intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Bệnh đục thể thuỷ tinh bẩm sinh

Chia sẻ: Nguyen Hoang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
56
lượt xem
5
download

Bệnh đục thể thuỷ tinh bẩm sinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh đục thể thuỷ tinh bẩm sinh Đục thể thuỷ tinh (TTT) bẩm sinh là một đục TTT đã có từ trước khi trẻ ra đời, xuất hiện ngay sau khi sinh hoặc trong những tháng đầu tiên của cuộc đời, gặp ở tỷ lệ khoảng 0,4% trẻ mới sinh. Nguyên nhân Chủ yếu có 2 nguyên nhân sinh bệnh chính: một là di truyền chiếm khoảng từ 1025%; hai là nhiễm trùng trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là do virut (rubeon, herpes, cúm, quai bị...). Ngoài ra còn có thể do một số bệnh về rối loạn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bệnh đục thể thuỷ tinh bẩm sinh

  1. Bệnh đục thể thuỷ tinh bẩm sinh Đục thể thuỷ tinh (TTT) bẩm sinh là một đục TTT đã có từ trước khi trẻ ra đời, xuất hiện ngay sau khi sinh hoặc trong những tháng đầu tiên của cuộc đời, gặp ở tỷ lệ khoảng 0,4% trẻ mới sinh. Nguyên nhân Chủ yếu có 2 nguyên nhân sinh bệnh chính: một là di truyền chiếm khoảng từ 10- 25%; hai là nhiễm trùng trong thời kỳ người mẹ thai nghén, đặc biệt là do virut (rubeon, herpes, cúm, quai bị...). Ngoài ra còn có thể do một số bệnh về rối loạn chuyển hoá (như galactosa huyết, giảm canxi huyết...) và đục TTT bẩm sinh còn gặp trong một số hội chứng toàn thân khác. Triệu chứng Đục TTT toàn bộ gồm các hình thái mềm, sữa và màng.
  2. Thường được chẩn đoán sớm do sự có mặt của ánh đồng tử trắng, mất thị lực có thể kèm với rung giật nhãn cầu hoặc lác mắt. Đục TTT thường phối hợp với các tổn thương khác của nhãn cầu như nhãn cầu bé, giác mạc nhỏ, tổn hại võng mạc... Đục TTT chưa toàn bộ: gồm các hình thái đục bao TTT, đục nhân TTT. Loại này thường được chẩn đoán muộn hơn với những triệu chứng như sau: trẻ nhìn mờ đi, nhìn gần mờ hoặc nhìn xa mờ, có thể có lác mắt. Đục TTT bẩm sinh có thể xảy ra ở một mắt hoặc hai mắt. Điều trị Đối với đục bẩm sinh toàn bộ hai mắt cần phải phẫu thuật sớm ngay trong những tháng đầu của trẻ. Phương pháp phẫu thuật thường là mổ lấy TTT sau đó đeo kính hoặc dùng kính tiếp xúc ở trẻ dưới 5 tuổi; trẻ trên 5 tuổi có thể đặt TTTNT. Đối với đục TTT hai mắt chưa toàn bộ quyết định phẫu thuật không cần khẩn cấp đối với trẻ dưới 5 tuổi, cần điều chỉnh kính hoặc nhỏ giãn đồng tử. Trong trường hợp đục không đồng đều ở hai mắt chú ý điều trị mắt đục nhiều hơn trước. Đục TTT bẩm sinh một mắt có thể phẫu thuầt đặt TTTNT, loại này xuất hiện sớm thường bị nhược thị rất sâu, thường kèm với những tổn thương phối hợp tại mắt và toàn thân nên kết quả điều trị rất kém. Sau phẫu thuật cần chú ý điều trị nhược thị bằng cách bịt mắt và tập luyện Đề phòng
  3. Những gia đình đã có người bị bệnh đục TTT bẩm sinh cần phải được tư vấn về bệnh và nguy cơ mắc bệnh của con cái họ. Những người mẹ có thai cần phòng tránh các bệnh nhiễm trùng trong khi mang thai, nhất là các bệnh do virut. Khô mắt do thiếu vitamin A Những biến đổi ở mắt do thiếu vitamin A, bao gồm nhiều mức độ: khô kết mạc biểu hiện tình trạng thiếu vitamin A nhẹ, khô giác mạc thường để chỉ thiếu vitamin A ở mức độ nặng hơn. Khô nhuyễn giác mạc là hình thái trầm trọng nhất ở mắt, làm tiêu giác mạc và thường dẫn đến mù loà vĩnh viễn. Những trẻ em bị khô mắt còn có những bệnh toàn thân kèm theo như ỉa chảy, các bệnh đường hô hấp (viêm phổi), và bệnh sởi. Nguyên nhân Do thiếu vitamin A, là loại vitamin cần thiết cho sự phát triển, sức khoẻ, và chức năng bình thường của các mô bề mặt, như biểu mô của da và niêm mạc, và các mô của mắt, đặc biệt là kết mạc, giác mạc và võng mạc. Phân loại Quáng gà (XN): không nhìn rõ được trong điều kiện ánh sáng yếu. Khô kết mạc (X1A): kết mạc khô, dày và nhăn nheo.
  4. Vết Bitot (X1B): là những vết trắng hơi nổi lên, có bọt, nằm ở phía thái dương. Vết Bitot nằm trên kết mạc bị khô và thường ở hai mắt. Khô giác mạc (X2): giác mạc mất bóng, ánh sáng phản chiếu từ giác mạc bị phân tán và mờ xỉn. Khô nhuyễn giác mạc (X3A, X3B): sự mềm hoá và mủn giác mạc một phần hoặc toàn bộ, thường bị cả hai mắt. Sẹo giác mạc (XS): nhãn cầu thường bị teo lại (do thủng giác mạc và nhiễm trùng) hoặc bị rãn lồi ra. Tổn hại đáy mắt do khô mắt (XF) Điều trị 1. Điều trị bằng vitamin A Ngay sau khi chẩn đoán: uống vitamin A 200.000 đv x 1 viên (sử dụng 1/2 liều với trẻ dưới 1 tuổi). Ngày hôm sau: 200.000 đv vitamin A uống. Bốn tuần sau: 200.000 đv vitamin A uống. Nếu nôn kéo dài hoặc ỉa chảy nhiều, có thể thay thế liều đầu tiên bằng tiêm bắp 100.000 đv vitamin A tan trong nước (không được dùng dạng dầu).
  5. 2. Tra nước mắt nhân tạo 1 giờ 1 lần. 3. Tra dầu A 3 lần / ngày. 4. Nếu có nhiễm trùng tại mắt điều trị đặc hiệu chống các tác nhân vi khuẩn hoặc vi rút. 5. Kết hợp với điều trị các bệnh toàn thân và tăng cường dinh dưỡng cho trẻ. Điều trị dự phòng Trẻ trên 1 tuổi và dưới 6 tuổi: 200.000 đv vitamin A uống trong lần khám bệnh lần đầu tiên cho mỗi đợt mắc bệnh toàn thân. Trẻ dưới một tuổi và trẻ bất kỳ: 100.000 đv vitamin A uống trong lần khám bệnh lần đầu tiên cho mỗi đợt mắc bệnh toàn thân. Theo dõi Những trường hợp nặng phải nằm viện điều trị, nhẹ hơn thì theo dõi sau vài ngày hoặc vài tuần.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản