intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Đánh giá hiệu quả sử dụng enzyme viscozyme L thay thế hóa chất trong sản xuất carrageenan từ rong sụn Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
23
lượt xem
0
download

Đánh giá hiệu quả sử dụng enzyme viscozyme L thay thế hóa chất trong sản xuất carrageenan từ rong sụn Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phương pháp sử dụng enzyme Viscozyme L xử lý rong trong quá trình sản xuất carrageenan từ rong Kappaphycus alvarrezii (Doty) Doty có nhiều ưu điểm so với phương pháp xử lý rong bằng NaOH. Cụ thể, sử dụng enzyme Viscozyme L xử lý rong cho hiệu suất quy trình và sức đông carrageenan cao hơn, khắc phục những hạn chế của quá trình sản xuất carrageenan theo phương pháp sử dụng NaOH xử lý rong như: carrageenan thu được thường lẫn hóa chất, quá trình tinh chế rất khó khăn, ô nhiễm môi trường, độc hại cho người sản xuất.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá hiệu quả sử dụng enzyme viscozyme L thay thế hóa chất trong sản xuất carrageenan từ rong sụn Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2014<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ENZYME VISCOZYME L<br /> THAY THẾ HÓA CHẤT TRONG SẢN XUẤT CARRAGEENAN<br /> TỪ RONG SỤN KAPPAPHYCUS ALVAREZII (DOTY) DOTY<br /> EVALUATING THE EFFECT OF USING VISCOZYME L<br /> ENZYME REPLACING CHEMICALS IN PRODUCTION OF CARRAGEENAN<br /> FROM SEAWEED KAPPAPHYCUS ALVAREZII (DOTY) DOTY<br /> Bùi Huy Chích1, Đỗ Văn Ninh2, Vũ Ngọc Bội3<br /> Ngày nhận bài: 16/4/2014; Ngày phản biện thông qua: 16/10/2014; Ngày duyệt đăng: 01/12/2014<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Phương pháp sử dụng enzyme Viscozyme L xử lý rong trong quá trình sản xuất carrageenan từ rong Kappaphycus<br /> alvarrezii (Doty) Doty có nhiều ưu điểm so với phương pháp xử lý rong bằng NaOH. Cụ thể, sử dụng enzyme Viscozyme<br /> L xử lý rong cho hiệu suất quy trình và sức đông carrageenan cao hơn, khắc phục những hạn chế của quá trình sản xuất<br /> carrageenan theo phương pháp sử dụng NaOH xử lý rong như: carrageenan thu được thường lẫn hóa chất, quá trình tinh<br /> chế rất khó khăn, ô nhiễm môi trường, độc hại cho người sản xuất.<br /> Từ khóa: Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty, carrageenan, Viscozyme L<br /> <br /> ABSTRACT<br /> Method of using Viscozyme L enzyme for treating seaweed in the production of carrageenan from seaweed<br /> Kappaphycus alvarrezii (Doty) Doty has several advantages over the NaOH treatment method. Specifically, Viscozyme<br /> L enzyme treatment of seaweed gave higher yield and higher carrageenan gelation degree, overcoming the disadvantages<br /> of carrageenan production by NaOH treatment where carrageenan obtained was often mixed with chemicals, difficult to be<br /> refined, causing environmental pollution, and harmful to workers.<br /> Keywords: Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty, carrageenan, Viscozyme L<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Rong sụn là nguyên liệu để sản xuất<br /> Carrageenan, một loại polysaccharide được biết và<br /> sử dụng từ lâu, ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực<br /> như chế biến sữa, thịt, mỹ phẩm, thuốc... Tuy nhiên,<br /> công nghệ chế biến rong sụn và Carrageenan<br /> từ rong sụn ở Việt Nam còn hạn chế nên rong sụn<br /> nguyên liệu ít được tiêu thụ trong nước mà chủ<br /> yếu chủ yếu xuất khẩu qua thương lái dưới dạng<br /> nguyên liệu khô nên rất dễ bị ép giá, bị động trông<br /> chờ vào thị trường nước ngoài. Trong khi, hàng năm<br /> đất nước ta vẫn phải tốn một lượng ngoại tệ lớn để<br /> nhập khẩu các loại Carrageenan làm phụ gia cung<br /> cấp cho các ngành công nghiệp trong nước [1].