
Con mắt của trái tim
Bùi Xuân Phái (1921-1988) là một trong những khuôn mặt đặc biệt,
đáng yêu và hiếm hoi nhất của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam.
Ở Việt Nam, nếu không kể một biệt lệ là Lê Văn Miến (1873-1943) tốt
nghiệp Trường mỹ thuật Paris năm 1985 rồi bỏ nghề, không để lại một
ảnh hưởng gì nối nghiệp, thì nền mỹ thuật hiện đại được gắn liền với sự
ra đời của Trường Mỹ thuật Đông Dương, do người Pháp mở ở Hà Nội,
1925-1945, và Bùi Xuân Phái là thế hệ cuối cùng.
Khi ông bước vào trường, 1941, thì thế hệ đàn anh như Nguyễn Phan
Chánh, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Tô Ngọc Vân... đã nổi tiếng ở Hà Nội
và Paris từ mười năm trước, tại cuộc triển lãm 1931.
Khi ông ra trường, 1946, thì thế giới nghệ thuật đang bước vào thời kỳ
hậu chiến và phân hóa kịch liệt. Picasso, Matisse, Léger đã được xếp
hạng là những bậc thầy cổ điển, trường phái Paris đã xa dần. ở Pháp, B.

Buffet, J. Bazainne, E. Hartung, G. Mathieu, P. Soulages, N. de Stael,
S. Poliakoff; ở Đức, A.O.Wols; ở Hà Lan, K.Appel, với những thông
báo thẩm mỹ nghịch lý của tâm trạng, cùng một lúc tự do bước lên diễn
đàn. Châu Âu mở hết cường độ cho xu hướng Trừu tượng trữ tình, và ở
Mỹ thì xu hướng Biểu hiện trừu tượng.
Tất cả những hình ảnh đó đều có trong con mắt Bùi Xuân Phái, con mắt
của trái tim. Và ông đã tìm được kích thước của chính mình trong
khuôn khổ ngặt nghèo của xã hội, để rồi, như một mạch nước ngầm,
ngày càng lan rộng và thẩm thấu chân thành đến tận những tâm hồn xa
lạ.
Bùi Xuân Phái là đứa con ruột thịt của Hà Nội, và được coi là hoạ sĩ số
một của linh hồn thành phố này.
Phố cổ Hà Nội vô cùng hội hoạ, và nói theo nghĩa đen của nghệ thuật,
thì chính là Bùi Xuân Phái đã phát hiện ra nó.

Đây là mảng tranh ưu quyền nhất của ông mà ông đã đeo đuổi trong
gần một nửa thế kỷ, cũng như bây giờ nó còn đeo đuổi chúng ta và bạn
bè trên thế giới dài lâu.
Bùi Xuân Phái đã vẽ nó trong mọi tâm trạng, bằng mọi chất liệu và
kích thước, từ trên những tấm vải sang trọng đến trên một tờ báo cũ,
một chiếc bì thư, một vỏ thuốc lá, một vỏ diêm. Ông đã vẽ nó từ
nguyên hình thể đến trừu tượng, khi nó chỉ còn là nhịp điệu và ánh sáng
gần, xa của kỷ niệm. Tôi đã gọi nó là "phố tiềm thức" trong một cuộc
triển lãm gần đây tại nhà riêng của ông. ở đó, ta có thể nhận ra được
bước đi song song, như khi P. Mondrian vẽ hàng loạt Cây (1911-1913)
hay Mặt biển (1914-1916), như P.Klee vẽ Thành phố đang bay
(1930), vẽ Làng trong núi đá (1932), Làng và núi đồi (1934)...
Chính Bùi Xuân Phái cũng không biết là mình đã vẽ bao nhiêu phố cổ,
và chúng đã quanh quẩn vào tận những ngõ ngách nào của Hà Nội hay
đã lưu lạc tận chân trời nào của Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ. Nhưng tôi
biết ông rất vui lòng. Mà chính số phận lang thang của tranh ông đã
làm ông nổi tiếng.

Sưu tập Bùi Xuân Phái của Trần Hậu Tuấn là một sưu tập đẹp. Mới và
trẻ, nhưng số lượng và chất tranh đều là xuất sắc, ở Việt Nam cũng như
ở nước ngoài.
Ở đây ta sẽ gặp đường nét của Bùi Xuân Phái, không bao giờ đơn thuần
là chu vi của một hình thể, mà sẵn sàng đậm đặc, run rẩy, khác thường.
Nó là cái tương đồng hội hoạ ngay lúc bấy giờ đã nẩy trong ông. Màu
sắc cũng vậy, chúng chỉ là tượng trưng cho sự có mặt của một thực tại
đã từng được tiên nghiệm. Bởi vậy, phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái
có giá trị ký hiệu, chủ quan. Nó ám chỉ một điều gì khác, ở trong và ở
ngoài nó, nó hoà nhập làm một người hoạ sĩ vào đối tượng.
Ta có thể dùng khái niệm Einfuhlung của W.Woringer để nói về tranh
của Bùi Xuân Phái nó là sự "cùng - đẻ ra" của phố cổ Hà Nội, tác giả,
và người xem. Mà ppmg cũng không phải chỉ là hoạ sĩ của phố cổ, và
chỉ thành công ở đấy.
Ta thử đặt một lần cạnh nhau những phố cổ và những làng quê của Bùi
Xuân Phái trong sưu tập Trần Hậu Tuấn. Ta sẽ thấy rõ hơn con mắt của
trái tim ông, và tin hơn ở chủ thể sáng tạo. Cũng như xưa kia, Van
Gogh, Cézanne, Gauguin, Marquet đều thành đạt lớn lao và khẳng định
chính mình ở những không gian xa vắng, những thị trấn nhỏ, những

làng mạc và hòn đảo bị bỏ quên. Và các ông đã kéo dài đời sống mong
manh của chúng đến hàng thế kỷ.
Những nhà tranh vách đất, những đứa trẻ bế em, những con bò kéo xe
trên ngõ xóm gập gềnh, những gốc cây chứa đầy cổ tích của Bùi Xuân
Phái đều chung một thế giới nhân văn với phố cổ Hà Nội. Một thế giới
tiềm thức và kỷ niệm, nhưng đồng thời chúng lại là hiện tại, những nét
khắc ăn sâu nhất vào tâm thức Việt Nam.
Làng quê Bắc kỳ còn vọng nhiều tiếng trống Chèo trong loạt tranh về
sân khấu, dập dình nhịp điệu và màu sắc tươi vui của Bùi Xuân Phái. ở
đây ông duyên dáng và hóm hỉnh lạ thường. Cũng cần để ý hơn một
chút đến bản chất đậm đà của sân khấu Chèo, những chiếc yếm đào và
quạt xếp, lối bông đùa nhả nhớt nơi đình đám của những gã hề, những
nhịp lệch trong dàn nhạc, để cảm thụ động tác hội hoạ của ông.
Từ khi xuất hiện mảng tranh Chèo, rồi những minh hoạ cho tập sách
Hề Chèo (1977) và sau đó cho tập thơ nôm Hồ Xuân Hương, người ta
mới nhận ra cái khía cạnh dí dỏm đến nghịch ngợm của bàn tay Bùi
Xuân Phái. Ở đây, cũng như ở phố cổ Hà Nội, ông luôn là người phát
hiện và đứng đầu, tưởng như trước và sau ông vẫn là khoảng trống.

