intTypePromotion=3

Đề bài: Từ những chỉ dẫn của các tác gia kinh điển và quan điểm của các học giả trong, ngoài nước, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về phương thức sản xuất Châu Á

Chia sẻ: Phú Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
54
lượt xem
10
download

Đề bài: Từ những chỉ dẫn của các tác gia kinh điển và quan điểm của các học giả trong, ngoài nước, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về phương thức sản xuất Châu Á

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề bài "Từ những chỉ dẫn của các tác gia kinh điển và quan điểm của các học giả trong, ngoài nước, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về phương thức sản xuất Châu Á" giới thiệu đến các bạn những nội dung về quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài, quan điểm của các nhà nghiên cứu trong nước về phương thức sản xuất Châu Á,... Hy vọng đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề bài: Từ những chỉ dẫn của các tác gia kinh điển và quan điểm của các học giả trong, ngoài nước, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về phương thức sản xuất Châu Á

  1. ĐỀ BÀI: Từ  những chỉ  dẫn của các tác gia kinh điển và quan điểm của   các học giả  trong, ngoài nước, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về  phương thức sản xuất châu Á. BÀI LÀM Khái niệm phương thức sản xuất châu Á được Mác đưa ra trong tác  phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế  chính trị” năm 1859: “Về  đại thể  có thể coi các phương thức sản xuất châu Á cổ đại, phong kiến và tư sản   hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội”. Quan niệm của Mác về  phương thức sản xuất châu Á đã được phát  triển dần dần, thông qua các công trình nghiên cứu trước đó của Mác.Năm  1845­1846, Mác đã phát hiện ra các hình thức sở hữu khác nhau trong lịch   sử: Sở  hữu bộ  lạc, sở  hữu công xã và sở  hữu Nhà nước, sở  hữu phong   kiến.Tất cả các hình thức sở hữu này theo Mác đều gắn với sự  xuất hiện  của Nhà nước. Tiếp đến, trong tác phẩm “Sự khốn cùng của Triết học” Mác đưa ra   quan điểm về  sự  kế  tiếp lẫn nhau của các hình thái xã hội, từ  cộng sản   nguyên thuỷ  đến chiếm hữu nô lệ, qua phong kiến, tư  sản đến cộng sản   chủ  nghĩa.Tuy nhiên khi nghiên cứu các trường hợp  ở phương Đông, nhất  là ở Ấn Độ thì Mác thấy không thể lấy các hình thái kinh tế xã hội trên để  giải thích. Khi nghiên cứu về Ấn Độ, Mác phát hiện những đặc thù cơ bản của  xã hội phương Đông. Đó là Nhà nước chuyên chính phương Đông và chế  độ công xã nông thôn. Trong tổ chức bộ máy Nhà nước phương Đông có ba bộ: ­ Bộ tài chính (bộ cướp bóc nhân dân chính nước mình). 1
  2. ­ Bộ chiến tranh (bộ cướp bóc nhân dân các nước khác). ­ Bộ công trình công cộng. Chế  độ  công xã nông thôn, Mác khẳng định, đó là những trung tâm  nhỏ bé tồn tại vào mối liên hệ giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ  công nghiệp.(Trong công xã nguyên thủy, nông nghiệp và thủ công nghiệp  không tách rời nhau). Năm 1853 khi gửi thư cho Ăngghen, Mác viết: Nhà vua là kẻ sở hữu  duy nhất tất cả  mọi đất đai trong quốc gia.Tình hình không có chế  độ  tư  hữu về ruộng đất là chìa khoá thực sự cho thiên giới phương Đông. Đến năm 1859, Mác chính thức đưa ra khái niệm phương thức sản   xuất châu Á, coi nó như  một trong số  những phương thức sản xuất có  trong lịch sử loài người. Đến trước năm 1868, Mác cho rằng phương thức sản xuất châu Á là  để chỉ một phương thức sản xuất phù hợp với xã hội phương Đông.Nhưng  sau này khi tham khảo công trình nghiên cứu của Morơ  (nhà nghiên cứu   sinh học người Đức), Mác cho rằng  phương thức sản xuất châu Á không  những phù hợp và xuất hiện phổ biến ở phương Đông mà cả  phương Tây   trong giai đoạn quá độ từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội có giai cấp, Nhà  nước.Vì thế  Ăngghen tuy đồng ý với Mác những nội dung và đặc trưng   của phương thức sản xuất châu Á nhưng lại không sử  dụng khái niệm  phương thức sản xuất châu Á. Những đặc trưng của phức thức sản xuất châu Á theo quan điểm   của các tác gia kinh điển (Mác­Ăngghen): Ở  những tác phẩm khác nhau thì những phương sán xuất châu Á  được Mác và Ăngghen chỉ  ra (không có tác phẩm riêng biệt nào bàn về  phương thức sản xuất châu Á).Tuy nhiên người ta thống nhất  ở mấy đặc   trưng sau: 2
  3. Một, chế  độ  công xã nông thôn với tất cả sự  trì trệ  bảo thủ  của nó  (tiêu biểu nhất là công xã nông thôn ở Ấn Độ) Hai, Nhà nước chuyên chế phương Đông. Ba, chế  độ  sở hữu tập thể về ruộng đất mà người đứng đầu là nhà  vua và sự chiếm dụng của các công xã. Bốn, sự bóc lột theo kiểu cống nạp. Năm, sự không tách rời giữa thủ công nghiệp với nông nghiệp, thành   thị chậm ra đời và khó phát triển. Sáu, sự  tồn tại một cách kiên trì nhất và lâu dài nhất của các hình  thái châu Á. Bảy, sản xuất hàng hoá chậm phát triển. Tám, trong phương thức sản xuất châu Á, tô và thuế kết hợp là một. Chín, hiệp tác (hợp tác) giản đơn của những người lao động dưới sự  chỉ  huy của Nhà nước chuyên chính phương Đông tạo nên những công   trình xa hoa hay có ích. Mười, tính độc chuyên của phường hội và sự hình thành những đẳng  cấp xã hội. Mười một, sự  duy trì các tôn giáo cổ  đại, sự  thần thánh hoá thiên  nhiên. Mười hai, tính trì trệ  và sự  tồn tại dai dẳng của phương thức sản   xuất châu Á. Từ đó ta có thể rút ra mấy đặc trưng: ­Về  chính trị: Sự  tồn tại của Nhà nước chuyên chế  đối với quyền   lực tối cao nằm trong một cá nhân người. ­Về  xã hội: Sự  tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và sự  khắc  nghiệt của chế độ đẳng cấp. 3
  4. ­Về  kinh tế: Sự  phổ  biến của sở  hữu tập thể  về  ruộng  đất mà  người đứng đầu là nhà vua và không có chế  độ  tư  hữu về  ruộng đất.Phát  triển công nghiệp và nông nghiệp không tách rời nhau.Thành thị  chậm ra  đời và hình thức bóc lột theo kiểu cống nạp. ­Về văn hoá: Ảnh hưởng nặng nề bởi tôn giáo. Mặc dù phương thức sản xuất châu Á đã Mác­ Ăngghen nói tới cách   đây hàng thế kỉ, song đến nay vẫn còn rất nhiều ý kiến, quan điểm của các  nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này. Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Từ những năm 30 của thế kỉ 20 khi các nước Á, Phi, Mĩ là tinh dành  được độc lập đi vào xây dựng đất nước thì các học giả, nhất là các nhà  khoa học Mác xít, đặc biệt quan tâm đến phương thức sản xuất châu Á. + Quan điểm của các học giả  Xô viết: Việc nghiên cứu thảo luận  về phương  thức sản xuất châu Á đã được giới học giả Xô viết quan tâm  từ  lâu.Trong những năm 1925­1931 đã diễn ra đợt thảo luận về  phương   thức sản xuất châu Á.Kết quả là chủ trương không tán thành phương thức  sản xuất châu Á chiếm số đông. Vào những năm 60­70 diễn ra một đợt hội thảo lần hai về  phương  thức sản xuất châu Á  ở  Liên xô nhưng kết quả  không thống nhất và chia  thành bốn quan điểm khác nhau: Quan điểm 1: Xem phương thức sản xuất châu Á là một hình thái   kinh tế xã hội hoàn toàn khác với các hình thái đã được nhận thức.Hình thái  này có những đặc trưng cơ bản là toàn bộ đát đai thuộc quyền sở hữu của   Nhà nước.Nhà nước này tồn tại trên nền tảng bền vững là các công xã  nông thôn.Những tổ chức sản xuất ra của cải vất chất bị Nhà nước bóc lột   4
  5. dưới dạng cống nạp.Những nông dân thành viên công xã hợp thành giai   cấp bị trị. Quan điểm 2: Thừa nhận có phương thức sản xuất châu Á nhưng đó  không phải một hình thái kinh tế  riêng biệt.Phương thức sản xuất châu Á  là để nói tới những cộng đồng thôn xã có thể có mặt ở nhiều hình thái kinh   tế  xã hội khác nhau.Trong số  này có người chủ  trương coi phương thức   sản xuất châu Á là một giai đoạn quá độ không rõ rệt, không ổn định giữa   công xã nguyên thuỷ và xã hội có giai cấp, Nhà nước. Quan điểm 3: Coi phương thức sản châu Á chỉ là đặc điểm của châu  Á hay của chế độ chiếm hữu nô lệ hay của chế độ phong kiến. Quan điểm 4: Phủ  nhận sự  tồn tại của phương thức sản xuât châu  Á. Vào giữa thập kỉ  80,  ở  Liên Xô tiến hành đợt thảo luận thứ  3 về  phương thức sản xuất châu Á, do Đảng cộng sản Liên Xô chủ  trì, khẳng  định sự tồn tại của các quan điểm khác nhau cần tiếp tục nghiên cứu. +  Ở  Trung Quốc, vấn đề  phương thức sản xuất châu Á cũng được  quan tâm. Năm 1929, Quách Mạt Nhược đưa ra quan điểm phương thức  sản xuất châu Á là một giai đoạn phát triển của xã hội có trước chế độ nô  lệ. Năm 1936, nhà sử  học Lã Trấn Vũ cho rằng phương thức sản xuất  châu Á chỉ là biến dạng của chế độ chiếm hữu nô lệ. Năm 1959, nhà nghiên cứu Lý Quý cho rằng phương thức sản xuất  châu Á là một hình thái kinh tế  xã hội riêng biệt nằm giữa xã hội nguyên  thuỷ và xã hội phong kiến, phủ nhận tính phổ biến của chế độ chiếm hữu  nô lệ, và khẳng định xã hội Trung Quốc thời Hạ, Ân (Thương) là xã hội  thuộc về phương thức sản xuất châu Á. 5
  6. Năm 1964, học giả  Điền Xương Ngũ khẳng định phương thức sản  xuất châu Á chỉ  là “ thành phần của xã hội cộng sản nguyên thuỷ  tồn tại   trong xã hội có giai cấp”. Như  vậy quan điểm của các học giả  Trung Quốc về  phương thức  sản xuất châu Á cũng rất khác nhau. + Tại Nhật Bản, những cuộc thảo luận về  phương thức sản xuất   châu Á cũng được tổ chức, với những ý kiến cũng rất khác nhau. Có ý kiến   cho rằng, phương thức sản xuất châu Á là một giai đoạn của chế độ Cộng  sản nguyên thuỷ. Có quan điểm cho rằng phương thức sản xuất châu Á là  thời kì quá độ  từ  chế  độ  thị  tộc sang chế  độ  chiếm hữu nô lệ. Cũng có  quan điểm lại cho phương thức sản xuất châu Á là hình thái đầu tiên của  xã hội có giai cấp, có trước chế  độ  chiếm hữu nô lệ  điển hình kiểu Hy   Lạp. Quan điểm tiếp theo lại xem phương thức sản xuất châu Á là một   dạng châu Á của chế  độ  chiếm hữu nô lệ. Hoặc cho phương thức sản  xuất châu Á là sự hỗn hợp của chế độ nô lệ và chế độ nông nô. +  Ở  Đông Âu, những năm 60­ 70, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra  hàng loạt quan điểm khác nhau về phương thức sản xuất châu Á. Nhà nghiên cứu Tô Cây của Hunggari khẳng định có phương thức   sản xuất châu Á và coi đó là một cấu trúc quá độ  giữa cộng sản nguyên  thuỷ và phương thức sản xuất cổ đại. + Ở Đức tồn tại quan điểm phương thức sản xuất châu Á có trước  phương thức sản xuất cổ  đại và phong kiến hoặc xem phương thức sản   xuất châu Á là thời kì chuyển tiếp từ xã hội có giai cấp sang xã hội có giai   cấp. Tóm lại, có thể  khái quát các quan điểm về  phương thức sản xuất  châu Á trên thế giới như sau: Thứ nhất, phủ nhận không có phương thức sản xuất châu Á. 6
  7. Thứ hai, khẳng định có phương thức sản xuất châu Á. Nhưng trong  đó lại có hai luồng ý kiến: Cho phương thức sản xuất châu Á là một hình   thái kinh tế  xã hội, và phương thức sản xuất châu Á không phải là một  hình thái kinh tế  xã hội. Trong nhận định phương thức sản xuất châu Á  không phải là một hình thái kinh tế  xã hội lại có rất nhiều ý kiến khác   nhau. Quan điểm của các nhà nghiên cứu trong nước : Vấn đề  phương  thức sản xuất châu Á cũng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt từ  những   năm 60 của thế kỉ XX. Theo tác giả Nguyễn Hồng Phong thì phương thức sản xuất châu Á  có tồn tại và đã tồn tại trong xã hội Việt Nam đến thế kỉ XV. Nguyễn Lương Bích: Thừa nhận có phương thức sản xuất châu Á ở  Việt Nam. Phan   Huy   Lê,   Vũ   Huy   Phúc,   Chử   Văn   Tần,   Trần   Quốc   Vượng,   Trương Hữu Quýnh, Lê Kim Ngân đều cho rằng có phương thức sản xuất  châu Á ở Việt Nam. Đặng Phong cho rằng phương  thức sản xuất châu Á là một đặc  ttrưng của xã hội phong kiến Việt Nam. Lê Thành Khôi (Việt kiều) phủ  nhận sự  tồn tại của phương thức   sản xuất châu Á. Như  vậy các học giả  Việt Nam cũng có hai quan điểm: Thừa nhận   có phương thức sản xuất châu Á và không thừa nhận có phương thức sản   xuất châu Á. Trong nhóm quan điểm thừa nhận phương thức sản xuất châu Á thì  tồn tại ba nhóm khác biệt về mốc kết thúc của phương thức sản xuất châu  Á ở Việt Nam: Kết thúc khoảng thế kỉ X­XI. 7
  8. Kết thúc vào thế kỉ XV. Kết thúc vào thế kỉ XIX. Như  vậy Việt Nam cũng như  trên thế  giới vẫn chưa thống nhất   được với nhau về phương thức sản xuất châu Á. Đây là vấn đề không mới  (cách đây hàng thế  kỉ) nhưng cũng không cũ (nay vẫn còn tranh cãi, có  nhiều quan điểm mới). Theo ý kiến của bản thân, em cho rằng có sự  tồn tại của phương   thức sản xuất châu Á, và nó xuất hiện ở cả phương Đông và phương Tây.  