<br /> <br /> Hiện tại, các nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực<br /> nuôi trồng và thu nhận Carrageenan từ rong sụn theo<br /> quy trình xử lý rong bằng acid hay kiềm. Phương<br /> pháp xử lý này sản xuất Carrageenan còn có một<br /> số hạn chế là Carrageenan thu được thường lẫn với<br /> hóa chất nên quá trình tinh chế gặp nhiều khó khăn,<br /> ô nhiễm môi trường, độc hại với người sản xuất.<br /> Do vậy, đòi hỏi bức xúc của thực tiễn đặt ra là cần<br /> nghiên cứu phát triển để có được công nghệ sản<br /> xuất Carrageenan từ rong sụn hiệu quả, ổn định,<br /> hạn chế việc sử dụng hóa chất làm ảnh hưởng đến<br /> an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường cung cấp<br /> cho các ngành công nghiệp trong nước và hướng<br /> đến xuất khẩu, hạn chế được tình trạng xuất khẩu<br /> <br /> Th.S Bùi Huy Chích: Trường Cao đẳng cộng đồng Bà Rịa Vũng Tàu<br /> TS. Đỗ Văn Ninh: Trường Đại học Nha Trang<br /> 3<br /> TS. Vũ Ngọc Bội: Khoa Công nghệ thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang<br /> 1<br /> 2<br /> <br /> 10 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2014<br /> Phú Nhuận, TP. HCM cung cấp, hoạt độ 100 FBG/g,<br /> điều kiện thích hợp để chế phẩm hoạt động:<br /> pH 3,5 - 5,5 và nhiệt độ 40 - 550C. Bảo quản chế<br /> phẩm ở nhiệt độ 1 - 100C.<br /> <br /> rong nguyên liệu khô với giá rẻ, nhập khẩu<br /> Carrageenan với giá cao như hiện nay. Từ đó, góp<br /> phần giải quyết đầu ra cho nghề nuôi trồng rong<br /> sụn, nâng cao giá trị thương phẩm. Thúc đẩy nghề<br /> trồng rong sụn tại Việt Nam phát triển.<br /> Với phương pháp sử dụng enzyme để xử lý rong,<br /> phản ứng xảy ra trong điều kiện nhẹ nhàng, hiệu quả<br /> cao do tính đặc hiệu của enzyme [6], không độc hại<br /> cho người sản xuất và ảnh hưởng đến môi trường,<br /> đảm bảo an toàn thực phẩm đang là một hướng<br /> nghiên cứu được nhiều nhà khoa học trong và ngoài<br /> nước quan tâm.Trong phạm vi bài báo này, chúng<br /> tôi không trình bày quá trình nghiên cứu để từ đó đề<br /> xuất quy trình sản xuất carrageenan từ rong sụn theo<br /> phương pháp xử lý rong bằng enzyme Viscozyme L<br /> mà sử dụng luôn quy trình đã nghiên cứu để đánh giá<br /> hiệu quả sử dụng enzyme Viscozyme L thay thế hóa<br /> chất trong sản xuất carrageenan từ rong sụn.<br /> <br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> 2.1. Các phương pháp phân tích<br /> - Xác định hàm ẩm: bằng phương pháp sấy đến<br /> khối lượng không đổi theo tiêu chuẩn TCVN 3700 - 90.<br /> - Xác định sức đông theo Craigle (1978) [5].<br /> - Phương pháp nhuộm kép: Dùng để phân biệt<br /> một cách rõ ràng các mô của một cơ quan. Những<br /> mô có màng tế bào hóa gỗ sẽ bắt màu xanh của<br /> phẩm lục iode hoặc xanh methylene. Những mô có<br /> màng tế bào cấu tạo bằng cellullose, sẽ bắt màu<br /> hồng của phẩm đỏ carmin [4].<br /> - Xác định hiệu suất thu hồi Carrageenan theo<br /> công thức [3]:<br /> A(100-W2)<br /> 100%<br /> X=<br /> P(100-W1)<br /> Trong đó, A: là số gram Carrageenan thu được (g);<br /> P: Số gram rong đem nấu chiết (g); W1: Độ ẩm của<br /> rong nguyên liệu (g); W2: Độ ẩm của Carrageenan (g).<br /> 2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm<br /> Tiến hành thí nghiệm sản xuất carrageenan theo<br /> hai quy trình: Xử lý rong bằng enzyme Viscozyme L<br /> và sản xuất carrageenan theo phương pháp xử lý<br /> rong bằng NaOH trên cùng mẫu rong nghiên cứu. Với<br /> mỗi quy trình sản xuất, đánh giá hiệu suất thu hồi sản<br /> phẩm, sức đông, pH và màu sắc sản phẩm thu được.<br /> <br /> II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu<br /> - Nguyên liệu: Rong sụn Kappaphycus alvarrezii<br /> (Doty) Doty được nuôi trồng tại đầm Thủy Triều, xã<br /> Cam Đức, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Thời<br /> gian thu mẫu, ngày 4/4/2013, rong có độ tuổi là 45<br /> ngày. Sau đó, rong được chuyển về phòng thí nghiệm<br /> Trường Đại học Nha Trang phơi khô tới độ ẩm ≤ 25%,<br /> và được sử dụng để tiến hành tách chiết Carrageenan.<br /> - Enzyme Viscozyme L: Của hãng Novozymes<br /> do Công ty Nam Giang - 133/7 Hồ Văn Huê, Phường 9,<br /> <br /> Rong sụn khô<br /> Ngâm (1 - 2h)<br /> Rửa<br /> Xử lý enzyme<br /> - Tỷ lệ nước nấu/rong 50/1<br /> - t0C= 950C;<br /> - Thời gian nấu 70 phút<br /> <br /> Rửa<br /> <br /> - Tỷ lệ rong/nước: 20/1<br /> - Nồng độ enzyme: 1%<br /> - Nhiệt độ xử lý 450C<br /> - pH = 4,6<br /> <br /> Nấu chiết<br /> <br /> Bã<br /> <br /> Lọc nóng<br /> <br /> KCl 0,3%<br /> <br /> Bổ sung KCl<br /> Để đông, cắt sợi<br /> Cấp đông<br /> Rã đông<br /> Phơi hoặc sấy<br /> Carrageenan<br /> Hình 1. Sản xuất carrageenan theo phương pháp xử lý rong bằng enzyme Viscozyme L (Bùi Huy Chích, Đỗ Văn Ninh và cs, 2013)<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 11<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2014<br /> nhằm loại bỏ tạp chất tạo ra trong quá trình thủy phân<br /> enzyme. Tiếp theo, rong được đem đi nấu chiết ở<br /> 950C, tỷ lệ nước/rong khô: 50/1 và thời gian 70 phút.<br /> Hỗn hợp được lọc qua một lớp vải, rồi bổ sung 0,3%<br /> KCl vào dịch lọc, để đông tự nhiên, cắt miếng, cấp<br /> đông, rã đông và làm khô thu sản phẩm carrageenan.<br /> <br /> Giải thích hình 1: Rong sụn khô được rửa sạch,<br /> ngâm trương nở từ 1 - 2 giờ, tiếp đó đem xử lý bằng<br /> Viscozyme L với các thông số: Lượng nước gấp<br /> 20 lần trọng lượng rong khô; Tỷ lệ enzyme/rong:<br /> 1%; Nhiệt độ: 450C; pH môi trường: 4,6; Thời gian:<br /> 60 phút. Sau khi xử lý enzyme rong được đem đi rửa<br /> <br /> Rong sụn khô<br /> Ngâm, rửa<br /> Xử lý kiềm<br /> <br /> - Nhiệt độ 300C<br /> - Thời gian 40 phút<br /> - Nồng độ NaOH 6%<br /> <br /> Rửa trung tính<br /> - Nhiệt độ 102 C<br /> - Thời gian 65 phút<br /> - Tỷ lệ nước/rong 52/1<br /> 0<br /> <br /> Nấu chiết<br /> Lọc<br /> <br /> Bã<br /> <br /> Dịch lọc<br /> <br /> KCl 0,06%<br /> <br /> Làm đông, tan giá<br /> Phơi/ sấy<br /> Xay nghiền<br /> Bao gói<br /> Hình 2. Sản xuất carrageenan theo phương pháp xử lý rong bằng NaOH (Đào Trọng Hiếu, 2007)<br /> <br /> Giải thích hình 2: Rong sụn khô được rửa sạch,<br /> ngâm trương nở từ 1 - 2 giờ, tiếp đó đem xử lý với<br /> NaOH với các thông số: Lượng nước gấp 20 lần<br /> trọng lượng rong khô; Nồng độ NaOH: 6%; Nhiệt<br /> độ: 300C; Thời gian: 40 phút. Sau khi xử lý NaOH<br /> rong được đem đi rửa trung tính bằng HCl nhằm loại<br /> bỏ tạp chất và trung hòa kiềm dư. Tiếp theo, rong<br /> được đem đi nấu chiết ở 1020C, tỷ lệ nước/rong khô:<br /> 52/1 và thời gian 65 phút. Hỗn hợp được lọc qua<br /> một lớp vải, rồi bổ sung 0,06% KCl vào dịch lọc, để<br /> đông tự nhiên, cắt miếng, cấp đông, rã đông và làm<br /> khô thu sản phẩm carrageenan [2].<br /> Song song, tiến hành chụp hình ảnh và làm tiêu<br /> bản đối với rong trước, sau khi xử lý NaOH, enzyme<br /> Viscozyme L để quan sát sự thay đổi của thành tế<br /> bào rong.<br /> Để có được hình ảnh của rong sụn trước và sau<br /> <br /> 12 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> khi xử lý với kiềm, enzyme Viscozyme L sử dụng<br /> phần mềm máy ảnh của điện thoại iphone 4s.<br /> Để quan sát sự thay đổi của thành tế bào rong<br /> trước, sau khi xử lý NaOH, Viscozyme L dùng<br /> phương pháp nhuộm kép và quan sát dưới kính<br /> hiển vi điện tử với độ phóng đại 100X.<br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> 1. Kết quả quan sát hình ảnh thành tế bào rong<br /> trước và sau khi xử lý<br /> Hình ảnh của rong sụn trước và sau khi xử lý<br /> với kiềm, enzyme Viscozyme L thể hiện ở hình 3,<br /> hình 4 và hình 5.<br /> Vi ảnh thành tế bào rong trước và sau khi xử<br /> lý NaOH và Viscozyme L quan sát dưới kính hiển<br /> vi bằng phương pháp nhuộm kép được thể hiện ở<br /> hình 6, hình 7 và hình 8.<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2014<br /> Thành tế bào<br /> <br /> Hình 3. Ảnh chụp rong sụn khi chưa xử lý<br /> <br /> Hình 6. Vi ảnh rong sụn khi chưa xử lý<br /> <br /> Hình 4. Ảnh chụp rong sụn sau khi xử lý<br /> NaOH 6%, T0 thường, τ= 40 phút<br /> <br /> Hình 7. Vi ảnh rong sụn sau khi xử lý bằng<br /> NaOH 6%, T0 thường, τ= 40 phút<br /> <br /> Hình 5. Ảnh chụp rong sụn khi xử lý bằng<br /> enzyme 1%, T0= 45 0C, pH= 4,6, τ= 60 phút<br /> <br /> Hình 8. Vi ảnh rong sụn khi xử lý bằng<br /> enzyme 1%, T0 = 450C, pH = 4,6, τ = 60 phút<br /> <br /> 1.1. Màu sắc thân rong<br /> Màu sắc của thân rong xử lý bằng phương pháp<br /> NaOH có màu trắng sáng hơn (hình 3, 4, 5). Do khi<br /> dùng kiềm (hình 4) có tác dụng bào mòn thân rong,<br /> phá vỡ nhiều lớp tế bào sắc tố, khử sắc tố trong<br /> rong nên thân rong thu được có màu trắng sáng.<br /> Trong khi đó, dùng enzyme (hình 5) thì khi bào mòn<br /> thân rong thì một phần nó đã phá vỡ lớp tế bào sắc<br /> tố nhưng vẫn chưa triệt nên sắc tố vẫn còn lưu lại<br /> một ít trong thân rong nên màu sắc tối hơn.<br /> 1.2. Kích thước thân rong<br /> Sau khi xử lý, kích thước thân rong có sự thay<br /> đổi rõ rệt, có thể nhận biết bằng mắt thường (hình<br /> 3, 4, 5). Cụ thể, kích thước thân rong sau khi xử lý<br /> <br /> với NaOH 6% giảm nhiều nhất sau đó đến thân rong<br /> xử lý bằng enzyme. Do khi xử lý rong bằng NaOH<br /> và enzyme có tác dụng bào mòn thân rong. Tuy<br /> nhiên, ngoài tác dụng bào mòn thân rong NaOH còn<br /> tấn công vào các lớp tế bào bên trong. Đây cũng là<br /> cơ sở để giải thích nguyên nhân hiệu suất thu hồi<br /> carrageenan của phương pháp xử lý bằng NaOH<br /> thấp hơn phương pháp xử lý bằng enzyme.<br /> 1.3. Kích thước thành tế bào của rong sụn<br /> Thành tế bào của rong sau khi xử lý đều giảm<br /> rõ rệt, tùy thuộc vào phương pháp xử lý rong khác<br /> nhau mà mức độ giảm khác nhau. Đối với phương<br /> pháp xử lý rong bằng NaOH (hình 4, 7) thì thành<br /> tế bào mất hẳn và có thể NaOH tấn công cắt<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 13<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2014<br /> <br /> mạch Carrageenan. Đối với phương pháp xử lý rong bằng enzyme Viscozyme (hình 5, 8) thành tế bào giảm<br /> so với khi chưa xử lý, có thể mất hẳn.<br /> 2. Kết quả đánh giá chất lượng Carrageenan theo phương pháp xử lý bằng enzyme với phương pháp<br /> xử lý bằng hóa chất<br /> Kết quả đánh giá chất lượng Carrageenan theo phương pháp xử lý bằng enzyme với phương pháp xử lý<br /> bằng hóa chất được thể hiện ở bảng 1.<br /> Kết quả ở bảng 1 cho thấy:<br /> Bảng 1. Kết quả đánh giá chất lượng Carrageenan theo phương pháp xử lý bằng enzyme<br /> với phương pháp xử lý bằng hóa chất<br /> Hiệu suất Sức đông<br /> pH<br /> (%)<br /> (g/cm2) (Carrageenan 1%)<br /> <br /> STT<br /> <br /> Mẫu<br /> <br /> 1<br /> <br /> Xử lý bằng NaOH<br /> <br /> 16,76<br /> <br /> 580±5<br /> <br /> 8,6<br /> <br /> 2<br /> <br /> Xử lý bằng enzyme Viscozyme<br /> <br /> 29,31<br /> <br /> 617±5<br /> <br /> 6,2<br /> <br /> 2.1. Về mặt hiệu suất<br /> Sử dụng chế phẩm enzyme Viscozyme L thu<br /> được Carrageenan có hiệu suất thu nhận cao hơn<br /> khi dùng hóa chất. Do enzyme Viscozyme L có tác<br /> dụng bào mòn thành tế bào của thân rong, giúp<br /> cho quá trình chiết được triệt để và dễ dàng hơn.<br /> Còn khi sử dụng NaOH để xử lý rong, do NaOH<br /> là một kiềm mạnh sẽ làm ảnh hưởng đến mạch<br /> polysaccharide, cụ thể làm cắt mạch liên kết dẫn<br /> đến rong bị gãy vụn, gây thất thoát carrageenan,<br /> làm giảm hiệu suất.<br /> 2.2. Về sức đông<br /> Carrageenan thu được từ phương pháp sử<br /> dụng enzyme có sức đông cao hơn hẳn việc<br /> sử dụng hóa chất. Do enzyme có tác động nhẹ<br /> nhàng vào thành tế bào rong (hình 5, 8) nên ít ảnh<br /> hưởng đến cấu trúc của Carrageenan, các liên kết<br /> glucoside không bị cắt đứt nên sức đông cao. Tuy<br /> nhiên, khi sử dụng kiềm thì ngoài tác động bào<br /> mòn thành tế bào rong, nó còn tác động vào chuỗi<br /> polysaccharide (hình 4, 7) làm cắt đứt các liên kết<br /> glycoside nên sức đông của Carrageenan thấp hơn<br /> xử lý bằng enzyme.<br /> <br /> 14 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Màu sắc<br /> <br /> 2.3. Về pH của dung dịch Carrageenan 1%<br /> Carrageenan thu được theo phương pháp xử<br /> lý bằng enzyme Viscozyme L có pH nằm trong vùng<br /> trung tính (pH 6,2), trong khi Carrageenan thu được<br /> theo phương pháp xử lý bằng NaOH có pH nằm<br /> trong vùng kiềm tính (pH 8,6). Quá trình ngâm xử lý<br /> rong với NaOH 6% trong thời gian 40 phút, NaOH<br /> không chỉ phá vỡ thành tế bào bên ngoài của thân<br /> rong mà còn có thời gian để thẩm thấu sâu vào các<br /> lớp tế bào bên trong thân rong. Do đó, sau khi xử<br /> lý xong với kiềm, mặc dù quy trình đã có công đoạn<br /> rửa trung tính rong. Tuy nhiên, công đoạn này chỉ<br /> loại bỏ được lớp kiềm bám ở bề mặt thân rong và<br /> không có tác dụng với các lớp bên trong. Dẫn đến<br /> sản phẩm thu được vẫn còn lẫn hóa chất kiềm.<br /> Ngoài ra, chính vì công đoạn rửa trung tính không<br /> có tác dụng với các lớp bên trong dẫn đến còn tồn<br /> dư NaOH trong các lớp tế bào thân rong, nên khi<br /> nấu chiết kết hợp với nhiệt độ cao làm cắt mạch<br /> Carrageenan dẫn đến sức đông của Carrageenan<br /> giảm. Ngoài ra còn gây khó khăn cho công đoạn<br /> tinh chế và ứng dụng trong thực phẩm do nhiễm dư<br /> lượng NaOH.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản