
CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI:
TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI
PGS.TS Nguyễn Văn Dân
Ngày nay, có ý kiến cho rằng chủ nghĩa hiện đại đã được thay thế bằng chủ
nghĩa hậu hiện đại; rằng thời kỳ hiện đại đã chấm dứt và bây giờ là thời kỳ
hậu hiện đại. Tuy nhiên, thực chất cái gọi là chủ nghĩa hậu hiện đại có phải
chỉ là sự ảnh hưởng hay sự nối dài của chủ nghĩa hiện đại không? Chúng
tôi xin trình bày lại vấn đề này như sau…
1. Khái niệm “[chủ nghĩa] hậu hiện đại” ở Việt Nam
Có lẽ thuật ngữ “hậu hiện đại” xuất hiện trên báo chí nước ta lần đầu tiên là
từ năm 1991, trong bản dịch một bài viết của Antonio Blach (Tây Ban Nha), nhan
đề: “Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại” (Tạp chí văn học, số 5-
1991). Từ đó đến nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ Việt Nam đã nói
nhiều đến hậu hiện đại. Gần đây, trên báo Văn nghệ số 18+18 ngày 30-4-2011,
PGS.TS. Lê Huy Bắc có bài viết “Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại và truyện
ngắn hậu hiện đại”, trong đó tác giả tiếp thu ý kiến của một số tác giả nước ngoài
để khẳng định như đinh đóng cột rằng chủ nghĩa hậu hiện đại đã “bắt đầu từ thơ
Đađa (1916), truyện của Franz Kafka (1883-1924) và kịch phi lý từ những năm
1950”. Và gần đây nhất, tháng 8-2011, GS Phương Lựu đã cho xuất bản cuốn
sách Lý thuyết văn học hậu hiện đại, trong đó ông tập hợp các bài đã viết về một
số lý thuyết nghiên cứu văn học xuất hiện từ khoảng giữa thế kỷ XX mà trước đây
được ông gọi là hiện đại thì nay ông lại gọi là hậu hiện đại. Có thể nói, thuật ngữ
“hậu hiện đại” đang trở thành một cái mốt trong các diễn đàn văn học.

Lý do lên ngôi của khái niệm “hậu hiện đại” một phần là do trong giới văn
nghệ nước ta đang có sự hẫng hụt về chủ nghĩa hiện đại. Nhiều người không biết
chủ nghĩa hiện đại có bao nhiêu trào lưu và những tác giả tiêu biểu của chúng là ai.
Đến khi gần đây thấy có người nói đến hậu hiện đại, thế là người ta chỉ biết có hậu
hiện đại và nghiễm nhiên coi các trào lưu hiện đại trong văn nghệ xuất hiện từ đầu
thế kỷ XX là hậu hiện đại.
Có người thấy người nước ngoài nói chủ nghĩa hậu hiện đại có gốc rễ từ
chủ nghĩa Đađa (đầu thế kỷ XX), thế là cứ nghiễm nhiên đi dạy cho học sinh rằng
chủ nghĩa hậu hiện đại có từ thời Đađa,... Thậm chí như GS Phương Lựu, trong
khi viết giáo trình Lý luận văn học (xuất bản lần đầu thành ba tập vào những năm
1986-1988, đến năm 1997 tái bản thành một tập và tiếp tục tái bản đến lần thứ 5
vào năm 2006) vẫn xếp “tiểu thuyết mới” và “kịch phi lý” – những trường phái
văn học giữa thế kỷ XX – vào trong số các “chủ nghĩa hiện đại”, sau đó thấy nói
đó là hậu hiện đại, thì trong các bài viết khác của mình từ năm 2000, ông lại quay
sang nói là “hậu hiện đại”, nhưng có điều lạ là ông vẫn giữ nguyên quan điểm của
mình về các chủ nghĩa hiện đại nói trên trong các lần tái bản cuốn sách lý luận kia.
Tiếp đến khi viết lại bộ giáo trình lý luận này thành ba tập, với tập 1 được xuất bản
lần đầu từ năm 2001 và tái bản lần ba vào năm 2009 (với tập 3 có liên quan đến
vấn đề ở đây đã được xuất bản lần đầu vào năm 2005 và tái bản lần ba vào năm
2009), ông đã có ý thức cắt những hiện tượng văn học nói trên cho sang phần nói
về “chủ nghĩa hậu hiện đại”, nhưng vẫn để sót “tiểu thuyết mới” ở phần nói về chủ
nghĩa hiện đại trong khi đã “dán” nó vào phần “chủ nghĩa hậu hiện đại” rồi! Vậy
là trong cùng một chương sách do cùng một người viết, cùng một hiện tượng vừa
được gọi là “hiện đại chủ nghĩa” lại vừa được gọi là “hậu hiện đại chủ nghĩa”!
Điều đó cũng chứng tỏ là khi biên soạn giáo trình lý luận văn học, nhiều tác giả
Việt Nam thấy có người nước ngoài nói các trường phái kia là hiện đại thì họ cũng
nói theo, bây giờ thấy người khác nói là hậu hiện đại thì họ lại quay sang nói theo
là hậu hiện đại. Thế là họ phải thực hiện một thao cắt dán máy móc mà không hề

có chủ kiến, tự mình phủ định mình một cách rất dễ dãi và hồn nhiên. Nghĩa là
trong cùng một người hiện đang tồn tại đồng thời hai cách gọi khác nhau cho một
hiện tượng văn nghệ, mà đều là hai cách gọi theo nước ngoài. Trong khi đó thì
cũng vào thời điểm năm 2009, cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi vẫn ghi nhận “tiểu thuyết mới” là một trong
những trào lưu hiện đại chủ nghĩa.
Đấy là thái độ đối với các trào lưu sáng tác nghệ thuật, còn đối với các lý
thuyết nghiên cứu văn học, thì thái độ của các nhà nghiên cứu của nước ta cũng có
những thay đổi rất hồn nhiên và dễ dãi. Ví dụ như trường hợp vẫn của GS Phương
Lựu. Năm 1995 ông cho in cuốn sách Tìm hiểu lý luận văn học phương Tây hiện
đại, trong đó có giới thiệu “Lý luận phê bình của chủ nghĩa hậu cấu trúc”. Có
nghĩa là lúc đó, người ta vẫn coi chủ nghĩa hậu cấu trúc (hay giải cấu trúc) là một
trong những lý thuyết hiện đại. Đến năm 2011, ông xuất bản cuốn sách Lý thuyết
văn học hậu hiện đại, trong đó ông lại gọi chủ nghĩa giải cấu trúc là “mũi nhọn lý
thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại”. Về cơ bản, việc giới thiệu lý thuyết giải cấu
trúc giữa hai thời điểm 1995 và 2011 không khác nhau nhiều, nhưng điều kỳ lạ là
tác giả không hề có một câu giải thích tại sao năm 1995 nó được gọi là lý thuyết
hiện đại, mà đến năm 2011 nó lại được gọi là hậu hiện đại? Tình hình này có nguy
cơ dẫn đến sự rối loạn trong hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam. Đó chính là một
tình trạng cấp thiết cần giải quyết.
Bản thân tôi, từ năm 2001 tôi đã viết bài “Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là
hiện tượng chồng chéo khái niệm” đăng trênTạp chí văn học số 9. Sau đó tôi đã
nhiều lần bổ sung và sửa chữa để đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài số 3-2002
và trong sách: Văn học hậu hiện đại thế giới – những vấn đề lý thuyết, Nxb. Hội
Nhà văn, 2003; cuối cùng in lại có bổ sung và chỉnh lý dưới nhan đề “Cái gọi là
‘chủ nghĩa hậu hiện đại’ – từ khái niệm đến thực tiễn” trong sách: Nguyễn Văn
Dân, Vì một nền lý luận-phê bình văn học chất lượng cao, Nxb. KHXH, 2005.

Trong các bài viết của tôi, tôi đã phân tích và chỉ ra sự lạm dụng khái niệm hậu
hiện đại cả trên thế giới lẫn ở Việt Nam đến mức đã biến nó thành một thuật ngữ
vô nghĩa. Giờ đây, tôi xin nhắc lại những diễn biến chính của cuộc tranh luận để
cho thấy bản chất của khái niệm “[chủ nghĩa] hậu hiện đại” trong mối quan hệ với
vấn đề của chủ nghĩa hiện đại.
2. Các quan niệm về [chủ nghĩa] hậu hiện đại trên thế giới
Trên thế giới có nhiều cách hiểu về [chủ nghĩa] hậu hiện đại. Và nhìn
chung, các ý kiến vẫn chưa phải là đã thống nhất. Từ các ý kiến khác nhau, tôi
phân ra ba nhóm quan niệm chính về hậu hiện đại trong nghệ thuật như sau:
1. Chủ nghĩa hậu hiện đại như là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện đại (quan
điểm của Lyotard, Hassan), nói một cách khác nó là “cơn kịch phát của chủ nghĩa
hiện đại”; hay là sự nối dài của chủ nghĩa hiện đại (quan điểm của Robert
Hughes);
2. Chủ nghĩa hậu hiện đại như là sự quay trở về với truyền thống để chống
lại chủ nghĩa hiện đại (Smith, Portoghesi, Lipovetsky...); đặc biệt là trong kiến
trúc và nghệ thuật tạo hình, trong đó có sự kết hợp chiết trung giữa hiện đại với
quá khứ (Christopher Masters);
3. Chủ nghĩa hậu hiện đại như là một sự vượt khỏi chủ nghĩa hiện đại, một
phong trào lai tạp mới và tương phản với chủ nghĩa hiện đại (Jencks, Koehler...).
Đây là các quan niệm lý thuyết về bản chất của chủ nghĩa hậu hiện đại. Còn
về đặc tính của chủ nghĩa hậu hiện đại thì chúng ta có thể nhận xét thấy rằng đa số
các ý kiến đều nhấn mạnh đến tính phi lý tính hoặc phản lý tính, tính phi xác định,
phi chủ thể, tính phân mảnh và tính đại chúng của nó. Nhưng nhìn chung, hầu hết
các ý kiến đều lấy chủ nghĩa hiện đại làm yếu tố quy chiếu để xác định cái gọi là
chủ nghĩa hậu hiện đại.

Giả sử có sự tồn tại của chủ nghĩa hậu hiện đại như các tác giả quan niệm,
thì, để hiểu thế nào là chủ nghĩa hậu hiện đại, trước hết chúng ta phải xét xem thế
nào là chủ nghĩa hiện đại.
Chủ nghĩa hiện đại là một khái niệm chủ yếu được dùng để chỉ các trào lưu
nghệ thuật thuộc phong trào tiên phong ở nửa đầu thế kỷ XX. Đó là các trào lưu
văn học-nghệ thuật cụ thể như: chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa Đađa, chủ nghĩa
siêu thực, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa trừu tượng... Tất nhiên văn
học nghệ thuật hiện đại không chỉ có các trào lưu trên đây, mà nó còn có những
khuynh hướng tìm tòi độc đáo khác nữa như văn xuôi phi lý của Kafka và của
Camus chẳng hạn.
Còn chủ nghĩa hậu hiện đại hiện đang được nhiều người dùng để chỉ các
trào lưu trong văn học và nghệ thuật ngoài chủ nghĩa hiện thực truyền
thống và ngoài chủ nghĩa hiện thực XHCN ở nửa cuối thế kỷ XX. Nhìn chung
người ta cho rằng văn học nghệ thuật hậu hiện đại mang tính phi lý tính, tính phi
chủ thể, tính phân mảnh, tính phi xác định về không gian và thời gian, tính đại
chúng, tính chiết trung giữa hiện đại và truyền thống. Theo nhiều người thì điển
hình cho chủ nghĩa hậu hiện đại trong kiến trúc và nghệ thuật tạo hình là chủ nghĩa
chiết trung mới và chủ nghĩa biểu hiện mới, là sự kết hợp giữa hiện đại với quá
khứ truyền thống; trong nghệ thuật tạo hình, nhiều người còn coi op art (nghệ
thuật ảo thị) và pop art (nghệ thuật bình dân) là các trào lưu hậu hiện đại; trong
sân khấu là loại nghệ thuật biểu diễnhappening (tạm dịch: “sân khấu ngẫu hứng”);
trong âm nhạc là loại nhạc rock-and-roll; trong văn học là tiểu thuyết mới, là kịch
phi lý, là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của châu Mỹ Latin (trong đó cũng có cả sự
kết hợp hiện đại với quá khứ huyền ảo) với sự tiếp nối của nhà văn Italia Umberto
Eco qua tiểu thuyết Tên gọi của hoa hồng (1980), của nhà văn người Séc Milan
Kundera, của nữ văn sĩ người Anh Angela Carter... John Barth (1984) coi nhà văn
Côlômbia G. G. Marquez, nhà văn hiện thực huyền ảo nổi tiếng, tác giả của cuốn

