
Chiến tranh Tống - Việt, 1075-1077
Chiến tranh Tống - Việt, 1075-1077 là tên gọi cuộc chiến tranh giữa nhà Lý
nước Đại Việt và nhà Tống của Trung Quốc vào cuối thế kỷ 11. Giai đoạn đầu, tướng
nhà Lý là Lý Thường Kiệt đã chủ động đánh sang đất Tống trong chiến dịch 1075-
1076; Giai đoạn sau, quân Lý rút về phòng thủ chống lại cuộc nam tiến của đại quân
Tống trong năm 1076-1077 và cuối cùng đẩy lui được quân Tống ra khỏi lãnh thổ Đại
Việt.
Mục lục [xem]

Hoàn cảnh lịch sử
Năm 1010, Lý Công Uẩn lập ra nhà Lý. Để củng cố khu vực biên giới phía bắc,
nhà Lý dùng chính sách gả công chúa cho các thủ lĩnh miền núi để gắn chặt mối quan
hệ với họ. Trải qua 3 triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông, nước
Đại Việt phát triển ổn định, khá vững mạnh.
Ở phương bắc, nhà Tống từ khi thành lập (960) đã phải khắc phục những hậu
quả do thời chia cắt Ngũ đại Thập quốc để lại. Ngoài việc đánh dẹp các nước cát cứ,
nhà Tống phải đối phó với nước Liêu lớn mạnh ở phương bắc - quốc gia của người
Khiết Đan được vua nhà Hậu Tấn cắt cho 16 châu Yên Vân ở phía bắc từ năm 936 nên
lãnh thổ bành trướng nhiều về phía Trung Quốc và thường nhân đó can thiệp vào
trung nguyên. Đến thời Tống Thái Tông, dù dẹp hết các nước trong Thập quốc nhưng
nguy cơ uy hiếp từ phía nhà Liêu vẫn luôn tiềm ẩn với nhà Tống.
Sang thời Tống Nhân Tông, nhà Tống lại bị thêm sự uy hiếp của nước Tây Hạ
của người Đảng Hạng phía tây bắc mới nổi. Nhà Tống phải cống nộp nhiều của cải và
bị mất nhiều phần lãnh thổ cho Liêu và Tây Hạ. Trong nước, triều Tống bị rối loạn bởi
những cải cách của Vương An Thạch.
Chủ trương tiến đánh các nước phía nam Trung Quốc để giải tỏa các căng
thẳng trở thành một chiến lược của nhà Tống.
Biên giới Tống-Việt trước cuộc chiến
Xem thêm: Nùng Trí Cao

Từ thời Lý Thái Tông, nhà Lý đã nhân cuộc đánh phá biên giới nhà Tống của
thủ lĩnh người Tày là Nùng Trí Cao mà bành trướng ngầm lãnh thổ của mình bằng
cách xúi biên dân người Việt lấn đất và sinh sự trong một thời gian khá dài[1].
Tri châu Tiêu Chú ở Ung Châu đã có lần dâng sớ về triều xin đánh Đại Việt
kẻo sau có đại họa. Nhưng Tiêu Chú bị bãi chức. Khi Vương An Thạch lên cầm
quyền, Tiêu Chú được phục chức vì ông là người am hiểu mọi vấn đề Đại Việt đang
nằm trong kế hoạch mở rộng xuống phương nam của Vương An Thạch. Đánh Đại
Việt không chỉ để khuếch trương về phương nam mà còn lấy khí thế để mở rộng
cương vực cho Trung Nguyên về phương bắc (đánh Liêu và Hạ).
Năm 1060, quan Lạng châu mục là Thân Thiệu Thái đem binh vào huyện Nhử
Ngao ở châu Tây Bình thuộc địa giới nhà Tống để bắt người bỏ trốn. Bắt sống được
nhóm ấy nhưng có lẫn cả Dương Lữ Tài là một viên quan nhà Tống và nhiều nam, nữ,
trâu, ngựa. Nhà Tống sai quan Lại bộ thị lang là Dư Tĩnh đến Ung Châu thảo luận về
việc ấy. Lý Thánh Tông lại sai Bùi Gia Hựu tới Ung Châu bàn nghị. Dư Tĩnh đem
nhiều của đút lót Bùi Gia Hựu và gửi thư cho Hựu mang về, xin vua Lý trả lại Dương
Lữ Tài nhưng không được[2].
Vua Tống nén giận, giữ tình hòa hảo nhưng vẫn đợi dịp thuận tiện để xâm lăng
Đại Việt mà từ lâu Tống coi như kẻ thù trong suốt mười năm. Tiêu Chú sau khi được
phục hồi liền tới Quế Châu giao dịch với các tù trưởng từ đạo Đặc Ma đến châu Điền
Đống được hiểu lúc này Lý triều thắng Chiêm Thành, cướp thêm được 3 châu của
người Chiêm, dân sinh quốc kế rất thịnh đạt.
Chủ trương đánh Đại Việt của Tống

Từ năm 1070, Vương An Thạch chú ý đến phương nam và muốn lập công ở
ngoài biên, tâu lên vua Tống rằng:
"Giao Chỉ vừa đánh Chiêm Thành bị thất bại, quân không còn nổi một vạn, có
thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ."[3].
Vua Tống hỏi ý Tiêu Chú nhưng Tiêu Chú không tán thành cuộc nam chinh.
Trái lại, Binh bộ thị lang Thẩm Khởi lại rất đồng tình đánh Đại Việt. Vua Tống liền
phái Thẩm Khởi thay Tiêu Chú làm Quảng Tây kinh lược sứ năm 1073 lo việc xuất
quân.
Việc thứ nhất của Thẩm Khởi là đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế. Việc thứ
hai là phủ dụ 52 động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy
chiến. Sợ Đại Việt biết, ông cấm hẳn mọi việc buôn bán, giao dịch giữa các biên dân
Việt-Trung.
Các tù trưởng nằm trong kế hoạch phủ dụ của Thẩm Khởi là Lưu Kỷ ở Quảng
Nguyên, Nùng Thiện Mỹ ở Bắc Cạn, giáp Thất Khê hưởng ứng. Theo Nguyễn Văn
Tố, họ Thẩm chứa chấp Nùng Thiện Mỹ và việc này đă đến tai người Việt[4]. Công
việc đang tiến triển thì tháng ba năm 1074, Chuyển vận sứ Quảng Tây tỏ ý phản đối
Thẩm Khởi về các hoạt động kể trên. Thêm nữa, Thẩm Khởi đã sai lầm trong nhiều
việc nên bị đổi đi Đàm Châu và chính Vương An Thạch cũng không tin rằng Thẩm
giải quyết nổi vấn đề Đại Việt. Bấy giờ vua Tống trách Thẩm Khởi vì tội tự tiện nhận
bọn Nùng Thiện Mỹ mà không hỏi, cũng không đồng ý cho Lưu Kỷ nhập Tống vì sợ
nhà Lý giành lại.

Lưu Di thay Thẩm Khởi, được lệnh tăng cường binh lực, tiếp tục điểm dân, tích
lương, đóng chiến thuyền, luyện tập thủy binh. Cũng như Thẩm Khởi, Lưu Di còn
cấm người Đại Việt sang đất Tống buôn bán vì sợ bị do thám.
Đặc biệt, nhà Tống đã biến Ung Châu thành một căn cứ xuất phát để đánh Đại
Việt và giao cho Tô Giám, một viên tướng dày dặn kinh nghiệm trong cuộc chiến
chống Nùng Trí Cao trước đây chỉ huy căn cứ này.
Mọi sự chuẩn bị chinh phạt của nhà Tống đều được cố gắng giữ bí mật. Hoàng
đế Tống nhắc nhở: "Nghe Giao Chỉ sai nhiều kẻ gian tới thám Lưỡng Quảng. Vậy các
chỉ huy, các tướng phải coi chừng. Đừng để nó dò được phép công, thủ, tiến thoái của
ta."[5]
Đại Việt đánh đòn phủ đầu
Bài chi tiết: Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076
Năm 1072, vua Lý Thánh Tông qua đời, thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên thay,
tức là vua Lý Nhân Tông. Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, được sự phò tá của các đại
thần Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành nên tình hình quốc gia vẫn khá ổn định.
Tuy Tống cố gắng giữ bí mật, nhưng tình báo của Đại Việt vẫn nắm được ý đồ
của quân Tống. Đặc biệt, năm 1073, một tiến sỹ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không
được trọng dụng nên đã thông báo với nhà Lý[6]:
Hiện nay Trung Quốc muốn cử binh diệt Giao Chỉ. Theo binh pháp dạy:
"Trước khi người có bụng cướp mình thì chi bằng mình đánh trước" Lúc nào quân Đại
vương vào đánh, Bá Tường xin làm nội ứng.

