
CÔNG TÁC QUẢN LÝ BUỒNG BỆNH
Mục tiêu
1.Trình bày được tầm quan trọng của công tác quản lý buồng bệnh.
2.Mô tả được cách thay đổi không khí, sự cung cấp nước, ánh sáng trong
buồng bệnh.
3.Phân tích được yêu cầu của một buồng bệnh.
1.Tầm quan trọng của công tác quản lý buồng bệnh
Buồng bệnh là nơi điều trị bệnh đồng thời cũng là nơi tĩnh dưỡng cho
bệnh nhân nên việc xây dựng nhất thiết phải có kế hoạch chu đáo. Tuy phải hết
sức đơn giản nhưng cần phải có đầy đủ điều kiện vệ sinh cần thiết, đảm bảo cho
bệnh nhân được thoải mái, an toàn. Khung cảnh buồng bệnh hết sức quan trọng
đối với tinh thần người bệnh, giúp cho bệnh nhân điều trị có kết quả nhanh chóng
phục hồi sức khỏe.
Quản lý buồng bệnh là một phần công việc hàng ngày của nhân viên y
tế. Các nhân viên y tế phải thấy rõ một buồng bệnh sạch sẽ, ngăn nắp sẽ tạo ra
cảm giác thoải mái an toàn khi làm việc.
Nhưng bệnh viện hiện nay thường chưa thỏa mãn được yêu cầu của
người bệnh nên điều dưỡng cần dựa vào khả năng hiểu biết của mình, căn cứ vào

tình hình của bệnh nhân và kế hoạch điều trị của thầy thuốc, tạo những điều kiện
thuận lợi và có ích nhất trong việc điều trị và chăm sóc người bệnh.
2.Cách thay đổi không khí trong buồng bệnh
2.1.Nhiệt độ
Nhiệt độ lý tưởng là vào khoảng 18-220C vừa phải không lạnh đồng thời
cũng không làm đổ mồ hôi. Trong trường hợp đặc biệt phải thay đổi nhiệt độ cho
phù hợp. Đối với trẻ em và người già nhiệt độ có thể để hơi tăng. Đối với bệnh
nhân sốt nóng nhiệt độ cần giảm xuống một ít. Mùa rét cần ấm hơn. Để tránh nhiệt
độ thay đổi bất ngờ mỗi buồng bệnh nên có một hàn thử biểu đề thường xuyên
kiểm tra nhiệt độ trong buồng bệnh.
Mùa đông tốt nhất là có hơi ấm để cho buồng bệnh ấm áp. Tốt nhất là
dùng máy điều hòa nhiệt độ vì không có tro, khói, khí CO2 và mùi khét.
Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay chưa thể sử dụng máy điều hòa nhiệt độ
rộng rãi, ta có thể dùng lò sưởi điện, lò sưởi than...Nếu dùng lò sưởi nhất thiết phải
làm ống khói để carbon oxyd, khí carbonic...được hút ra ngoài.
Dùng lò sưởi điện thường tốn kém, dùng chậu than sưởi thì dễ xảy ra
nạn cháy, nếu không có ống khói thì dễ ngộ độc vì hơi than nhất là khi buồng bệnh
đóng kín cửa. ở những bệnh viện hiện đại người ta sử dụng máy điều hòa nhiệt độ,
dễ dùng cho các bệnh nhân nặng hoặc những bệnh nhân hậu phẫu.
2.2.Độ ẩm
Có hai loại độ ẩm: Độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm tương đối.

2.2.1.Độ ẩm tuyệt đối:
Là tỷ lệ hơi nước ở mọt nhiệt độ nhất định trong một thể tích không khí
nhất định lượng hơi nước đã được bão hòa.
2.2.2.Độ ẩm tương đối:
Là tỷ lệ hơi nước ở một nhiệt độ nhất định trong một thể tích không khí
nhất định so với lượng hơi nước bão hòa (tính là 100). Nếu lượng hơi nước thực tế
chỉ bằng một nửa lượng bão hòa thì độ ẩm tương đối là 50%. Bảng độ ẩm nói
chung đều chỉ độ ẩm tương đối.
Độ ẩm trong buồng bệnh thích hợp nhất là 60% nhưng đối với một số
bệnh nhân như viêm phế quản cần độ ẩm cao hơn, có thể nâng tới 80%.
Trái lại trong buồng bệnh nhân hen xuyễn thì cần không khí khô ráo
hơn, có thể giảm độ ẩm xuống 20% đến 10%.
Chúng ta có thể điều hòa độ ẩm trong buồng bệnh cho thích hợp như
mùa đông làm ẩm bằng cách nhân tạo. Trong buồng bệnh thường bị khô quá có
thể đặt ấm nước trên lò sưởi để nước bốc hơi.
Mùa hè nóng bức có thể treo rèm vải ướt ở cửa sổ làm cho không khí
trong buồng mát mẻ vì nước dễ bốc hơi. Điều hòa nhiệt độ và độ ẩm được đúng
mức, không khí trong buồng sẽ ấm áp dễ chịu rất có lợi cho sức khỏe.
2.3.Không khí lưu thông và trong sạch
Khi chen chúc trong phòng đông người, ta thường thấy khó chịu vì nhiệt
độ và độ ẩm trong phòng lên cao, tình trạng này ở buồng bệnh lại càng khó chịu
hơn, vì ngoài hơi người trong buồng bệnh còn có mùi của các chất bài tiết (nước

