
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
--------------
NGUYỄN THUỲ LINH
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT
NAM SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHÂU Á
Chuyên ngành : Kinh tế Chính trị
Mã số: 603101
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2006

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
--------------
NGUYỄN THUỲ LINH
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT
NAM SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHÂU Á
Chuyên ngành : Kinh tế Chính trị
Mã số: 603101
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
P.G.S, T.S PHAN HUY ĐƯỜNG
HÀ NỘI - 2006

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI
1.1
Đặc điểm và vai trò của FDI
1.1.1
Đặc điểm của FDI và một số lý thuyết cơ bản về FDI
1.1.2
Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến FDI
1.2
Kinh nghiệm thu hút FDI của một số nƣớc trong khu vực
1.2.1
Khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á và những ảnh hưởng đến dòng
FDI đối với một số nước ASEAN
1.2.2.
Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Kết luận chƣơng 1
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHÂU Á 1997 ĐẾN NAY
2.1
Tổng quan kinh tế Việt Nam giai đoạn 1987-1997 và tình
hình thu hút FDI trong giai đoạn này
2.1.1
Sơ lược kinh tế Việt Nam trước thời kỳ đổi mới
2.1.2
2.1.2.1
Kinh tế Việt Nam và chính sách thu hút FDI của Việt Nam trong
giai đoạn 1987-1996
Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1987-1996
2.1.2.2
2.1.2.3
Chủ trương mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam kể
từ khi đổi mới
Chính sách thu hút FDI của Việt nam giai đoạn 1987-1996
2.1.3
Tình hình thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 1987-1996
2.2
Thực trạng thu hút FDI ở Việt Nam từ 1997 đến nay
2.2.1
Những thay đổi trong chính sách thu hút FDI và động thái FDI ở
Việt Nam kể từ năm 1997
2.2.2
Cơ cấu FDI của Việt Nam từ năm 1997 đến nay phân theo

ngành, vùng, lĩnh vực đầu tư
2.2.3
Cơ cấu FDI của Việt Nam từ năm 1997 đến nay phân theo nước
đầu tư
2.3
Đánh giá chung về hoạt động thu hút FDI ở Việt Nam từ
1997 đến nay
2.3.1
Thành công
2.3.2
Hạn chế
2.3.3
Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết
Kết luận chƣơng 2
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG
CƢỜNG THU HÚT FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1
Bối cảnh và quan điểm, định hƣớng về thu hút FDI tại Việt
Nam đến năm 2010
3.1.1
Bối cảnh mới trong thu hút FDI
3.1.2
Quan điểm, mục tiêu, chính sách thu hút FDI trong thời gian tới
3.2
Các giải pháp tăng cƣờng thu hút FDI ở Việt Nam trong
thời gian tới
3.2.1
Giải pháp về cải thiện môi trường đầu tư
3.2.2
Giải pháp về cơ cấu đầu tư
3.2.3
Giải pháp về tạo luồng vốn đầu tư
Kết luận chương 3
KẾT LUẬN CHUNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi Việt nam ban hành luật đầu tư nước ngoài năm 1987, vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) đã thực sự trở thành một trong những nguồn vốn quan
trọng phục vụ cho đường lối mở cửa kinh tế và chiến lược công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Nhờ những chính sách ưu đãi và hấp dẫn của Chính phủ đối với các nhà
đầu tư nước ngoài mà dòng vốn vào Việt Nam liên tục tăng cả về vốn đăng ký và
số dự án, đạt mức kỷ lục là 8,6 tỷ đô la Mỹ năm 1996. Nếu tính cả số vốn tăng
thêm thì năm 1996, Việt Nam thu hút được 10,164 tỷ USD.
Tuy nhiên, kể từ năm 1997, dòng vốn FDI vào Việt nam liên tục giảm. Nếu
lấy năm 1996 làm mốc đánh dấu nhịp độ tăng trưởng FDI vào Việt Nam, thì năm
1997, nhịp độ này giảm 45%, đạt 5,59 tỷ USD vốn đăng ký; năm 1998 nhịp độ
này tiếp tục giảm và đạt 5,09 tỷ USD. Những năm 1999-2000, FDI vào Việt Nam
giảm mạnh hơn, chỉ đạt 2,56 tỷ USD và 2,83 tỷ USD tương ứng.
Sự suy giảm dòng vốn FDI vào Việt nam trong những năm gần đây cho thấy
môi trường đầu tư của Việt Nam đang xuống cấp nghiêm trọng, và kém sức hút
đối với các nhà đầu tư. Sau khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997, hàng loạt
nước Châu Á đã tiến hành các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư mang tính
hấp dẫn và ưu đãi hơn để ngăn chặn sự thoái lui dòng FDI ra khỏi đất nước và thu
hút sự trở lại của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó ở Việt Nam, mặc dù
Luật đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi bổ sung 2 lần năm 1990 và 1992, sau đó
được thay bằng Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1996 và được sửa đổi
bổ sung ngày 09 tháng 6 năm 2000, được thay thế bằng Luật đầu tư năm 2005,
nhưng các nhà đầu tư vẫn gặp rất nhiều khó khăn do những rào cản luật pháp, các
thủ tục hành chính, chi phí cao, rủi ro cao. Chính những bất cập trong các chính
sách đã khiến dòng vốn FDI vào Việt Nam liên tục giảm, đòi hỏi chính phủ phải
có những biện pháp điều chỉnh thích hợp hơn để thu hút mạnh dòng FDI của thế
giới vào nước ta.
Thực tiễn ở Việt Nam những năm gần đây cũng cho thấy FDI đang có xu
hướng phục hồi trở lại và có xu hướng tăng trưởng mạnh. Cụ thể năm 2005, FDI
vào Việt nam là 6,8 tỷ USD thì đến tháng 11 năm 2006 đã đạt gần 9 tỷ USD. FDI

