intTypePromotion=1
ADSENSE

Đề tài: Sử dụng hệ thống bài tập định tính vào chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể" Vật lý lớp 10 Nâng cao nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh trong dạy học Vật lý ở trường trung học phổ thông

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:147

166
lượt xem
24
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Sử dụng hệ thống bài tập định tính vào chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể" Vật lý lớp 10 Nâng cao nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh trong dạy học Vật lý ở trường trung học phổ thông được thực hiện nhằm xây dựng được hệ thống bài tập định tính chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” Vật lý 10 chương trình Nâng cao làm phương tiện bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Sử dụng hệ thống bài tập định tính vào chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể" Vật lý lớp 10 Nâng cao nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh trong dạy học Vật lý ở trường trung học phổ thông

  1. Sử dụng hệ thống bài tập định tính vào chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể" vật lý lớp 10 nâng cao nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường trung học phổ thông LÊ TRẦN THẢO TRANG
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố bất kì trong công trình nào khác. Tác giả Lê Trần Thảo Trang
  3. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ của người thân, thầy cô và bạn bè. Tôi xin chân thành cảm ơn:  Ban giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau đại học đã tạo điều kiện cho các học viên khóa 17 chúng tôi hoàn thành luận văn của mình.  Ban giám hiệu, quý thầy cô trường THPT Ngô Gia Tự đã tạo điều kiện cho tôi vừa học tập vừa nghiên cứu, thực hiện đề tài.  Gia đình, những người thân yêu, bạn hữu đã động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian qua. Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cô hướng dẫn, PGS.TS. Phạm Thị Phú, với lòng tận tụy, người đã tận tình chỉ bảo, đưa ra những phê bình đúng đắn, đã thắp lên trong tôi ngọn lửa nhiệt tình với lời động viên đơn giản “Hãy cố gắng hoàn thành luận văn của mình”. Với tất cả lòng biết ơn, tôi xin chúc mọi người luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công. TP. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2009 Lê Trần Thảo Trang
  4. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BTĐT : Bài tập định tính BTVL : Bài tập vật lý GV : Giáo viên HS : Học sinh THPT : Trung học phổ thông BT : Bài tập SGK : Sách giáo khoa
  5. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ II (khóa VIII) đã xác định một trong những mục tiêu giáo dục của nước ta trong giai đoạn hiện nay là phải đào tạo thế hệ trẻ có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại. Có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỉ luật. Đối với dạy học môn vật lý ở trường phổ thông, mục tiêu đó được cụ thể trong bốn nhiệm vụ: giáo dưỡng, giáo dục, phát triển và giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Trong đó phát triển tư duy học sinh (HS) là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là động lực giúp cho việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ còn lại, đồng thời suy cho cùng là mục đích cuối cùng của dạy học: dạy học phải kéo theo sự phát triển trí tuệ học sinh (Vư-gốt-xki). Nội dung phát triển năng lực tư duy cho HS bao gồm: rèn luyện những thao tác, hành động, phương pháp nhận thức cơ bản, công cụ để HS chiếm lĩnh kiến thức, vận dụng sáng tạo kiến thức giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn. Trong dạy học, việc bồi dưỡng tư duy logic là một bộ phận quan trọng của nhiệm vụ phát triển tư duy bởi tư duy logic cần thiết cho mọi hoạt động, là cơ sở của tư duy sáng tạo. Những kỹ năng cần thiết của người lao động mới trong xã hội toàn cầu hóa, cạnh tranh và hợp tác như: trình bày vấn đề, thuyết phục, đàm phán … có cơ sở từ năng lực tư duy logic, và năng lực này cần phải được quan tâm bồi dưỡng từ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường. Làm thế nào để bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy học môn vật lý ở trường phổ thông? Đây là câu hỏi từ lâu được nhiều giáo viên (GV) vật lý quan tâm bởi thực tế năng lực tư duy logic, suy luận logic, diễn đạt tư tưởng, ý kiến của HS, sinh viên và cả GV còn nhiều bất cập hạn chế. Trong dạy học vật lý, bài tập vật lý (BTVL) từ trước đến nay vẫn giữ một vị trí quan trọng bởi vì có thể sử dụng BTVL như một phương tiện để ôn tập, củng cố kiến thức, lí thuyết đã học một cách sinh động và có hiệu quả. BTVL còn giúp rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn và đời sống, rèn luyện cho HS tinh thần tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì và tinh thần vượt khó…Ngoài ra ta còn có thể dùng nó như một phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS. Do đó, để quá trình dạy học vật lý ở trường THPT đạt hiệu quả cao thì ngoài việc dạy kiến thức mới còn phải chú trọng đến việc dạy BTVL. BTVL đa dạng, theo dấu hiệu phương thức, công cụ chính để giải, BTVL gồm bài tập định tính (BTĐT), bài tập định lượng. Thực tế giảng dạy cho thấy GV thường tập trung vào các bài tập định lượng mà chưa chú trọng đến các BTĐT mặc dù BTĐT có những ưu điểm vượt trội đặc biệt trong việc bồi dưỡng tư duy logic, năng lực lập luận logic.
  6. Trong những trường hợp dạy học các nội dung không có các công thức toán học thì việc sử dụng BTĐT trong dạy học là rất cần thiết. Ngoài ra, còn một vấn đề khá quan trọng mang tính thời sự là hiện nay hình thức trắc nghiệm khách quan được sử dụng cho thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học môn vật lý. Mặc dù có những ưu điểm như tính khách quan trong đánh giá, ngăn ngừa được tình trạng học tủ, học lệch do đề thi phủ kín toàn bộ chương trình, nhưng do không phải viết câu trả lời nên kiểu kiểm tra đánh giá này rất hạn chế việc rèn luyện kỹ năng lập luận logic, phát triển ngôn ngữ cho HS. Nếu trong quá trình dạy học môn vật lý, bài tập trắc nghiệm khách quan bị tuyệt đối hóa sẽ dẫn đến tình trạng tư duy lôgic, năng lực lập luận lôgic, ngôn ngữ nói, viết của HS rất hạn chế. Vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải xây dựng một hệ thống BTĐT hiện còn rất khiêm tốn bên cạnh hệ thống bài tập định lượng đã khá phong phú. (và hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan đang ồ ạt ra đời trong ba năm gần đây). Trước hết cần ưu tiên cho những nội dung dạy học nặng về mặt định tính trong chương trình THPT. Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ, tôi chọn đề tài: “Sử dụng hệ thống bài tập định tính vào chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” vật lý lớp 10 nâng cao nhằm bồi dưỡng tư duy lôgic cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường trung học phổ thông”. 2. Mục tiêu nghiên cứu - Xây dựng được hệ thống BTĐT chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” Vật lý 10 chương trình Nâng cao làm phương tiện bồi dưỡng tư duy logic cho HS. - Thiết kế các phương án dạy học với hệ thống BTĐT đã soạn nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho HS. 3. Giả thuyết khoa học - Có thể xây dựng được hệ thống BTĐT đảm bảo các yêu cầu về vật lý học, về logic học, về tâm lý học và lý luận dạy học nhằm mục tiêu bồi dưỡng tư duy logic cho HS, thuộc chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” Vật lý 10 chương trình Nâng cao. - Việc sử dụng BTĐT theo các phương án dạy học hợp lý sẽ góp phần bồi dưỡng tư duy logic cho HS. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài - Tư duy logic - BTVL nói chung và BTĐT nói riêng trong dạy học vật lý: vai trò và đặc điểm của chúng. - Việc dạy BTVL nói chung và BTĐT nói riêng trong chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể”.
  7. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu BTĐT và chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” trong chương trình vật lý lớp 10 Nâng cao. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng tư duy logic trong dạy học. 5.2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về BTĐT trong dạy học vật lý, mối liên hệ giữa hoạt động giải BTĐT và việc thực hành các thao tác tư duy, các hành động suy luận logic. Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực tư duy logic trong dạy học vật lý. 5.3. Tìm hiểu thực trạng dạy BTĐT và vấn đề quan tâm bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy học vật lý ở trường THPT. Điều tra kỹ năng giải BTĐT của HS lớp 10 để đánh giá năng lực tư duy logic của HS. 5.4. Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kỹ năng vật lý 10 Nâng cao, chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” nhằm tạo cơ sở xây dựng hệ thống BTĐT. 5.5. Xây dựng hệ thống BTĐT chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” theo định hướng nghiên cứu. 5.6. Thiết kế các phương án dạy học với hệ thống BTĐT đã xây dựng nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho HS. 5.7. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các phương án đã thiết kế, điều chỉnh, hoàn thiện. Quay phim tiết dạy thực nghiệm làm tư liệu cho bảo vệ đề tài. 6. Phương pháp nghiên cứu  Nghiên cứu lý luận: đọc các sách, tài liệu về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra trong luận án.  Nghiên cứu thực tiễn: điều tra sơ bộ về việc giảng dạy BTĐT ở một số trường THPT áp dụng cụ thể cho chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể”.  Thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT để đánh giá các biện pháp đã đề xuất trong luận án. 7. Đóng góp mới của luận văn  Về mặt lý luận: góp phần hoàn thiện lý luận về dạy học BTĐT với chức năng là phương tiện hữu hiệu bồi dưỡng tư duy logic.  Về nghiên cứu ứng dụng:  Mô tả được thực trạng khái quát và chi tiết về dạy học BTĐT theo hướng bồi dưỡng tư duy logic ở một số trường THPT Thành phố Hồ Chí Minh.  Xây dựng hệ thống BTĐT chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” đảm bảo tính khoa học sư phạm và khả thi dùng cho dạy học bồi dưỡng tư duy logic.
  8.  Thiết kế các phương án dạy học có sử dụng BTĐT đã soạn nhằm bồi dưỡng tư duy logic. Các giáo án đã thiết kế đảm bảo tính khả thi và có tác dụng bồi dưỡng tư duy logic cho HS. 8. Cấu trúc luận văn Phần nội dung gồm 3 chương:  Chương 1. Bài tập định tính với việc bồi dưỡng tư duy logic trong dạy học vật lý. Được trình bày từ trang 12 đến trang 45.  Chương 2. Xây dựng vào sử dụng hệ thống bài tập định tính nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho HS qua dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” Vật lý 10 chương trình nâng cao. Được trình bày từ trang 46 đến trang 93.  Chương 3. Thực nghiệm sư phạm. Được trình bày từ trang 94 đến trang 104.
  9. Chương 1. BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH VỚI VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY LOGIC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 1.1. Bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy học vật lý 1.1.1. Tư duy. Các loại tư duy a. Tư duy Có nhiều cách định nghĩa về tư duy, nhưng nói chung ta có thể hiểu là tư duy là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng, khái quát bản chất của sự vật hiện tượng, những liên hệ, quan hệ có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà ta chưa biết. Một số đặc điểm của tư duy: [7]  Tư duy bắt đầu từ một tình huống có vấn đề.  Có tính trừu tượng và khái quát.  Tư duy có tính gián tiếp.  Tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ: mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ được thể hiện bằng sơ đồ 1.1: [4] Nội dung - quyết định Tư duy Ngôn ngữ Hình thức – Vỏ vật chất Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ Tư duy đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển ngôn ngữ. Ngược lại, ngôn ngữ giúp cho việc rèn luyện, phát triển tư duy rõ ràng, mạch lạc, chính xác, đầy đủ. b. Các loại tư duy Con người đã đặt ra rất nhiều loại hình tư duy tuy nhiên, trong dạy học vật lý có thể phân loại tư duy theo các loại hình sau: [19]  Tư duy kinh nghiệm Là loại tư duy chủ yếu dự trên kinh nghiệm cảm tính và sử dụng phương pháp “thử và sai”. Chủ thể phải thực hiện một số thao tác, hành động nào đó, ngẫu nhiên gặp một trường hợp thành công và sau đó lặp lại đúng như thế mà không biết nguyên nhân vì sao. Kiểu tư duy này đơn giản, không cần phải rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt động hàng ngày để giải quyết một số vấn đề trong một phạm vi hẹp. Nhưng, tư duy kinh nghiệm thường gặp khó khăn khi tiếp xúc với những sự vật, sự việc, vấn đề có nhiều sự khác lạ.  Tư duy lý luận Là loại tư duy giải quyết nhiệm vụ đề ra dựa trên những khái niệm trừu tượng, những tri thức lý luận. Đặc trưng của loại tư duy này là:
  10.  Không dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà luôn hướng tới xây dựng những quy tắc, những quy luật chung ngày một sâu rộng hơn.  Tự định hướng hành động suy nghĩ về cách thức hành động trước khi hành động.  Luôn sử dụng những tri thức khái quát đã có để lý giải, dự đoán những sự vật hiện tượng cụ thể.  Luôn lật đi, lật lại vấn đề để đạt đến sự nhất quán về mặt lý luận, xác định phạm vi ứng dụng của mỗi lý thuyết. Tư duy lý luận rất cần thiết cho hoạt động nhận thức và phải rèn luyện lâu dài mới có được.  Tư duy logic Tư duy logic là tư duy tuân theo các quy tắc và quy luật của logic học một cách chặt chẽ, chính xác, không phạm phải sai lầm trong cách lập luận, biết phát hiện ra các mâu thuẫn nhờ đó mà nhận thức được đúng đắn chân lý khách quan. Các đặc trưng của tư duy này là:  Tính chặt chẽ. Đây là đặc trưng thể hiện sự liên kết, gắn bó không thể tách rời giữa các yếu tố, các bộ phận trong một nội dung của tư duy.  Tính hệ thống phản ánh sự sắp xếp các nội dung lập luận theo một trình tự nhất định.  Tính tất yếu. Tính tất yếu của tư duy là tính tuân thủ các quy luật và quy tắc của logic học.  Tính chính xác. Tính chính xác phản ánh đúng đắn những đặc điểm bản chất của các đối tượng vào trong các dấu hiệu cơ bản của khái niệm, là sự xác định được giá trị của tư tưởng ở trong phán đoán, suy luận, chứng minh, bác bỏ. Tư duy logic được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động, là cơ sở, nền tảng cho các loại tư duy khác nên cần phải rèn luyện cho HS loại tư duy này.  Tư duy vật lý Tư duy vật lý là sự quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối quan hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý, dự đoán các hệ quả mới từ các lý thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực tiễn. Việc phân loại các hình thức tư duy thật ra cũng không có một ranh giới thật rõ rệt, chúng chỉ thể hiện một khía cạnh nào đó của quá trình tư duy. Nhưng chắc chắn rằng để quá trình tư duy được đúng đắn, rõ ràng, không mâu thuẫn thì phải có một trình độ tư duy logic nào đó. Do vậy, vấn đề bồi dưỡng tư duy logic cho HS phải được quan tâm đúng mức, và phải được rèn luyện thường xuyên ở cấp trung học. Theo định hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về tư duy logic.