tiểu, phân...) dễ có mùi tanh, hôi nên việc thay đổi không khí trong buồng bệnh có
tầm quan trọng rất lớn. Muốn vậy cần:
2.3.1.Yêu cầu về diện tích, không khí
Mỗi người bệnh phải có 30m3 không khí và 6-7m2 diện tích. Mỗi giường
cách nhau 2.4m, bệnh nhân truyền nhiễm phải cho nằm buồng bệnh để đề phòng
nước bọt hoặc bụi có vi khuẩn truyền bệnh.
2.3.2.Cửa sổ và ống thông hơi
Buồng bệnh phải có nhiều cửa số, cửa chớp để không khí lưu thông dễ
dàng, nhưng không được kê giường bệnh sát cửa sổ để tránh gió lùa.
Buồng bệnh cần có hệ thống thông hơi để không khí mới lùa vào, mở
một cửa thông hơi ở chỗ cao để hơi nóng trong buồng bay ra vì về nguyên tắc
không khí nóng nhẹ hơn không khí lạnh nên không khí nóng sẽ bay lên cao và
thoát ra qua cửa thông hơi, làm không khí lưu chuyển, do đó không khí được lưu
thông, trong sạch.
2.3.3.Quạt điện
Về mùa nóng dùng quạt điện nên dùng quạt trần nhẹ, không để quạt
thẳng vào bệnh nhân.
Nhưng dù áp dụng cách nào, khi thay đổi không khí cũng cần phải chú ý
không nên để không khí lưu chuyển quá nhanh hay để gió thổi vào bệnh nhân vì
như thế dễ bị cảm lạnh.
2.3.4.Giờ giấc thực hiện

Thường thay đổi không khí sau giờ vệ sinh buổi sáng, trước khi ngủ trưa
và ngủ tối hoặc khi có mùi hôi thối trong buồng bệnh.
Về mùa rét cần đóng kín cửa buồng bệnh, trời lạnh mỗi ngày phải mở
cửa thông gió 3-4 lần mỗi lần 15 phút. Khi làm thoáng khí phải đề phòng bệnh
nhân cảm lạnh, người ta bảo vệ cho bệnh nhân khỏi bị cảm lạnh bằng cách đắp
thêm chăn, đặt túi chườm nóng, để bình phong che gió lùa...
3.Ánh sáng trong buồng bệnh
3.1.Ánh sáng thiên nhiên
Ánh sáng mặt trời rất quan trọng đối với sức khỏe con người. Nó có tác
dụng làm không khí ấm áp, diệt khuẩn mạnh. Ngoài ra tia ngoại tím trong ánh
sáng mặt trời còn có tác dụng phòng bệnh còi xương, vì vậy buồng bệnh cần có
đầy đủ ánh sáng.
Muốn vậy, khi xây dựng phải chú ý sao cho diện tích cửa sổ phải bằng
1/4 diện tích mặt đất của buồng bệnh.
Hàng ngày sáng, chiều cần mở cửa sổ và cửa ra vào cho buồng sáng sủa,
một mặt để bệnh nhân được hưởng ánh sáng mặt trời, mặt khác để thuận lợi cho
việc khám bệnh, điều trị và săn sóc bệnh nhân. Những buổi trưa sau bữa ăn cần
khép cửa, buông rèm làm cho buồng tối lại để bệnh nhân nghỉ ngơi hoặc ngủ trưa.
3.2.Ánh sáng nhân tạo
Bệnh nhân phải có đủ ánh sáng nhân tạo để khám, chữa bệnh và làm các
thủ thuật. Ánh sáng đèn tùy theo sự cần thiết mà bố trí sáng hay mờ. Đèn cho bệnh
nhân không nên sáng quá để khỏi chói mắt và nên lắp ở chỗ cao phía sau đầu bệnh
nhân. Ban đêm phải để ánh sáng mờ và lên chiếu ở dưới lên để ánh sáng không soi
qua mép giường.

