
BỆNH SỤP MI
1.1. Định nghĩa.
Sụp mi là sự sa của mi mắt trên xuống thấp hơn vị trí bình thường của nó (bình
thường mi trên phủ rìa giác mạc cực trên khoảng 1 - 2mm).
1.2. Phân loại
Vấn đề phân loại sụp mi rất quan trọng vì nó hướng chúng ta tới sự điều trị thích
hợp. Có nhiều cách phân loại sụp mi. Tuy nhiên, theo đa số các tác giả, sụp mi
được chia làm hai nhóm chính: sụp mi bẩm sinh và sụp mi mắc phải.
1.2.1. Sụp mi bẩm sinh: Chiếm khoảng 55% - 75% các trường hợp sụp mi.
a. Sụp mi đơn thuần:
- Thường gặp nhất, một hoặc hai bên.
- Có thể kết hợp với tật khúc xạ.
- Không gây nhược thị.

b. Sụp mi bẩm sinh phối hợp với những bất thường bẩm sinh khác.
* Sụp mi bẩm sinh phối hợp bất thường vận nhãn.
* Sụp mi bẩm sinh phối hợp với những dị dạng ở mặt (3 – 6%).
1.2.2. Sụp mi mắc phải:
Sụp mi mắc phải có thể xuất hiện lúc sinh và do đó có thể bị nhầm với sụp mi bẩm
sinh. Tỷ lệ sụp mi mắc phải chiếm khoảng 25% tổng số trường hợp sụp mi và
được chia làm 5 nhóm:
a. Sụp mi do tổn thương thần kinh (nguồn gốc trung tâm hoặc ngoại biên).
- Nguồn gốc trung tâm: Liệt vận nhãn với mức độ khác nhau (tổn thương nhân).
- Nguồn gốc ngoại biên:
+ Liệt thần kinh III thường kèm theo liệt vận nhãn. Nhiều khi không can thiệp
phẫu thuật loại sụp mi này vì mi bị sụp lại che chở tốt cho giác mạc, thường mất
cảm giác do tổn thương dây V.
+ Hội chứng khe giơi: Liệt các dây III, IV, V, Vi cùng bên làm cho nhãn cầu bên
tổn thương bất thường bất động nhìn thẳng, mi mắt sụp, giãn đồng tử, mất cảm
giác mạc, tê bì vùng dây V chi phối.

+ Hội chứng đỉnh hố mắt: Là hội chứng khe giơi kèm theo tổn thương thị thần
kinh.
+ Hội chứng xoang hang: Sụp mi, nhãn cầu đứng yên, đồng tử giãn, mất cảm giác
mạc, tê bì trên vùng thuộc nhánh dây V, lồi mắt thẳng trục, không đẩy thụt nhãn
cầu vào được, nghe ở vùng mắt và thái dương có tiếng thổi.
+ Hội chứng cuống não:
Hội chứng Weber: Liệt dây thần kinh III cùng bên, liệt nửa người đối diện (thường
do tổn hại ở chân cuống não).
Hội chứng Benedick: Liệt dây thần kinh III cùng bên, run chân tay bên đối diện
(thường do tổn hại vùng chỏm của cuống não).
- Hội chứng Claude Bernard – Horner:
+ Sụp mi, co đồng tử, nhãn cầu thụt
+ Làm test Néosynéphrine (+).
b. Sụp mi do cơ.
- Nhược cơ thường gặp ở những bệnh nhân nữ, trẻ tuổi:
+ Lúc đầu sụp mi một bên, là dấu hiệu phát hiện bệnh.

+ Thay đổi, tăng lên khi mệt mỏi, buổi chiều sụp nhiều hơn buổi sáng.
+ Rối loạn vận nhãn (song thị).
+ Test Prostigmine hoặc Tensilon (+).
+ Điện cơ thấy biên độ hoạt động cơ giảm và cơ chóng mệt.
- Bệnh cơ do ti lạp thể:
+ Bệnh di truyền (50%).
+ Bắt đầu khác nhau, nặng dần.
+ Sụp mi hai bên với mức độ khác nhau nhưng thường nặng.
+ Liệt vận nhãn không toàn bộ.
- Bệnh Steinert:
+ Sụp mi hai bên.
+ Hở mi (tổn thương cơ vòng).
c. Sụp mi do cân:
+ Ở người lớn tuổi.
+ Chức năng cơ gần như bình thường.

+ Khi nhìn xuống mi sụp.
+ Nếp gấp da mi cao hơn bình thường, mi mỏng.
+ Sụp mi nặng hoặc nhẹ.
d. Sụp mi do chấn thương .
Chấn thương đụng dập hoặc đâm xuyên vào cân cơ cũng có thể gây sụp mi vĩnh
viễn. Tổn thương mô bệnh học có thể phối hợp cân cơ và sẹo. Cần nghĩ đến tổn
hại cân cơ nâng mi nếu rách mi có lộ lớp mỡ trước cân cơ. Phẫu thuật hốc mắt và
phẫu thuật thần kinh cũng có thể gây sụp mi. Thường theo dõi 6 tháng hoặc lâu dài
vì trong giai đoạn này vẫn có khả năng tự phục hồi.
e. Sụp mi do tác nhân cơ giới.
- Cơ chế của cân (u, sa da mi).
- Bệnh lý sẹo (xơ hoá cơ, mắt hột, bỏng).
Cần phân biệt sụp mi thực sự với giả sụp mi.
1.2.3. Giả sụp mi.
Là tình trạng mi mắt trông có vẻ thấp hơn bình thường, nguyên nhân gồm:
- Lõm mắt hoặc lồi mắt bên đối diện.