Về cơ bản phương thức sản xuất châu Á có từ cuối thời đại nguyên thuỷ,  kéo dài cho đến hết thời phong kiến. Tuy nhiên thời gian tồn tại cụ  thể  của nó ở mỗi vùng, mỗi nước là khác nhau. Những đặc trưng về phương thức sản xuất châu Á bao gồm 12 đặc   trưng mà Mác­ Ăngghen đã chỉ ra. Song không phải ở mỗi vùng, mỗi quốc  gia đều xuất hiện đầy đủ  những đặc trưng đó. Tuỳ  vào đặc điểm riêng  của từng nơi mà tồn tại những đặc trưng khác nhau. Ví dụ, công xã nông  thôn  ở  phương Tây kết thúc khi xã hội có giai cấp và nước xuất hiện,   nhưng ở phương Đông nó lại kéo dài suốt thời cổ đại và phong kiến. Hay   như  sự  khắc nghiệt của chế  độ  đẳng cấp tiêu biểu, điển hình  ở   Ấn Độ  nhưng ở những nơi khác lại rất mờ nhạt, trong đó có Việt Nam. Về vấn đề có hay không sự tồn tại phương thức sản xuất châu Á ở  Việt Nam. Theo em ở Việt Nam đã từng có phương thức sản xuất châu Á,   kéo dài từ thời Văn Lang cho đến đầu thế kỉ XV. Tuy nhiên, đối chiếu với  các đặc trưng về  phương thức sản xuất châu Á của Mác thì  ở  Việt Nam   không hoàn toàn trùng khớp, mà có cái có, có cái không. Phương   thức   sản   xuất   châu   Á  có   từ   thời   Văn   Lang  (thế   kỷ   VII  TCN), biểu hiện  ở những đặc trưng về công xã nông thôn, chế  độ  sở hữu   tập thể  về  ruộng đất, sự  bóc lột theo kiểu cống nạp, sự  không tách rời   8
  9. giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp, hình thành các tầng lớp xã hội….Về  mặt tổ chức Nhà nước còn khá đơn giản, chưa hoàn chỉnh, và chịu sự  tác   động rõ rệt của phương thức sản xuất châu Á. Đứng đầu nước Văn Lang  là Hùng Vương. Giúp việc Hùng Vương có Lạc hầu. Cả nước chia làm 15   bộ. Đứng đầu mỗi bộ là Lạc tướng. Dưới bộ là các công xã nông thôn (kẻ,  chạ, chiềng). Đứng đầu công xã là bồ chính. Trong công xã nông thôn, bên   cạnh quan hệ  láng giềng, địa lý, quan hệ  huyết thống vẫn được bảo tồn.  Toàn bộ  ruộng đất cày cấy cùng với rừng núi, sông ngòi, ao đầm trong   phạm vi công xã đều thuộc quyền sở hữu của công xã. Ruộng đất cày cấy  của công xã được phân chia cho các gia đình thành viên sử dụng. Công việc   khai hoang, làm thuỷ  lợi và những lao động công ích khác đều được tiến   hành bằng lao động hiệp tác của toàn thể công xã. Như vậy, công xã nông  thôn ra đời và tồn tại phổ biến trong thời Hùng Vương, tuy có những sắc   thái riêng, nhưng cũng nằm trong loại hình công xã Á châu mà Mác đã phân  tích. Về  sản xuất, thủ  công nghiệp và nông nghiệp không tách rời nhau.  Đặc điểm của nghề  nông trồng lúa nước là phải tôn trọng thời tiết, theo  đúng lịch nông nghiệp, nên công việc lao động chỉ  tập trung vào một số  tháng trong năm, vào mùa làm đất, gieo trồng và mùa gặt hái.Do đó, cư dân  nông nghiệp có điều kiện thời gian để  kết hợp làm nhiều nghề  thủ  công  như  những nghề  phụ  của nông nghiệp. Những nghề  thủ  công như  làm  gốm bằng bàn xoay, dệt, chế  tác đồ  trang sức bằng đá…có thể  đã chuyên  môn hoá trong chừng mực nào đó, nhưng vẫn chưa tách rời khỏi nông  nghiệp. Xã hội thời Hùng Vương cùng đã có sự  phân chia giai cấp tầng  lớp. Vào giai đoạn cuối, tồn tại 3 tầng lớp xã hội: Tầng lớp quý tộc, tầng  lớp nô tỳ, và tầng lớp dân tự do của công xã nông thôn. Tuy nhiên sự phân  chia này chưa dẫn tới sự  khắc nghiệt của chế  độ  đẳng cấp. Thời kỳ  nhà   nước  Văn  Lang mới  chỉ  hình quan hệ  bóc lột phong kiến, chưa  có sự  9
  10. chuyên chế  với quyền lực tối cao nằm trong tay vua. Tầng lớp quý tộc là  những người thống trị, vốn là những quý tộc bộ  lạc, gồm các tộc trưởng,   tù trưởng bộ  lạc, thủ lĩnh liên minh bộ  lạc…Tầng lớp nô tỳ   ở  vào địa vị  thấp nhất trong xã hội, là những thành viên công xã nghèo khổ hay vi phạm   tục lệ công xã, hoặc có thể là người ngoại tộc bị bắt làm nô tỳ. Họ có thể  tham gia sản xuất ít nhiều, nhưng chủ yếu là phục dịch trong các gia đình  quý tộc. Tầng lớp dân tự  do của công xã nông thôn giữ  vai trò lực lượng  sản xuất chủ  yếu. Họ  được công xã chia ruộng đất cho cày cấy, “ khẩn   ruộng đó mà ăn ”, nhưng lại bị  Lạc hầu “ ăn ruộng ”. Một hình thức bóc   lột đã trùm lên công xã và trên thực tế đã biến công xã thành cơ sở và đơn   vị  bóc lột. Tuy nhiên, những đặc điểm của loại hình công xã châu Á vẫn   đảm bảo cho công xã quyền tự trị rộng lớn và bảo đảm cho các thành viên  công xã một cuộc sống tương đối ổn định, tự do, hạn chế xu hướng nô lệ  hoá và nông nô hoá. Hình thức bóc lột ở đây là cống nạp hay lao dịch. Sang thời Âu Lạc, những đặc trưng về công xã nông thôn, quyền lực   nhà vua của phương thức sản xuất châu Á   được thể  hiện rõ nét hơn.  Quyền uy của vua được tăng cường. Lạc hầu có thể  thay mặt vua giải  quyết các công việc trong nước, làm công việc tôn giáo, thu cống phẩm,   giữ  kho tàng….Đứng đầu các bộ  vẫn là các Lạc tướng, là người thu nộp   cống phẩm cho nhà vua, đồng thời là thủ lĩnh quân sự địa phương, chịu sự  điều động của nhà vua. Trong công xã nông thôn, bồ  chính là người đứng   đầu, bên cạnh có một hội đồng công xã, là những người do các thành viên  công xã cử ra để giải quyết và định đoạt hoạt động của công xã. Công xã  vừa là cơ sở của nhà nước, vừa mang tính tự quản cao. Quan hệ giữa công  xã và chính quyền nhà nước cấp trên là quan hệ mang tính chất lưỡng hợp.   Nhà nước vừa đại diện và đứng trên tất cả các công xã, như là “ người cha   của số đông công xã ” (C.Mác), tổ chức công cuộc trị thuỷ ­ thuỷ lợi và tự  10
  11. vệ, vừa bóc lột các công xã   dưới dạng cống phẩm, do thành viên trong  công xã đóng góp để công xã nộp cho nhà nước. Đến thời Bắc thuộc, mặc dù bị  chính quyền phong kiến phương   Bắc   cai   trị,   nhưng   xã   hội   Việt   Nam   vẫn   mang   những   đặc   trưng   của  phương thức sản xuất châu Á. Nhà nước phương Bắc cai trị  từ chỗ  lỏng   lẻo đến chặt chẽ, hoàn thiện, vừa cai trị trực tiếp vừa cai trị gián tiếp. Sự  chuyên chế  cao hơn thời Văn Lang ­   Âu Lạc. Sản xuất thời kì này chủ  yếu vẫn là nông nghiệp trong các công xã nông thôn (kẻ, chạ, chiềng). Bên   cạnh đó nền thủ công nghiệp cổ  truyền vẫn tiếp tục phát triển, kèm theo  là một số  truyền thống kĩ thuật và kinh nghiệm sản xuất mới của người   Hán. Về  mặt xã hội, giai cấp thống trị, bên cạnh quý tộc quan lại người   Việt, còn có thêm tầng lớp quý tộc quan lại người Hán. Trong giai đoạn  đầu, chính quyền trung ương, chính quyền đô hộ bản địa, quý tộc, quan lại   người Hán, Việt, bóc lột trực tiếp theo nhu cầu, sau chuyển dần sang bóc  lột bằng tô thuế theo hạn định. Sang thế  kỉ  X, với ba triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, bộ  máy nhà  nước là chế  độ  quân chủ  chuyên chế  trung  ương tập quyền theo mô hình   nhà Tống, nhưng chưa hoàn chỉnh và cũng có một số  khác biệt: Tính tập  quyền còn thấp; chưa hoàn thành các cơ  quan chuyên trách như  sau này;  thành phần quan lại chủ yếu là võ tướng, vai trò quan văn còn mờ nhạt; vai   trò của các tăng quan, đạo quan rất lớn. Xã hội Việt Nam thế kỉ X là một   xã hội mang tính đẳng cấp, gồm: Đẳng cấp quý tộc (vua quan, quý tộc, hào  trưởng); tầng lớp bình dân (nông dân công xã); tầng lớp nô tỳ  (không phổ  biến). Tuy nhiên chưa có sự  phân chia sâu sắc, khắc nghiệt. Nhà nước là   chủ  sở  hữu tối cao về  ruộng đất và thu tô thuế, cống phẩm, lao dịch của  các làng xã. Trong kinh tế, bên cạnh nông nghiệp, thủ  công nghiệp nhân  dân, còn xuất hiện chế độ quan xưởng (xưởng thủ công nhà nước) chuyên   11
  12. sản xuất đồ  dùng cho hoàng cung, lễ  phục của quan lại, các loại vũ khí.  Như vậy có thể  thấy các đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á đã  thể hiện ở chính trị, xã hội, kinh tế. Tuy nhiên không hoàn toàn trùng khớp   mà có những khác, ví như quyền lực của vua chưa hẳn là tuyệt đối, chế độ  đẳng cấp không khắc nghiệt… Thời Lý ­ Trần ­ Hồ (1010 ­ 1407), là giai đoạn củng cố và phát triển  nhà nước trung  ương tập quyền. Vua là người nắm trọn mọi quyền lực   (lập pháp, hành pháp, tư  pháp) và cả  thần quyền; là chủ  sở  hữu tối cao   ruộng đất cả  nước. Vị  trí độc tôn của nhà vua trong xã hội còn được thể  hiện ở phẩm phục: Là người duy nhất trong nước được mặc áo sắc vàng,  áo thêu rồng, trâm cài búi tóc bằng vàng (từ thời Lý Cao Tông). Tuy nhiên,  các vị hoàng đế Đại Việt thời kỳ này vẫn chưa thực sự được gọi là chuyên   quyền; họ vừa là Hoàng đế của nhà nước quân chủ, vừa là thủ lĩnh của cả  cộng đồng dân tộc; vừa là người đại diện cao nhất của giai cấp thống trị  và bóc lột nhưng vẫn còn dáng dấp “ người cha của số đông các công xã ”.  Đến thời Trần, nhà nước đã bước đầu vươn bàn tay quyền lực đến các  làng xã (đặt chức đại, tiểu tư  xã, hoặc có người kiêm 2, 3, 4 xã cùng xã   chính, xã xử, xã giám gọi là xã quan), tuy nhiên những mối quan hệ  trong  các làng xã về  cơ  bản vẫn không khác so với  thời kỳ  trước. Ruộng đất   trong làng xã vẫn là ruộng công, nhà nước có vai trò sở hữu tối cao và gián   tiếp. Làng xã sở  hữu trực tiếp nhưng có tính chất tương đối (trong điều  kiện nhất định nhà nước có quyền lấy ruộng đất của làng xã để  ban cấp  cho quan lại). Làng xã phân cho dân đinh cày cấy, và thu tô thuế, làng xã là  trung gian. Người nông dân chỉ  có quyền chiếm hữu. Bên cạnh đó còn có  ruộng quốc khố, ruộng nhà chùa. Nhưng bao trùm lên tất cả  các bộ  phận  ruộng đất đó là quyền sở  hữu tối cao của nhà vua. Với tư  cách là chủ  sở  hữu tối cao ruộng đất của cả  nước, nhà vua có toàn quyền thu thuế  hoặc  12
  13. phong cấp đất đai cho vương hầu, quý tộc, nhà chùa…nhưng những người   được phong không có quyền đem bán mua, trao đổi, truyền tử  lưu tôn.  Nghĩa là họ chỉ có quyền chiếm dụng chứ không có quyền định đoạt. Mặc   dù thời kỳ này đã có sở hữu tư nhân về đất đai được nhà nước thừa nhận,   nhưng quyền sở  hữu tư  nhân bị  quyền sở  hữu nhà vua hạn chế   ở  tất cả  các quyền năng. Chỉ  có quyền sở  hữu của nhà vua mới là quyền sở  hữu   tyệt đối. Ví như  chế  độ  thái  ấp thời Trần, nhà nước phong cho quan lại   cao cấp hoặc các vương hầu một vài làng xã, nhưng vẫn có quyền thu lại,  con cháu không được hưởng thái ấp của ông cha. Chủ thái ấp chỉ có quyền   thu tô của làng xã đó. Xét cho cùng, thái  ấp không thuộc phạm trù tư  hữu   một cách hoàn toàn; nhà nước vẫn có quyền sở hữu tối cao, khác rất nhiều  so với các lãnh địa phương Tây. Về xã hội, thời kỳ này mang kết cấu đẳng   cấp là chủ yếu, bao gồm : Quý tộc (khối vua quan, sư sãi, trí thức nho học  cao cấp); bình dân (nông dân làng xã, địa chủ, trí thức nho học, sư  sãi…);   nô tỳ: quan nô (nhà nước), gia nô (tư nhân), tam bảo nô (ở chùa). Mối quan  hệ bóc lột chủ yếu là giữa nhà nước và nông dân làng xã thông qua tô thuế  hàng năm. Đặc biệt thời kỳ  này, dưới sự  chỉ  huy của nhà nước, một loạt  các công trình tôn giáo ra đời (chùa), xây dựng trường học (Quốc tử giám).  Bên cạnh đó nhà nước vẫn quan tâm đến những công trình thuỷ lợi, đắp đê   điều…Về  văn hoá, nho giáo và phật giáo có  ảnh hưởng rất lớn đến đời  sống trong nhân dân và chính trị, xã hội. Biểu hiện ở việc lập các đền thờ,  chùa chiền khắp nơi; đặc biệt một bộ phận sư tăng đã tham gia và có vai  trò quan trọng trong bộ máy nhà nước. Từ  thời Lê sơ  (thế  kỉ  XV trở  đi ), xã hội Việt Nam có sự  chuyển   biến về tất cả các mặt : thể chế chính trị, kinh tế, xã hội. Những thay đổi  đó đã hình thành phương thức sản xuất phong kiến với mối quan hệ giữa   địa chủ  và tá điền, thay thế  cho phương thức sản xuất châu Á với mối  13
  14. quan hệ giữa nhà nước và nông dân công xã. Các chính sách về ruộng đất   của nhà nước đã khẳng định chế  độ  sở  hữu phong kiến về  ruộng đất, từ  chế  độ  sở  hữu ruộng đất của làng xã độc quyền chuyển sang hình thức  chiếm hữu. Có thể coi đây là mốc thời gian kết thúc của phương thức sản   xuất châu Á ở Việt Nam. Như vậy, có thể thấy suốt từ thời Văn Lang cho đến đầu thế kỉ XV,   ở Việt Nam đã tồn tại phương thức sản xuất châu Á, với những biểu hiện   cụ  thể  của nó. Trong đó có nhiều điểm trùng với những đặc trưng của   phương thức sản xuất châu Á theo quan điểm của  Mác ­ Ăngghen, như  :  chế độ công xã nông thôn kéo dài; chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất mà  đứng đầu là nhà vua và sự  chiếm dụng của các công xã; sự  bóc lột theo  kiểu cống nạp; sự  không tách rời giữa nông nghiệp và thủ  công nghiệp;  thành thị chậm ra đời và khó phát triển; sản xuất hàng hoá chậm phát triển; … Tuy nhiên  ở  Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng. Đó là nhà nước  chưa thực sự  chuyên chế  một cách tuyệt đối với quyền lực tối cao nằm   trong tay một cá nhân; có sự  phân chia các đẳng cấp nhưng không có sự  khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp… 14

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản