
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VỚI
ASEAN TRONG TIẾN TRÌNH GIA NHẬP TỔ
CHỨC
GIAI ĐOẠN 1991-1995
Nhóm :
Tên: Nguyễn Trọng Đức - CT36B
Trần Bích Thảo - CT36C
Nguyễn Thu Thủy - CT36C
Nguyễn Hương Nga - CT36D
Lê Phương Nga - CT36D
Hoàng Như Ngọc - CT36D

1
Lời mở đầu.
Sau hơn 30 năm ra đời, xây dựng và phát triển, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á,
viết tắt là ASEAN (The Association of South East Asian Nations) đã ngày một lớn mạnh. Từ
một ASEAN gồm 5 nước thành viên, đến nay ASEAN đã trở thành một tổ chức gồm hầu hết
các quốc gia trong khu vực. Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 28 tháng 7 năm
1995. Thời điểm bây giờ nhìn lại mọi chuyện tưởng chừng như khá đơn giản, Việt Nam tham
gia tổ chức khu vực là một điều tất yếu, thế nhưng sự kiện lịch sử này lại là cả một quá trình
trong đó yếu tố đối ngoại nắm giữ vai trò quan trọng, cụ thể là chính sách đối ngoại của nước
ta với các nước ASEAN trong tiến trình gia nhập vào tổ chức này giai đoan từ năm 1991 đến
năm 1995.
Nhìn lại tiến trình lịch sử, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong một thế
giới mới đầy biến động đã đáp ứng được những yêu cầu xây dựng và phát triển đất
nước. Nó đã sáng tạo những hình thức đối ngoại phù hợp với xu thế thời đại chính vì
thế đã thu được những thành tựu to lớn. Những thành tựu đối ngoại đã góp phần quan
trọng trong việc đưa Việt Nam hoà nhập với khu vực và thế giới, cụ thể là trở thành
thành viên thứ 7 của ASEAN. Việc hội nhập toàn diên vào tổ chức này đã mang lại
những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước, qua khẳng định tư duy chính trị
nhạy bén, sâu sắc, giàu kinh nghiệm trong lãnh đạo nước nhà. Đặc biệt là trong giai
đoạn 1991-1995, công cuộc đổi mới tư duy đối ngoại, đường lối đối ngoại với các
nước ASEAN đã thể hiện bản sắc, truyền thống ngoại giao Việt Nam trong lịch sử và
được nâng lên tầm cao mới, chính vì vậy nhóm chọn đề tài "Chính sách đối ngoại
của Việt Nam với ASEAN trong tiến trình gia nhập tổ chức giai đoạn 1991-1995"
nhằm làm rõ những quyết sách đúng đắn sáng tạo của nhà nước, trong tiến trình gia
nhập tổ chức ASEAN.

2
Chương 1 : Mở rộng quan hệ với ASEAN và chủ động hội
nhập là yêu cầu cần thiết của đất nước.
Thời điểm từ năm 1991, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới trong hoàn cảnh
quốc tế đang diễn ra những biến đổi to lớn về kinh tế và chính trị. Thuận lợi và khó
khăn nên được đánh giá toàn diện và so sánh qua các thời kỳ và hiện nay chúng ta
đang đứng trước những khó khăn, thử thách gay gắt. Sự sụp đổ của các nước xã hội
chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô đã gây ra ảnh hưởng không tốt về chính trị, tư tưởng.
Liên Xô tan rã làm mất đi thế hai cực trong quan hệ quốc tế dẫn đên sự thay đổi trong
cán cân lực lượng trên thế giới và trong khu vực. Điều này đã tác động sâu sắc đối với
phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam. Ở Đông Nam Á, cả Mỹ và
Nga đều bắt đầu giảm thiểu sự hiện diện quân sự của mình trong khu vực. Việc này đã
tạo ra một khoảng trống quyền lực. Những cố gắng nhằm đẩy mạnh vai trò cả về
chính trị, kinh tế, quân sự của một vài cường quốc Châu Á đã làm tăng mối lo ngại
truyền trống trong các nước ASEAN và các nước Đông Nam Á khác về một nguy cơ
thật sự đối với khu vực. Hơn nữa, sự rút lui của Mỹ đã làm mất đi chỗ dựa truyền
thống về an ninh của các nước ASEAN, trong khi vấn đề Campuchia chưa phải đã
thật sự chấm dứt hoàn toàn và bên cạnh đó lại nảy sinh những nguy cơ tiềm tàng ở
Biển Đông… Chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng phản động quốc tế lợi dụng tình
hình để chia rẽ ba nước Đông Dương, gây sức ép hơn nữa đối với nước ta và các nước
Đông Dương, hòng giải quyết vấn đề Campuchia theo hướng có lợi cho chúng. Các
thế lực thù địch ra sức lợi dụng tình hình trên, ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biễn
hoà bình” bằng những thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá và quân sự rất
thâm độc. Cùng với đó là cuộc khủng hoảng kinh tế 1997 đã tác động vào tốc độ phát

3
triển của khu vực và ASEAN. Đối với Việt Nam, các đối tượng hợp tác truyền thống
là Liên Xô và các nước Đông Âu lại đang khủng hoảng trầm trọng, trong khi đó chính
quyền Mỹ vẫn thi hành chính sách bao vây, cấm vận, ngăn cản các nước và các tổ
chức kinh tế quan hệ kinh tế với nước ta.
Nhưng nếu so với mấy chục năm trước, khi chúng ta phải trải qua những cuộc
chiến tranh khốc liệt, và so với 12 năm trong hoàn cảnh nước ta bị bao vây, cấm vận,
thì thời điểm hiện nay không phải là khó khăn nhất. Trái lại, chúng ta đang có những
thuận lợi và cơ hội mới. Cùng với việc kết thúc Chiến tranh lạnh, ở Đông Nam Á,
việc ký kết Hiệp định hòa bình Paris về Campuchia (tháng 10/1991) đã đặt ra cho cả
Việt Nam lẫn các nước ASEAN nhiều cơ hội lẫn thách thức mới.
Lần đầu tiên sau nhiều năm chiến tranh, xung đột và đối đầu, tất cả các quốc
gia và nhân dân trong khu vực đã có những cơ hội thật sự để phát triển nhằm thiết lập
một nền hòa bình bền vững và lâu dài, cũng như vun đắp cho tình hữu nghị và thịnh
vượng chung ở khu vực. Thay cho chiến tranh lạnh và đối đầu, các nước lớn đi vào
hợp tác để giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực. Vấn đề Campuchia đang đi tới
chỗ giải quyết. Quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc
đang tiến triển có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực. Đây cũng là cơ hội để khởi
xướng tăng cường và phát triển sự hợp tác vì tiến bộ chung, chuẩn bị để bước vào thế
kỷ XXI, thế kỷ Châu Á - Thái Bình Dương. Xu thế hòa bình và hợp tác gia tăng giữa
lúc xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa lan tỏa, các nước Đông Nam Á đều nhận thức
về một cơ hội mới cho sự phát triển của mình. Tình hình này tạo điều kiện thuận lợi
cho các nước Đông Nam Á tăng cuờng hợp tác về một trật tự mới, một Đông Nam Á
hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác. Trang sử mới đang được mở ra trong quan hệ
giữa các nước trong khu vực này.

4
Bên cạnh những cơ hội nói trên, không ít thách thức cũng xuất hiện mà cà Việt
Nam và ASEAN đều phải đối phó. Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên
lợi ích lớn nhất lúc này là duy trì hòa bình ổn định khu vực, tạo dựng một môi trường
quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Tuy khủng hoảng từng bước bị
đẩy lùi nhưng chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, trình độ
kinh tế và khoa học - kỹ thuật của nước ta còn thấp kém, lại đứng trước thách thức về
sự phát triển kinh tế và khoa học - kỹ thuật rất nhanh của thế giới và khu vực. Trong
lúc này, nhiều vấn đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được tạo ra. và
cùng với đó là sự khai thông của quan hệ quốc tế. Việt Nam đang tập trung sức lực
vào phát triển nền kinh tế vốn bị chiến tranh tàn phá, cải thiện đời sống nhân dân, đưa
đất nước đi lên theo kịp với nhịp độ phát triển chung của các nước trong khu vực và
trên thế giới. Thách thức lớn đối với Việt Nam để hội nhập được vào xu thế chung của
thế giới là ưu tiên cho phát triển kinh tế và Việt Nam cần phải có nhiều cố gắng để
tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế. Với mục tiêu đó, Việt Nam đã tăng cường và phát
triển các mối quan hệ hợp tác với bên ngoài, trước hết là với các nước trong khu vực
Đông Nam Á. Thoát khỏi khủng hoảng, phát triển kinh tế - xã hội được coi là lợi ích
tối cao; và để phục vụ mục tiêu này, đẩy lui chính sách cô lập, bao vây cấm vận Việt
Nam, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi, trước hết là ở khu vực, được coi là
nhiệm vụ hàng đầu của công tác ngoại giao.
Trong bối cảnh đó, đẩy mạnh quan hệ với ASEAN trở thành mục tiêu quan
trọng đối với Việt Nam vì ASEAN là một tập hợp của những nước nhỏ và vừa, có
xuất phát điểm gần giống Việt Nam, đã vươn lên thành những nước có nền kinh tế
phát triển nhất ở khu vực hiện nay. Hợp tác chặt chẽ với ASEAN sẽ giúp Việt Nam
nhanh chóng đuổi kịp và hòa nhập với sự phát triển kinh tế của các nước trong khu
vực. Bên cạnh đó, ASEAN có tiếng nói và vai trò ngày càng tăng trên thế giới, là tổ
chức khu vực duy nhất trên thế giới có mối quan hệ chặt chẽ và cơ chế đối thoại
thường xuyên với nhiều nước công nghiệp phát triển, trong đó bao gồm tất cả 5 ủy

