chỉ có thể đánh giá qua các chỉ tiêu định tính thì mặt cụ thể của nó có thể đánh giá qua các chỉ tiêu định lượng. a. Doanh số cho vay hộ sản xuất : Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất định thường là một năm. N goài ra, Ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng cho vay hộ sản xuất trong tổng doanh số cho vay của Ngân hàng trong một năm. D. số cho vay HSX Tỷ trọng cho vay HSX = ------------------------------------ x 100 (%) Tổng D. số cho vay b. Doanh số thu nợ sản xuất : 19
  20. Doanh số thu nợ hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền Ngân hàng thu hồi được sau khi đ ã giải ngân cho hộ sản xuất trong một thời kỳ. Đ ể phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đ ối phản ánh tỷ trọng thu hồi được trong tổng doanh số cho vay hộ sản xuất của ngân hàng trong một thời kỳ. Chỉ tiêu này được tính bằng công thức : Doanh số thu nợ hộ sản xuất --------------------------------------------- x 100 (%) Doanh số cho vay hộ sản xuất c. Dư nợ quá hạn hộ sản xuất : D ư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền N gân hàng chưa thu hồi được sau một thời hạn nhất định kể từ ngày khoản cho vay đến hạn thanh toán tại thời điểm đang xem xét. Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối, Ngân hàng thường xuyên sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn hộ sản xuất : Dư nợ quá hạn HSX Tỷ lệ nợ quá hạn HSX = ---------------------------------- x 100 (%) Tổng dư nợ HSX Đ ây là chỉ tiêu tương đối được sử dụng chủ yếu để đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất. Hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng Ngân hàng nói tiêng đều chứa đựng nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn kinh doanh của Ngân hàng. Do vậy, việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vay đúng hạn, thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản lý Ngân hàng liên quan đến sự sống còn của Ngân hàng. Đ ể xem xét chi tiết hơn khả năng không thu hồi được nợ người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ khó đòi. Tổng nợ khó đòi Tỷ lệ khó đòi = ---------------------------------- x 100 (%) Tổng nợ quá hạn Đ ây cũng là một chỉ tiêu tương đối. Tỷ lệ này ở mức cao là dấu hiệu cho thấy nguy cơ mất vốn cao do các khoản cho vay có vấn đề. d. Vòng quay vốn tín dụng hộ sản xuất : 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản