CHẨN ĐOÁN DI TRUYỀN TIỀN LÀM T
ĐẠI CƯƠNG
Thut ng“Chẩn đoán di truyền tiền làm tđược dịch từ tiếng Anh “Pre-
implantation Genetic Diagnosis”, viết tt là PGD. K thuật PGD hiện nay là
một kỹ thuật hoàn chnh, cho phép các cặp vchồng nguy truyền các
bệnh lý di truyền cho con có thể có cơ hội sinh con không mc bệnh mà không
phải chẩn đoán tiền sản sau khi mang thai và b thai khi phát hiện bnh
thai. Kỹ thuật PGD dựa trên việc phát hiện các bất thường di truyền ở phôi (in-
vitro) ch cấy trlại vào lòng t cung các phôi không các bất thường về
di truyền.
PGD được báo cáo lần đầu tiên trên thế giới o năm 1990. Trong o cáo
đăng trên tạp chí Nature, Handyside và cộng sự(Error! Reference source not found.) đã báo
o c tờng hợp thai từ các phôi đã được sinh thiết và chẩn đoán di
truyền bằng cách khuyếch đại DNA đặc trưng cho nhim sắc thY. Tuy nhiên
trong 3 năm đầu phát triển, chỉ 1 số tờng hợp sanh sống từ phôi PGD được
o cáo.
Tuy nhiên, t khi kỹ thuật FISH (fluorescent in situ hybridization) bắt đầu được
áp dụng trong PGD o năm 1993-1994 để chẩn đoán các bất thường nhiễm
sc thể, PGD đã phát triển nhanh chóng và strường hợp PGD trên thế giới bắt
đầu tăng mạnh. Ch trong vòng 2 năm sau đó, hơn 100 trưng hợp sinh sống từ
phôi PGD đã được báo cáo trên thế gii(Error! Reference source not found.).
o năm 1996, PGD tiếp tục mt ớc phát triển mi khi người ta bắt đầu xác
định được chuyển đoạn nhim sắc thvà ứng dụng vào PGD. K thuật chẩn
đoán di truyền này giúp xác định các phôi không có các chuyển đoạn trước khi
cy vào t cung(Error! Reference source not found.).
T năm 1999, PGD lại được mrộng chỉ định để chn đoán phôi mang các
gen liên quan đến các bệnh về sau này ở đứa trẻ. Đây là một ch định mi so
với các chỉ định tớc đây của chẩn đoán tiền sn(Error! Reference source not found.). Ch
định này cho phép b mẹ mang gen tiềm ẩn một bệnh được biết trước
thsinh ra đời một trhoàn toàn không mang gen bệnh. Điều này mang đến
khnăng ứng dụng rất lớn của PGD khi các nhà khoa ngày ng phát hin
nhiều bệnh ở người có liên quan đến di truyn.
K thuật thực hiện
Nguyên tc vkỹ thuật của PGD dựa trên việc thực hiện thụ tinh trong ống
nghiệm (TTTON) để tạo phôi, sau đó sinh thiết phôi và phân tích nhiễm sắc th
hoặc DNA bằng kỹ thuật FISH hoặc PCR (polymerase chain reaction). Nhìn
chung kỹ thuật PGD gồm 3 ớc:
m thng màng trong suốt (zona drilling)
K thuật làm thng màng trong suốt nhằm mục đích tạo một l trên màng trong
suốt. Thông qua lỗ thủng này, nời ta sử dụng kim sinh thiết để hút các tế bào
trong phôi.
Làm thủng màng trong sut có thể được thực hiện bằng nhiềuch khác nhau:
- S dụng acid Tyrodes
- Xé màng zona bằng phương pháp cơ học
- S dụng tia laser không tiếp xúc
Sinh thiết phôi (embryo biopsy)
Hiện nay, sinh thiết tế bào để làm chẩn đoán di truyền thể thực hiện các
giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển ca phôi: (i) Giai đon hợp tử:
sinh thiết c thcực; (ii) Giai đoạn phân chia vào ngày th 3, khoảng 6-8 tế
o: sinh thiết 1-2 phôi bào; (iii) Giai đoạn phôi nang: sinh thiết các tế bào
thuộc lớp trophectoderm(Error! Reference source not found.).
Sinh thiết th cc (polar body biopsy)
Sinh thiết thể cực ưu điểm là ít nh ng đến sự phát triển của phôi vì đây
là các sản phẩm phụ bị loại bỏ trong quá trình phát triển của trứng và hợp tử.
Ngoài ra, sinh thiết thể cực có thđược phôi hợp với sinh thiết phôi bào để tăng
độ chính xác của các chẩn đoán di truyền.
Tuy nhiên, sinh thiết thể cực nhược đim lớn là chthể chẩn đoán các
bất tng từ mẹ do thcực chỉ chứa c nhiễm sắc thể xuất phát từ trứng.
Ngoài ra, trong quá trình phát trin thể cực thnhất hay bvỡ thành nhng
mảnh nhỏ, điều này thdẫn đến việc thất thoát chất liệu di truyền, làm
ảnh hưởng đến kết quả chn đoán.
Sinh thiết phôi bào vào giai đoạn phân cắt của phôi (cleavage-embryo
biopsy)
Sinh thiết phôi được thực hiện vào ngày th 3 sau thtinh. giai đoạn này
phôi t 6-8 phôi bào. Một đến hai phôi bào s được sinh thiết để làm chn
đoán về di truyền. Việc lấy đi 1-2 phôi bào trong giai đoạn này không gây ảnh
ởng đến sự phát triển của phôi còn lại. Đây là kthuật sinh thiết phôi ph
biến nhất hiện nay.
Trong trường hp này, phôio sinh thiết cần được chn đoán di truyền sm
để dựa vào kết quả chẩn đoán y, người ta schọn phôi và cy vào bung
tcung vào 1-2 ngày sau. Hiện tượng liên kết giữa c phôi bào th đã
bắt đầu vào thi đim này, để chun bsang giai đoạn phôi u vào ngày
tiếp theo. Do đó, thể gặp kkhăn khi sinh thiết pi bào giai đoạn
phân chia. Việc chẩn đoán di truyền được thực hiện chỉ trên 1 hoặc 2 tế bào
được cũng là một thách thức ca kthuật. Ngoài ra, hin tượng khảm
(mosaicism) vn thể xy ra giai đoạn y. Điu này dẫn đến kết quả
chẩn đoán di truyền trên phôi bào sinh thiết được th không thể hin
chính xác cấu trúc di truyền của phôi(Error! Reference source not found.).
Sinh thiết phôi nang (blastocyst biopsy)
Đây là một kỹ thuật mới, chđược ứng dụng lâm sàng gần đây. Phôi sẽ được
nuôi cấy đến ngày th 5 hoặc ngày 6 sau khi th tinh. Sau khi làm thng màng
trong suốt, trophectoderm bắt đầu thoát ra khỏi màng trong suốt qua lthủng.
Mt số tế bào (5-10 tế bào) thuộc lớp trophectoderm sẽ được sinh thiết để làm
chn đoán di truyền.
K thuật này một số ưu điểm nhất định. Chúng ta s nhiều tế bào hơn để
thực hiện chẩn đoán di truyền. Phôi được sinh thiết giai đoạn này thường
sc sống cao hơn so với phôi giai đoạn phân cắt.
Tuy nhiên, sinh thiết giai đoạn phôi nang cũng gặp một số bất lợi như
trong quá nuôi cy in vitro, nhiều phôi thkhông phát triển được đến giai
đoạn phôi nang. Ngoài ra kết quả di truyền chẩn đoán được có thkhông thể
hiện chính xác di truyền ca phôi do hin tượng khảm.
(3) Chẩn đoán di truyền
PGD th được chia làm 2 loại chính:
- Chẩn đoán bất thường nhim sắc thể: sử dụng kỹ thuật FISH