  11. 1.1.2. Vai trò của tư duy logic trong các loại tư duy Vai trò của tư duy logic có thể được thể hiện bằng sơ đồ 1.2: Cơ sở Cơ sở Tư duy lý luận Tư duy kinh nghiệm Tư duy logic Tư duy vật lý Sơ đồ 1.2. Vai trò của tư duy logic trong các loại tư duy Theo sơ đồ 1.2 chúng tôi muốn chỉ ra rằng tư duy kinh nghiệm có thể xem là cơ sở của tư duy logic. Trong quá trình nhận thức thế giới khách quan, con người đã luôn tự mò mẫm, sử dụng phương pháp “thử và sai” trước khi có thể đúc kết cho mình một quy tắc, một quy luật nào đó. Như vậy, những quy tắc, quy luật đó không phải do con người tự ý sáng tạo ra một cách vô căn cứ mà là sự phản ánh những mối liên hệ, quan hệ khách quan của các sự vật hiện tượng quanh ta đúc kết thành tiền đề cho tư duy logic. Trải qua nhiều thế kỉ, con người đã tổng kết được những quy tắc, quy luật logic có tính khách quan và đã hình thành nên logic học, một khoa học nghiên cứu những tư tưởng của con người về mặt hình thức logic của chúng. Đây chính là cơ sở của tư duy logic. Mặt khác, tư duy logic lại có thể xem là cơ sở của các loại tư duy khác như tư duy lý luận, tư duy vật lý. Đối với tư duy lý luận, để có thể xây dựng được những quy tắc, những quy luật chung hay để có thể sử dụng những tri thức đã khái quát được nhằm lý giải, dự đoán những sự vật hiện tượng cụ thể…chắc chắn phải dùng đến những phán đoán và lập luận. Đối với tư duy vật lý, khi quan sát các sự vật hiện tượng muốn xác lập mối quan hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng giữa các sự vật hiện tượng, giữa các đại lượng vật lý bắt buộc phải sử dụng những phán đoán và lập luận. Những phán đoán và những lập luận này phải tuân theo những quy tắc, quy luật của logic học một cách chặt chẽ có như vậy mới không mắc phải sai lầm trong quá trình lập luận cũng như trong quá trình tư duy. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong quá trình nhận thức con người thường sử dụng xen kẽ, tổng hợp nhiều loại hình tư duy. Trong đó có những hình thức tư duy chung như tư duy lý luận, tư duy logic và hình thức tư duy riêng như tư duy vật lý. Chẳng hạn khi quan sát thấy hai vật rơi nhanh chậm khác nhau trong không khí thì các HS sẽ phải tự đặt ra câu hỏi: Tại sao vật này rơi nhanh hơn vật kia? Từ đó HS sẽ đi tìm đáp án cho câu hỏi đưa ra và đánh giá xem đáp án nào là chính xác nhất. Nhưng để đưa ra các đáp án và đánh giá được đáp án nào chính xác thì HS phải phân tích được hiện tượng quan sát: hai vật đó có khối lượng, hình dạng, kích thước giống nhau hay khác nhau, chúng có cùng chịu tác động của môi trường xung quanh như nhau không. Khi đó HS phải dùng đến tư duy vật lý, HS phải phân tích được hiện tượng phức tạp thành những bộ phận, những hiện tượng bị chi phối bởi một số ít nguyên nhân, bị tác động bởi một số ít yếu tố. Từ đó mới có thể đưa ra kết luận về nguyên nhân rơi nhanh chậm của các vật
  12. khác nhau trong không khí là do: hình dạng, kích thước, khối lượng hay do sức cản của không khí. Muốn biết kết luận rút ra có chính xác hay không thì phải kiểm tra trong thực tiễn. Để làm việc đó phải xuất phát từ kết luận đã khái quát suy ra những hệ quả, dự đoán những hiện tượng có thể quan sát được trong thực tiễn. Nếu thí nghiệm xác nhận hiện tượng mới đúng như dự đoán thì kết luận ban đầu mới được xác nhận là chân lý. Trong giai đoạn đưa ra hệ quả và kiểm chứng hệ quả đòi hỏi HS phải đưa ra những phán đoán, những suy luận chặt chẽ, không mâu thuẫn…nói cách khác HS phải sử dụng tư duy logic. Chẳng hạn khi HS đưa ra kết luận: nguyên nhân làm các vật rơi nhanh chậm trong không khí là do khối lượng. Như vậy, hệ quả rút ra dựa trên lập luận như sau: Các vật có khối lượng bằng nhau thì rơi nhanh như nhau bất kể hình dạng và kích thước. Hai vật này có khối lượng bằng nhau, hình dạng và kích thước khác nhau. Vậy, chúng rơi nhanh như nhau. Như vậy, trong quá trình nhận thức HS phải sử dụng nhiều loại hình tư duy, các loại hình tư duy này không phải theo một trình tự cứng nhắc, mà chúng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau giúp cho con người phản ánh ngày càng đúng bản chất của sự vật hiện tượng, kiến thức do con người khám phá ra ngày càng tiệm cận với chân lý, ngày càng đúng với hiện thực khách quan. 1.1.3. Cơ sở lý luận của tư duy logic Tư duy logic là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học nên có vai trò to lớn trong nhận thức khoa học. Chính vì vậy con người tìm hiểu về nó rất sớm và đã hình thành những nghiên cứu về tư duy logic, đó là logic học. Tư duy logic là giai đoạn nhận thức lý tính, sử dụng các hình thức cơ bản như: khái niệm, phán đoán, suy luận cùng với các thao tác logic xác định của chủ thể nhằm tạo ra các tri thức mới với mục đích phản ánh ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về hiện thực khách quan. Do đó, để nâng cao năng lực tư duy logic cần phải nắm bắt được các khái niệm, các quy luật cơ bản của logic học. 1.1.3.1. Các khái niệm cơ bản của logic học Trong phần này chúng ta sẽ đề cập đến những khái niệm rất cơ bản mọi quá trình nhận thức đều sử dụng đến, đó là: khái niệm, phán đoán, suy luận. a. Khái niệm Khái niệm là hình thức tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất, những dấu hiệu cơ bản khác biệt của các sự vật hiện tượng của hiện thực. Đặc điểm của khái niệm: [14]  Khái niệm có tính chất trừu tượng và khái quát hơn biểu tượng. Khái niệm có thể phản ánh cả những thuộc tính, những mối quan hệ mà ta không thể hình dung dưới dạng hình ảnh trực quan được.  Khái niệm liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ.
  13.  Khái niệm có tính biến đổi theo hướng ngày càng chính xác hóa và phân hóa. Mức độ phù hợp của nội dung khái niệm với nội dung khách quan của sự vật, hiện tượng mà nó phản ánh còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thực tiễn, trình độ nhận thức của con người.  Mỗi một khái niệm đều có nội hàm và ngoại diên. Nội hàm của khái niệm là tập hợp những thuộc tính của đối tượng hay các đối tượng cùng loại được phản ánh trong khái niệm. Ngoại diên của khái niệm là tập hợp tất cả các đối tượng được khái quát trong khái niệm, có những thuộc tính xác định của đối tượng ấy. Nội hàm và ngoại diên của khái niệm có quan hệ ngược nhau, khái niệm mà nội hàm càng nhiều dấu hiệu thì ngoại diên càng hẹp và ngược lại. Nội hàm và ngoại diên có thể mở rộng hoặc thu hẹp lại. Vấn đề quan trọng nhất của xây dựng khái niệm là định nghĩa khái niệm. Định nghĩa khái niệm là nêu lên nội hàm khái niệm hoặc xác lập ý nghĩa của các từ biểu thị khái niệm. Khi định nghĩa một khái niệm phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ sau: phân biệt sự vật cần định nghĩa với tất cả các sự vật khác tiếp cận với nó; vạch ra những dấu hiệu bản chất của sự vật cần định nghĩa. b. Phán đoán Phán đoán là hình thức cơ bản của tư duy, dưới dạng khẳng định hay phủ định, thể hiện nhận thức của con người về những đối tượng trong thế giới khách quan. Đặc điểm của phán đoán:  Phán đoán có phản ánh:  Các dấu hiệu hay các thuộc tính thuộc về, hay không thuộc về các sự vật, hiện tượng.  Các quan hệ giữa các lớp đối tượng.  Quan hệ cùng tồn tại của các thuộc tính trong cùng một sự vật.  Các quan hệ không tương thích của các thuộc tính của sự vật.  Các quan hệ phụ thuộc của hiện tượng này vào hiện tượng khác.  Trong phán đoán bao giờ cũng chính xác đối tượng của tư tưởng và ngôn ngữ biểu thị phán đoán là câu. Ví dụ trong phán đoán “Đồng là kim loại” thì đối tượng của tư tưởng là “đồng”. Phán đoán được phân làm hai loại là phán đoán đơn và phán đoán phức. Phán đoán đơn là phán đoán được tạo thành từ mối liên hệ giữa hai khái niệm. Phán đoán phức là phán đoán được tạo thành từ nhiều phán đoán đơn. Tính chu diên và không chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán: trong một phán đoán nếu chủ ngữ hay vị ngữ chỉ gồm một hay một số đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm thì ta nói chủ ngữ hay vị ngữ đó không chu diên. Nếu chủ ngữ hay vị ngữ chỉ toàn bộ đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm thì ta gọi là chu diên.
  14. GV phải khéo léo lồng ghép những kiến thức cơ bản của logic học về khái niệm và phán đoán vào nội dung dạy học môn học để bồi dưỡng cho HS vì đây là điều kiện cần cho việc thực hiện các phép suy luận. c. Suy luận Suy luận là quá trình nhận thức hiện thực một cách gián tiếp. Đó là quá trình nhận thức trong đó từ một hay nhiều phán đoán đã được chứng minh để rút ra phán đoán mới (kiến thức mới). Đặc điểm của suy luận:  Bất kì một suy luận nào cũng gồm có: tiền đề, kết luận và lập luận. Tiền đề (còn gọi là phán đoán xuất phát) là phán đoán chân thực đã biết trước. Kết luận là phán đoán mới thu được bằng con đường lập luận logic từ các tiên đề. Cách thức logic để rút ra kết luận gọi là lập luận.  Trong quá trình lập luận để có thể rút ra được kết luận (tri thức mới) chân thực phải có hai điều kiện:  Các tiền đề của suy luận phải chân thực (điều kiện cần).  Phải tuân theo các quy tắc logic của lập luận (điều kiện đủ). Căn cứ vào cách thức suy luận, logic học phân ra làm 2 loại suy luận: i. Suy luận diễn dịch Là suy luận trong đó lập luận đi từ cái chung đến cái riêng, cái đơn nhất. Trong dạy học vật lý ta thường dùng các suy luận diễn dịch sau:  Luận ba đoạn nhất quyết đơn: Luận ba đoạn là loại suy luận suy diễn có hai tiền đề dưới dạng phán đoán đơn, trong đó xác lập mối quan hệ giữa các thuật ngữ biên trong kết luận trên cơ sở quan hệ của chúng đối với các thuật ngữ giữa trong tiền đề.  Luận ba đoạn rút gọn: Luận ba đoạn bỏ qua một phán đoán gọi là luận hai đoạn hay luận ba đoạn rút gọn.  Suy luận có điều kiện thuần túy: suy luận có điều kiện thuần túy là suy luận diễn dịch, trong đó hai tiên đề và kết luận là những phán đoán có điều kiện. Mỗi hình thức suy luận đều có các loại hình, và tương ứng với mỗi loại hình đều có các quy tắc xác định. ii. Suy luận quy nạp Là suy luận trong đó kết luận là tri thức chung được khái quát từ các tri thức ít chung hơn hay đi từ cái riêng đến cái chung. Tiến trình của suy luận quy nạp diễn ra theo sơ đồ: A, B, C, D… có thuộc tính P. A, B, C, D… thuộc lớp S. Tất cả S có thuộc tính P.
  15. Muốn suy luận quy nạp đạt đến chân lý cần phải tuân theo hai điều kiện sau:  Kết luận của suy luận quy nạp là tin cậy khi nó được khái quát từ các dấu hiệu bản chất.  Suy luận quy nạp chỉ được sử dụng khi các đối tượng là cùng loại, tương tự. Căn cứ vào tính trọn vẹn hay không trọn vẹn của ngoại diên đối tượng của tư tưởng logic học chia ra làm 2 loại quy nạp: Quy nạp hoàn toàn là suy luận trong đó kết luận chung về lớp đối tượng nào đó được rút ra trên cơ sở nghiên cứu tất cả các đối tượng của lớp đó. Quy nạp không hoàn toàn là suy luận trong đó kết luận chung về lớp đối tượng nào đó được rút ra trên cơ sở nghiên cứu một bộ phận đối tượng của lớp đó. Trong loại quy nạp này người ta chú ý đến quy nạp khoa học là quy nạp dựa trên dấu hiệu bản chất của một số đối tượng của lớp mà rút ra khái niệm chung về bản chất của lớp. 1.1.3.2. Các quy luật cơ bản của logic học Ở đây ta chỉ chú trọng đến hình thức của tư duy logic do đó, ta sẽ nghiên cứu về các quy luật của logic hình thức. [22] i. Quy luật đồng nhất “Mỗi sự vật luôn đồng nhất với chính nó”. Quy luật này đảm bảo cho tư duy có tính xác định. Chừng nào sự vật, hiện tượng vẫn là nó chưa bị biến đổi thành cái khác thì nội hàm của khái niệm về sự vật đó phải được giữ nguyên, phải được đồng nhất. Việc nhận thức đầy đủ và vận dụng đúng đắn quy luật đồng nhất tạo điền kiện đầu tiên và cơ bản quyết định việc hình thành tính nhất quán rõ ràng, chính xác, mạch lạc và khúc chiết trong quá trình lập trong tư duy. ii. Quy luật cấm mâu thuẫn “Trong cùng một quan hệ và cùng một lúc, một sự vật không thể vừa là A, vừa không là A” Quy luật đảm bảo cho tư duy có tính nhất quán. Hai ý kiến trái ngược nhau về cùng một sự vật, được xem xét trong cùng một thời gian và cùng một mối quan hệ thì không thể đồng thời là chân thực. Ít nhất phải có một ý kiến là giả dối. Việc nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật cấm mâu thuẫn giúp cho con người tránh được những mâu thuẫn logic trong quá trình suy nghĩ nhằm hình thành tính hệ thống, rõ ràng, mạch lạc, chính xác trong lập luận iii. Quy luật loại trừ cái thứ ba (quy luật bài trung) “Một sự vật trong cùng một lúc, hoặc tồn tại (nó là A) hoặc không tồn tại (nó không là A) chứ không còn khả năng thứ ba nào khác”
  16. Điều đó có nghĩa là hai phán đoán có hình thức logic xác định phủ định lẫn nhau, trong cùng một quan hệ, trong cùng một thời gian thì nhất định phải có phán đoán là chân thực, một phán đoán sai, chân lý không thể có ý kiến thứ ba. Việc nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật loại trừ cái thứ ba sẽ giúp nêu ra cơ sở, cách thức chắc chắn để lựa chọn một trong hai tư tưởng, phán đoán mâu thuẫn nhau là chân thực. iiii. Quy luật lý do đầy đủ “Mỗi luận điểm rút ra trong quá trình lập luận, chỉ được thừa nhận là đúng đắn khi có đầy đủ các lý do chân thực”. Quy luật lý do đầy đủ đòi hỏi những luận điểm, quan niệm, tư tưởng…của chúng ta phải được lí giải, chứng minh một cách chặt chẽ trên một cơ sở đủ để thể hiện sự hợp lí đúng đắn của chúng. Điều này đảm bảo cho tư duy có tính khoa học, có sức thuyết phục. Việc nắm vững và vận dụng đúng đắn nội dung của quy luật lý do đầy đủ giúp cho con người luôn có ý thức về tính chân thực và lập luận có căn cứ khi đưa ra các ý kiến, các quan điểm của mình để thuyết phục người khác. Trong bốn quy luật của logic hình thức thì mỗi quy luật có một chức năng logic khác nhau. Nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau. Nếu vi phạm một trong bốn quy luật dó đều dẫn đến sự phá vỡ tư duy logic và tất yếu là dẫn đến sai lầm trong tư duy. Ngược lại, nếu vận dụng bốn quy luật này một cách có ý thức sẽ là điều kiện cần để nhận thức đúng thế giới khách quan. 1.1.4. Bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy học vật lý Đối với HS ở trường THPT, logic học không được đưa vào chương trình dạy học như một môn chính khóa như toán, lý, hóa…Do đó GV không thể dạy cho HS môn logic học trước rồi sau đó HS mới vận dụng các quy luật logic để suy nghĩ, lập luận. GV phải bồi dưỡng tư duy logic cho HS bằng cách thông qua việc giải quyết những nhiệm vụ cụ thể để HS tích lũy dần kinh nghiệm đến một lúc nào đó HS sẽ tự tổng kết thành những quy tắc đơn giản thường dùng. 1.1.4.1. Nội dung bồi dưỡng tư duy logic a. Rèn luyện thao tác tư duy và kỹ năng suy luận logic Đối với bộ môn Vật lý để có thể hình thành được các định luật, định lý, các thuyết vật lý đòi hỏi HS phải nắm vững được các khái niệm vật lý. Như vậy, các thao tác tư duy, các suy luận logic thường dùng khi HS hình thành các khái niệm vật lý cũng chính là các thao tác tư duy, các phép suy luận logic cần phải bồi dưỡng cho HS.  Rèn luyện các thao tác tư duy “Một trong những hình thức quan trọng của tri thức khoa học vật lý là những khái niệm vật lý. Việc hình thành các khái niệm và việc thiết lập mối quan hệ giữa chúng được giải quyết trong quá
  17. trình thực hiện các thao tác trí tuệ phân tích, tổng hợp, so sánh, định nghĩa, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa và cụ thể hóa” [20] Các thao tác tư duy bao gồm:[17]  Phân tích là dùng trí óc để tách đối tượng tư duy thành những bộ phận, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn.  Tổng hợp là dùng trí óc đưa những thành phần đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể.  So sánh là dùng trí óc để xác định sự giống nhau, khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng.  Trừu tượng hóa là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể dùng trí óc gạt bỏ những thuộc tính, những bộ phận, những quan hệ…không cần thiết về một phương diện nào đó mà chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy.  Khái quát hóa là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc để bao quát nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại…trên cơ sở chúng có một số thuộc tính chung và bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật. Trong các thao tác tư duy trên thì sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và cụ thể hóa giữ vai trò chủ yếu. Sự trừu hóa diễn ra trên cơ sở phân tích, so sánh. Kết quả của quá trình này sẽ là dữ liệu tiếp theo cho quá trình khái quát hóa để từ đó hình thành khái niệm. Sau khi hình thành khái niệm nhờ sự cụ thể hóa mà HS phát hiện ra những biểu hiện trong thực tế của các trừu tượng khoa học. Ví dụ để hình thành khái niệm “chuyển động thẳng đều” HS phải quan sát nhiều chuyển động trong thực tế, từ đó đặt ra câu hỏi: chuyển động thẳng đều có những đặc điểm gì? Quỹ đạo chuyển động có dạng như thế nào? Tốc độ chuyển động của các vật như thế nào? Bằng cách so sánh các chuyển động đã quan sát được, phân tích để tìm cái chủ yếu của hiện tượng, trừu xuất những cái không chủ yếu, không bản chất của hiện tượng, từ đó định nghĩa khái niệm “chuyển động thẳng đều”. Tiếp theo là sự cụ thể hóa, HS sẽ nhận biết những biểu hiện của khái niệm chuyển động thẳng đều trong thực tế. Như vậy, trong dạy học vật lý phải rèn luyện cho HS các thao tác tư duy nêu trên bằng cách tạo cơ hội cho HS được huy động, thực tập và rèn luyện chúng.  Rèn luyện kỹ năng suy luận logic Trong quá trình hình thành khái niệm, xây dựng định luật, lý thuyết, ứng dụng kiến thức, những suy luận logic như suy luận quy nạp và suy luận diễn dịch luôn được sử dụng, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ. Trong bước đầu học tập vật lý, HS đi từ những kiến thức cảm tính, cụ thể của các sự kiện, bằng phép quy nạp đi đến nhận thức những quy luật của tự nhiên, nghĩa là đi từ cụ thể đến trừu tượng, giai đoạn này sử dụng suy luận quy nạp. Để ứng dụng những quy luật, những lý thuyết khái quát đã học vào giải quyết những vấn đề của thực tiễn thì phải áp dụng phép suy luận diễn
  18. dịch. Phép suy luận diễn dịch cho phép chuyển từ trừu tượng đến cụ thể làm cho các khái niệm, các quy luật có ý nghĩa thực tiễn. Để cho hoạt động nhận thức đạt kết quả tốt và được thực hiện với tốc độ ngày càng nhanh thì người GV ngoài việc rèn luyện các thao tác tư duy cần phải rèn luyện thêm cho HS các phép suy luận logic đã nêu ở trên. b. Rèn luyện ngôn ngữ Như đã biết ngôn ngữ là hình thức biểu hiện của tư duy. Mỗi một khái niệm được biểu diễn bằng một từ hay một cụm từ, mỗi một phán đoán được biểu diễn bằng một câu hay một mệnh đề, mỗi một suy luận thì bao gồm nhiều phán đoán liên tiếp. Ngoài ra, riêng đối với bộ môn vật lý có một số khái niệm rất gần gũi với đời sống (khái niệm công, lực, khối lượng, trọng lượng…) dẫn đến việc HS có thể nhầm lẫn ý nghĩa vật lý của các khái niệm, đại lượng vật lý này với ý nghĩa của chúng trong cuộc sống. Mặt khác, mỗi đại lượng vật lý thường được quy ước bằng một kí hiệu. Hệ thống kí hiệu thường dùng là các chữ cái của hệ la tinh. Có những đại lượng có chung kí hiệu, thí dụ nhiệt độ và thời gian cùng được kí hiệu là t, áp suất với động lượng cùng được kí hiệu là p, tần số và độ ẩm tỉ đối cùng được kí hiệu là f…do đó HS cần phải biết để tránh nhầm lẫn trong các trường hợp đó. Tóm lại, do tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ. Không có ngôn ngữ làm phương tiện thì không thể có quá trình tư duy vì ngay từ khâu mở đầu của tư duy là tình huống có vấn đề, đến quá trình thực hiện các thao tác tư duy và cuối cùng là các sản phẩm của tư duy như khái niệm, phán đoán, suy luận đều sử dụng ngôn ngữ. Vậy, yêu cầu đặt ra là đi đôi với việc rèn luyện các thao tác tư duy, các kĩ năng suy luận logic là phải rèn luyện ngôn ngữ khoa học nói chung và ngôn ngữ vật lý nói riêng cho HS. 1.1.4.2. Phương pháp bồi dưỡng Trước khi đưa ra phương pháp bồi dưỡng tư duy logic cho HS chúng ta cần phải chú ý một số vấn đề sau:  Vì tư duy logic không được đưa vào phân phối chương trình học như một môn chính khóa. Do đó, không thể dạy cho HS các khái niệm, các quy luật cơ bản của logic học trước rồi sau đó HS mới áp dụng chúng trong quá trình nhận thức.  Hoạt động tư duy chỉ bắt đầu từ một vấn đề nên GV cần phải xác định được vấn đề cần giải quyết của bài học và hoạt động tư duy của HS chỉ tích cực khi vấn đề đặt ra kích thích và làm cho HS thích thú tìm hiểu vấn đề. Muốn vậy thì người GV phải tổ chức được tình huống có vấn đề.  Các thao tác tư duy diễn ra trong óc của GV nên HS không thể quan sát GV thực hiện chúng như thế nào để bắt chước, và GV cũng không thấy HS thực hiện chúng như thế nào để uốn nắn và giúp đỡ. Tuy nhiên với mục đích chính bồi dưỡng tư duy logic cho HS thì việc chuyển từ suy nghĩ
  19. “thầm” thành suy nghĩ “nói” nghĩa là mô tả lại quá trình suy nghĩ của mình là rất quan trọng. GV cần phải tường minh chuỗi suy luận của mình, mô tả cách thức tìm câu trả lời: đi từ dữ kiện đến ẩn số (tư duy tổng hợp) hay đi từ ẩn số (câu hỏi) đến dữ kiện (tư duy phân tích). Dựa vào những vấn đề đã phân tích ở trên thì việc rèn luyện các thao tác tư duy, kĩ năng suy luận logic phải được tiến hành bằng con đường kinh nghiệm và làm thật nhiều lần bằng cách giải quyết các tình huống có vấn đề. Như vậy, GV có thể rèn luyện các thao tác tư duy, phép suy luận logic cho HS bằng phương pháp sau: [20] a. Tổ chức quá trình học tập sao cho trong từng giai đoạn xuất hiện các tình huống bắt buộc HS phải thực hiện các thao tác tư duy và suy luận logic mới có thể giải quyết vấn đề và hoàn thành nhiệm vụ học tập. Muốn được như vậy GV không được cung cấp các kiến thức cho HS và HS thì chỉ ghi chép một cách thụ động mà HS phải tự lực chiếm lĩnh các kiến thức mới, phải tích cực tham gia vào quá trình học tập. Những tình huống phổ biến trong đó HS phải thực hiện các thao tác tư duy là:  Nhận biết những dấu hiệu biểu thị đặc tính của sự vật, hiện tượng.  Tìm những yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến của hiện tượng hoặc gây ra một biến đổi trong tính chất của sự vật hiện tượng.  Xác định yếu tố nào là yếu tố quan trọng nhất tác động đến diễn biến của hiện tượng, của tính chất sự vật.  Tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau trong các sự vật hiện tượng.  Tìm những dấu hiệu chung, tính chất chung của nhiều sự vật, hiện tượng.  Rút ra kết luận chung sau khi quan sát nhiều hiện tượng, nhiều thí nghiệm.  Nhận biết những biểu hiện cụ thể trong thực tế của các khái niệm trừu tượng, những mối quan hệ thực chất.  Tìm mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng.  Dự đoán sự diễn biến của hiện tượng.  Giải thích một hiện tượng.  Bố trí một thí nghiệm để đo lường một đại lượng vật lý hay để kiểm tra một giả thuyết. Để xây dựng tình huống vật lý tốt trước hết GV phải xác định rõ kiến thức cần xây dựng, mức độ và yêu cầu của kiến thức đó đối với HS. Từ đó xây dựng những câu hỏi cơ bản và dự kiến được những khó khăn mà HS gặp phải khi trả lời câu hỏi. Muốn như vậy GV phải vừa căn cứ vào tri thức khoa học cần dạy vừa phải căn cứ vào các quan niệm, kiến thức đã có của HS liên quan đến kiến thức cần xây dựng. Trên cơ sở của điều kiện thứ nhất, GV phải soạn thảo được một tình huống có
  20. vấn đề giao cho HS. Đồng thời với việc soạn thảo tình huống có vấn đề GV phải chuẩn bị được các dữ liệu cung cấp và câu hỏi cho HS giúp HS nhận thấy rằng mình có thể giải quyết được nhiệm vụ được giao. Các câu hỏi thường dùng trong tình huống vật lý và các thao tác tư duy tương ứng được huy động khi HS trả lời: Các thao tác tư duy tương ứng Các câu hỏi thường dùng trong tình huống vật lý được huy động Quan sát thấy hiện tượng diễn biến như thế nào? Qua Phân tích những giai đoạn nào? Quan sát thấy một đại lượng vật lý, một tính chất của sự So sánh, khái quát hóa vật biến đổi như thế nào trong hiện tượng này, trong thí nghiệm này? Có gì giống nhau, khác nhau trong các thí nghiệm? So sánh Đối với các hiện tượng quan sát được có thể chỉ ra nguyên Trừu tượng hóa khái quát hóa nhân chung nào không? Có thể rút ra kết luận gì chung sau khi khảo sát các trường Khái quát hóa hợp nói trên? Trong những điều kiện cụ thể đã cho, ta có thể dự đoán Phân tích, so sánh, trừu tượng hiện tượng sẽ xảy ra như thế nào? Căn cứ vào đâu mà dự hóa, cụ thể hóa đoán được như vậy? Hiện tượng đang xem xét tuân theo định luật nào, quy tắc So sánh, phân tích nào? Giải thích vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế? Phân tích, so sánh Cần phải bố trí thí nghiệm như thế nào để tạo ra hiện tượng Phân tích, so sánh, cụ thể hóa mong muốn? Giữa đại lượng A và đại lượng B có mối quan hệ như thế Phân tích, so sánh, trừu tượng nào trong hiện tượng này? hóa, khái quát hóa Trên cơ sở của hai điều kiện trên GV dự định tiến trình định hướng giúp đỡ HS một cách hợp lí, phù hợp, đảm bảo cho HS giải quyết thành công từng bước một, điều này sẽ tạo cho HS một tâm trạng phấn khởi, kích thích cho HS giải quyết các nhiệm vụ khác cao hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tư duy của HS. Ngoài các điều kiện cơ bản trên GV cần lưu ý rằng một tình huống thích hợp là một tình huống có thể định hướng cho HS tự tìm tòi. Do đó, GV phải luôn có sự linh hoạt, luôn dựa vào đối tượng HS để có thể tổ chức, tìm ra được tình huống phù hợp với các đối tượng đó. Trong quá trình thảo
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2