
BỆNH HỌC THỰC HÀNH
LAO PHỔI
(Phế Kết Hạch – Tuberculosis - Tuberculose)
Đại Cương
Lao phổi là một chứng bệnh hư nhược mạn tính có tính lây truyền và
rất nguy hiểm, chữa trị khó, vì vậy ngày xưa, chứng này đã được quy vào ‘tứ
chứng nan y’ là Phong, Lao, Cổ, Lại.
Trên toàn thế giới, năm 1997 có 16.300.00 bệnh nhân bị lao trong đó
7.250.000 mới bị và 7.250.000 mới mắc và 2.910.000 người chết vì lao.
Đây là loại bệnh giết người nhiều thứ tư của thế giới (sau Nhồi máu
cơ tim 7,2 triệu chết, Tai biến mạch máu não 4,6 triệu chết, Viêm phổi cấp
làm chết 3,9 triệu).
Ngày 24.12.1882, Robert Koch tìm ra vi trùng lao người ta lạc quan
cho rằng có thể nhanh chóng khống chế được loại bệnh lao nhưng hơn 100
năm qua bệnh vẫn còn ám ảnh toàn thể nhân loại.

Là một bệnh xã hội lây lan được bộ y tế chú tâm, được điều trị miễn
phí cho đến khi khỏi bệnh.
Theo các y văn cổ thì chứng lao trái và hư lao đều là chứng hư nhược.
Hư lao phần lớn bắt đầu từ Tỳ Thận hư dẫn đến Phế hư, còn chứng lao phổi
phần nhiều bắt đầu từ Tâm Phế hư mà gây nên Tỳ Thận hư. Ngoài ra hư lao
phần nhiều do sinh hoạt thiếu điều độ, phòng dục quá độ gây tổn thương
Thận, lao lực quá sức tổn thương Tỳ mà sinh bệnh còn lao phổi do truyền
nhiễm từ người này sang người khác, hộ này sang hộ khác cho nên cũng gọi
là ‘Truyền Thi Lao’ hay ‘Quỷ Chú ‘, ‘Phế Kết Hạch’, Lao Trái, Phế Lao.
Thuộc phạm vi chứng Hư lao của Đông Y.
Nguyên Nhân Bệnh Lý
YHHĐ cho rằng do vi khuẩn Mycobacterium và được gọi là vi khuẩn
Kock theo tên của người đã tìm ra nó.
Đông Y cho rằng do:
+ Cơ thể suy yếu, tinh khí huyết bất túc, nguyên khí suy giảm không
đủ sức để chống đỡ với tà khí bên ngoài xâm nhập như sách 'Nội Kinh" đã
viết: "Tà khí xâm nhập cơ thể gây bệnh được là vì chính khí hư suy”.

+ Trùng lao (trái trùng) xâm nhập cơ thể gây bệnh. Do cảm nhiễm
trùng lao lâu ngày tinh huyết hư tổn mà sinh lao trái.
Nhiều sách cổ đã sớm nhận thức về tính chất lây lan và nguy hiểm của
chứng lao trái như sách ‘Trửu Hậu Phương' viết: “Bêïnh lâu ngày gây suy
mòn dần, truyền cho người gần gũi rồi chết cả nhà ". Sách ‘Ngoại Đài Bí
Yếu' viết: 'Bất kể người lớn trẻ nhỏ đều có thể mắc bệnh ". Sách ‘Tế Sinh
Phương ‘ ghi: “Bệnh lao trái là tai hoạ lớn của nhân loại ".
Triệu Chứng
Các nhà chuyên môn về Lao nêu lên các triệu chứng báo hiệu nhiễm
lao như sau:
. Ho dai dẳng trên 3 tuần lễ.
. Cơ thể suy yếu và cảm thấy đau ran vùng ngực.
. Sụt cân.
. Ăn mất ngon miệng.
. Ho ra máu.
. Hơi thở ngắn, thở gấp, lao động mau mệt.

. Sốt và ra mồ hôi về đêm.
Chẩn Đoán
Cần làm một số xét nghiệm:
. Tìm trùng trực tiếp trong đờm.
. Xét nghiệm máu.
. Chụp phim (X quang phổi².
Biện Chứng Luận Trị
Đặc điểm lâm sàng của triệu chứng bệnh là: Ho, ho ra máu, đau ngực,
sốt về chiều (triều nhiệt), nóng trong xương (Cốt chưng), mồ hôi trộm (đạo
hãn), gầy sút cân.
Chứng bệnh phần lớn thuộc âm hư, có thể biện chứng luận trị như sau:
Âm Hư Phế Tổn: Người da khô cứng, lòng bàn chân tay nóng, ho
khan, ít đờm hoặc trong đờm có máu, sốt chiều hoặc về đêm, ra mồ hôi trộm,
má đỏ, miệng khô, họng khô, lưỡi thon đỏ, mạch Tế Sác.
Điều trị: Dưỡng âm, nhuận Phế chỉ khái, hoá đờm. Dùng bài Bách
Hợp Cố Kim Thang gia giảm.

(Trong bài, Sinh địa, Sa sâm, Mạch môn, Bách hợp tư âm, nhuận Phế;
Bách bộ, Cát cánh, Bối mẫu, Cam thảo, chỉ khái, hoá đờm).
Trường hợp ho ra máu thêm Thiến thảo căn, Trắc bá diệp (sao). Mồ
hôi nhiều thêm Lá dâu, Ngũ vị tử, Mẫu lệ. Âm hư hoả vượng thêm Địa cốt
bì, Tri mẫu, Thạch cao để tư âm giáng hoả.
Tỳ Phế Khí Hư: Mệt mỏi, ít thích hoạt động, ăn kém, hơi thở ngắn, ho
có đờm, ngực tức, giọng nói nhỏ, sắc mặt xanh tái, sợ lạnh, rêu lưỡi dày nhớt,
mạch Tế Nhược.
Điều trị: Kiện Tỳ, ích Phế, chỉ khái, hoá đờm. Dùng bài Lục Quân Tử
Thang gia giảm.
(Trong bài, Nhân sâm, Bạch truật, Bạch linh, Cam thảo bổ Tỳ Phế
khí; Trần bì, Khương chế Bán hạ, thêm Xuyên bối mẫu (tán bột uống) chỉ
khái, hoá đờm).
Ra mồ hôi trộm thêm Lá dâu, Hoàng kỳ để bổ khí, liễm hãn. Ho ra
máu thêm Bách bộ, Trắc bá diệp (sao cháy) để chỉ khái huyết.

