
Đề án số 02/ĐA-UBND 2013

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 02/ĐA-UBND Ninh Bình, ngày 14 tháng 06 năm 2013
ĐỀ ÁN
VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG
NGHIỆP TỈNH NINH BÌNH ĐẾN NĂM 2015, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
Chương 1.
SỰ CẦN THIẾT, NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY
HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH NINH BÌNH
1. Sự cần thiết
Ninh Bình nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng với diện tích tự nhiên gần 1391
km2, dân số 907.755 người, nằm trong khu vực ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội gần 100 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng

130 km; có nhiều tiềm năng và thế mạnh là điều kiện thuận lợi để phát triển các
khu công nghiệp, cụ thể:
- Có hệ thống giao thông rất thuận tiện cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
công nghiệp nói riêng như:
+ Giao thông đường thủy với tổng chiều dài trên 400 km với các sông lớn như:
Sông Hoàng Long, sông Đáy; có 02 cảng lớn trong đó cảng Ninh Phúc đảm bảo
cho tầu biển 3.000 tấn ra vào được.
+ Giao thông đường bộ có QL1A, QL10, đường cao tốc Hà Nội - Ninh Bình đã
hoàn thành và đi vào sử dụng từ năm 2012; tuyến đường ven biển; hệ thống đường
giao thông tỉnh lộ với chiều dài 118 km, đường liên huyện với chiều dài 121 km và
trên 2.500 km đường liên xã, nội thị đã được cải tạo và nâng cấp.
- Có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua.
- Điện cũng là một thế mạnh của Ninh Bình. Với hệ thống các trạm biến áp công
suất lớn 110KV, 220KV, 500KV, Ngành Điện đảm bảo cung cấp đủ điện đến chân
hàng rào các Khu công nghiệp. Hệ thống thông tin viễn thông đã phủ đến tận các
vùng sâu vùng xa của tỉnh, các thiết bị thông tin như máy Fax, mạng Internet đã
được sử dụng phổ biến.

- Ngoài những thuận lợi về vị trí địa lý và hạ tầng, Ninh Bình còn có nhiều tiềm
năng về đất đai, tài nguyên, nguồn lao động, đó là những tiền đề cơ bản để phát
triển công nghiệp.
Do đặc điểm điều kiện diện tích tự nhiên của tỉnh không lớn; tỉnh có nhiều di tích,
danh lam thắng cảnh, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển ngành du lịch,
dịch vụ. Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các KCN,
với yêu cầu hạn chế ảnh hưởng, mâu thuẫn với phát triển du lịch, không nên quy
hoạch nhiều khu, phân bố rải rác mà cần quy hoạch ít khu, phân bố hợp lý và ưu
tiên hàng đầu phải lựa chọn công nghiệp sạch, công nghệ cao.
Tốc độ tăng trưởng của tỉnh Ninh Bình những năm gần đây khá cao (năm 2010 là
16,14%, năm 2011 là 16,13%, năm 2012 là 11,05%); tỷ trọng công nghiệp trong
GDP đạt 49% (năm 2011); giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 (theo giá cố định
1994) đạt 12.991 tỷ đồng, tăng 66,6% so với năm 2010. Các KCN hiện tại đã và
đang xây dựng cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển công nghiệp đảm bảo cho
tăng trưởng kinh tế xã hội những năm qua và một số năm tới nhưng chưa đảm bảo
tính bền vững, lâu dài. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã đề ra mục
tiêu ưu tiên xây dựng một số khu công nghiệp có lợi thế, đảm bảo cho sự phát triển
bền vững, ổn định trong tương lai của tỉnh.

Quy hoạch tổng thể các khu công nghiệp tỉnh Ninh Bình đến năm 2015, định
hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số
1818/TTg-KTN ngày 29/10/2008, toàn tỉnh có 07 KCN với tổng diện tích 1.961
ha, chiếm 1,41% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Đến nay, KCN Khánh Phú và
KCN Gián Khẩu đã xây dựng và cơ bản lấp đầy; KCN Phúc Sơn mới được chuyển
đổi chủ đầu tư từ Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC về cho Công
ty Phát triển hạ tầng KCN tỉnh Ninh Bình, mới triển khai xây dựng hạ tầng năm
2013; KCN Khánh Cư đã quy hoạch chi tiết nhưng chưa có nhà đầu tư; còn hai
KCN Xích Thổ và Sơn Hà chưa quy hoạch chi tiết và thực tế không thể thực hiện
được. Như vậy, trong những năm tới điều kiện để tiếp tục thu hút đầu tư của các
KCN không lớn, nếu không xem xét điều chỉnh quy hoạch chung sẽ không đáp ứng
được nhu cầu phát triển.
Vì những lý do trên, việc điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu công nghiệp của
tỉnh Ninh Bình là cần thiết để phù hợp với thực tiễn, đảm bảo hiệu quả trong quản
lý và hoạt động, đúng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 07/CT-
TTg ngày 02/3/2012; đồng thời, phù hợp với các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã đề ra, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh.
2. Các căn cứ pháp lý, cơ sở điều chỉnh, bổ sung quy hoạch:

