intTypePromotion=3

Giáo trình bản đồ học part 6

Chia sẻ: Asdfada Asfsgs | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
174
lượt xem
74
download

Giáo trình bản đồ học part 6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bản đồ nước ta trước năm 2000 đều sử dụng múi chiếu Gauss, trong hệ thống múi 6o đối với các bản đồ có tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:25000, trong hệ thống múi 3o đối với các bản đồ có tỷ lệ  10.000. Từ tháng 7 năm 2000, Tổng cục Địa chính đã công bố và đưa vào sử dụng hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia VN-2000 – được áp dụng thống nhất để xây dựng hệ thống bản đồ địa hình và áp dụng trong việc triển khai các dự án (hoặc luận chứng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình bản đồ học part 6

  1. Bản đồ nước ta trước năm 2000 đều sử dụng múi chiếu Gauss, trong hệ thống múi 6o đối với các bản đồ có tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:25000, trong hệ thống múi 3o đối với các bản đồ có tỷ lệ  10.000. Từ tháng 7 năm 2000, Tổng cục Địa chính đã công bố và đưa vào sử dụng hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia VN-2000 – được áp dụng thống nhất để xây dựng hệ thống bản đồ địa hình và áp dụng trong việc triển khai các dự án (hoặc luận chứng kinh tế kỹ thuật) về đo vẽ bản đồ điạ hình với lưới chiếu toạ độ phẳng cơ bản là lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc UTM quốc tế. Lưới chiếu bản đồ được quy định như sau: + Sử dụng lưới chiếu h ình nón đồng góc với 2 vĩ tuyến chuẩn 11o và 21o đ ể thể hiện các bản đồ địa hình cơ bản ở tỷ lệ 1:1.000.000 + Sử dụng lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với múi chiếu 6o có hệ số đ iều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k0 = 0,9996 để thể hiện các bản đồ địa hình cơ bản tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:25.000. + Sử dụng lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với múi chiếu 3o có hệ số đ iều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k0 = 0,9999 để thể hiện các bản đồ địa hình cơ bản tỷ lệ từ 1:10.000 đến 1:2.000. - Sự phân mảnh: Để tiện sử dụng các bản đồ địa hình người ta phải thiết lập hệ thống phân mảnh và danh pháp chặt chẽ, trên cơ sở phân mảnh và danh p háp của bản đồ tỷ lệ 1:100.000 như đ ã trình bày ở mục 2.3 chương 2. Trong phép chiếu của bản đồ địa hình, các kinh tuyến và vĩ tuyến đ ược b iểu thị thành đường cong, nhưng độ cong của các kinh tuyến rất nhỏ, do đó trên tất cả các bản đồ địa hình đ ều thể hiện thành đường thẳng. Các đường vĩ tuyến trên các bản đồ tỷ lệ  1 :50.000 được thể hiện như những đường thẳng còn trên các bản đồ tỷ lệ  1 :100.000 được thể hiện là đường cong. 5 .1.3. Nội dung của bản đồ địa hình 111
  2. Các yếu tố cơ bản của nội dung bản đồ địa hình là: Thuỷ hệ, các đ iểm d ân cư; các đối tượng công nghiệp, nông nghiệp và văn hoá; mạnh lưới các đ ường giao thông; dáng đất, lớp phủ thực vật và thổ nhưỡng; các đường ranh giới... Tất cả các đ ối tượng nói trên đ ược thể hiện trên bản đồ địa hình với độ chi tiết cao và được ghi chú các đặc trưng chất lượng và số lượng. Khi sử d ụng b ản đồ địa hình thì việc định hướng có ý nghĩa quan trọng, do vậy các vật định hướng cũng là yếu tố tất yếu của nội dung bản đồ đ ịa hình. 1 - Địa vật định hướng: Đó là những đối tượng của khu vực, nó cho phép ta xác định vị trí nhanh chóng và chính xác trên bản đồ (ví dụ: các toà nhà cao, nhà thờ, cột cây số,...). Các địa vật định hướng cũng còn bao gồm cả một số địa vật không nhô cao so với mặt đất nhưng d ễ dàng nhận biết (ví dụ như: ngã 3, ngã 4 đ ường sá, các giếng ở ngo ài vùng dân cư...). 2 - Thuỷ hệ: Các yếu tố thuỷ hệ được biểu thị tỉ mỉ trên bản đồ địa hình. Trên bản đồ biểu thị các đường bờ biển, bờ hồ, bờ của các con sông lớn được vẽ bằng 2 nét. Các đường bờ nước được thể hiện trên bản đồ theo đúng đặc điểm của từng kiểu đường bờ. Trên b ản đồ biểu thị tất cả các con sô ng có chiều dài từ 1cm trở lên. N goài ra còn thể hiện các kênh đ ào, m ương mán, các nguồn nước tự nhiên và nhân tạo. Đồng thời còn p hải thể hiện các thiết bị thuộc thuỷ hệ (như các b ến cảng, cầu cống, trạm thủy đ iện, đập,...). Sự biểu thị các yếu tố thuỷ hệ còn được bổ sung bằng các đặc trưng chất lượng và số lượng (độ mặn của nước, đặc điểm và độ cao của đường bờ, độ sâu và độ rộng của sô ng, tốc độ nước chảy). Trên bản đ ồ, sô ng được thể hiện bằng một nét hay hai nét là phụ thuộc vào độ rộng của nó ở thực địa và tỷ lệ của bản đồ (b ảng 5.1) Bảng 5.1 112
  3. Độ rộng của sông ở thực địa (m) Biểu thị sô ng 1 :10.000 1:25.000 1:50.000 1:100.000 - 1 nét 60 rộng của sô ng 3 - Các điểm dân cư: Các điểm dân cư là một trong những yếu tố quan trọng nhất của bản đồ địa hình. Các điểm dân cư được đặc trưng bởi kiểu cư trú, số người và ý nghĩa hành chính – chính trị của nó. Theo kiểu cư trú, phân ra thành các nhóm: các thành phố, các điểm dân cư kiểu thành phố (khu công nhân, khu phố ven đường sắt, nơi nghỉ mát), các điểm dân cư nông thôn (thôn, ấp, nhà độc lập,...). Kiểu điểm dân cư được thể hiện trên bản đồ địa hình bằng kiểu chữ ghi chú tên của nó. K hi thể hiện các điểm dân cư trên bản đồ địa hình thì phải giữ đ ược đặc trưng của chúng về quy hoạch, cấu trúc. Trên các bản đồ tỷ lệ 1 :5000 có thể biểu thị được tất cả các vật kiến trúc theo kích thước của chúng, đồng thời thể hiện đặc trưng của vật liệu x ây dựng, độ rộng của các đ ường phố cũng được thể hiện theo tỷ lệ bản đồ. Trên bản đồ tỷ lệ 1:10.000 các điểm dân cư được biểu thị bằng ký hiệu q uy ước các ngôi nhà và các vật kiến trúc riêng biệt nhưng trong đó đã có sự lựa chọn nhất đ ịnh. Trong mộ t số trường hợp phải thay đổi kích thước mặt bằng và độ rộng của đường phố. Trên các bản đồ tỷ lệ từ 1:25.000 đến 1:100.000 thì sự biểu thị không phải chủ yếu là các vật kiến trúc riêng biệt mà là các ô phố, trong đó đặc trưng chất lượng của chúng cũng được khái quát. Trên bản đồ tỷ lệ 1:100.000 thì các ngôi nhà trong các ô phố không được thể hiện; sự biểu thị các đường phố với độ rộng 113
  4. quy định (0.5 – 0.8mm) có ảnh hưởng làm giảm diện tích của các ô phố trên bản đồ. Cần phải nhớ rằng, trên các bản đồ tỷ lệ 1:100.000 và lớn hơn biểu thị tất cả các điểm dân cư. 4 - Mạng lưới đ ường sá giao thông và đường dây liên lạc: Trên các bản đồ địa hình thì mạng lưới đường sá được thể hiện tỉ mỉ về khả năng giao thông và trạng thái của đường. Mạng lưới đường sá được thể hiện chi tiết hoặc khái lược là tuỳ thuộc vào tỷ lệ của bản đồ. Cần phải phản ánh đúng đắn mật độ của lưới đường sá, hướng và vị trí của các con đường, chất lượng của chúng. Đ ường sá được phân ra thành: đường sắt, đường rải mặt và đường đ ất. Các đường sắt được phân chia theo độ rộng của đ ường ray, theo số đường ray, trạng thái của đường, dạng đầu máy xe lửa,... Trên đường sắt phải biểu thị các nhà ga, các vật kiến trúc và các trang thiết b ị khác thuộc đường sắt (tháp nước, trạm canh, các con đường ngầm, các đ oạn đường đắp cao, cầu, cống,...). Các đường không ray được phân ra thành: - Các đường ôtô trục. - Các đường rải nhựa tốt. - Các đường nhựa thường. - Các đường đá tốt. - Các đường đất lớn. - Các đường đất nhỏ . - Đ ường mòn. Trên các bản đồ tỷ lệ 1:10.000 và lớn hơn biểu thị tất cả các con đ ường; trên các b ản đồ tỷ lệ 1:25.000 thì biểu thị có chọn lọc các con đường trên đ ồng ruộng và trong rừng ở những nơi mà đường sá có mật độ cao. Ở các tỷ lệ nhỏ hơn thì sự lựa chọn và khái q uát cao hơn. 114
  5. K hi lựa chọn phải xem xét đến ý nghĩa của đ ường sá. Phải biểu thị những con đ ường đ ảm b ảo m ối liên hệ giữa các đ iểm d ân cư với nhau, với các ga xe lửa, các bến tàu, sân bay và những con đường dẫn đến các nguồn nước... 5 - Dáng đất: Dáng đất trên bản đồ địa hình được biểu thị bằng các đường bình độ. Những yếu tố dáng đất mà đường bình độ không thể hiện được thì được biểu thị bằng các ký hiệu riêng (Ví dụ: vách đứng). Ngoài ra, trên bản đồ địa hình còn ghi chú độ cao. K hoảng cao đều của các đường bình độ trên b ản đồ được quy định như (bảng 5.2). Bảng 5.2 Kho ảng cao đều (m) K hoảng cao đều (m) Tỷ lệ Tỷ lệ N hỏ Trung Lớn N hỏ Trung Lớn bản đồ bản đồ nhất b ình nhất nhất b ình nhất 1:2000 0.5 1 2 1 :100.000 20 20 40 1:5000 1 2 5 1 :250.000 20 40 40 1:10.000 2.5 2 .5 5 1 :500.000 50 50 100 1:25.000 2.5 5 10 1 :1.000.000 50 100 200 1:50.000 10 10 20 Đ ể thể hiện đầy đủ các tính chất đặc trưng của địa hình, đặc biệt là đối với các vùng đồng bằng, người ta còn vẽ thêm các đường bình độ nửa khoảng cao đ ều và đường bình độ p hụ ở những nơi cần thiết. Khoảng cao đều lớn nhất thường chỉ dùng cho những vùng núi cao. Trước khi biên vẽ d áng đất thì phải xác đ ịnh rõ những đặc điểm chung và những dạng địa hình cơ b ản và đặc trưng của nó. 115
  6. Trên các bản đồ địa hình cần phải thể hiện chính xác và rõ ràng các dạng địa hình có liên quan đến sự hình thành tự nhiên của dáng đất như các dãy núi, các đỉnh núi, yên núi, thung lũng, các vách nứt, rãnh sói, đất trượt... và các dạng có liên quan với sự hình thành nhân tạo như chỗ đắp cao, chỗ đào sâu,... Sử dụng bản đồ có thể thu nhận được những số liệu về độ cao, về độ dốc với độ chính xác cao, đồng thời phải đảm bảo phản ánh đúng đắn sự cắt xẻ ngang và cắt xẻ đứng của bề mặt... Tổng quát hoá dáng đất tức là loại trừ các chi tiết nhỏ không quan trọng, đồng thời cho phép cường đ iệu các dạng địa hình đặc trưng do khô ng phản ánh đ ược đ ầy đ ủ khi chuyển từ khoảng cao đều của bản đồ tài liệu sang khoảng cao đ ều của bản đồ thành lập. 6 - Lớp phủ thực vật và đất: Trên các bản đồ địa hình biểu thị các lo ại rừng, b ụi cây, vườn cây, đồn đ iền, ruộng, đồng cỏ, cát, đất mặn. đầm lầy,... Ranh giới của các khu thực phủ và của các lo ại đất thì được biểu thị bằng các đường chấm; ở d iện tích b ên trong đường viền thì vẽ các ký hiệu quy ước đặc trưng cho từng lo ại thực vật hoặc đất. Ranh giới của các lo ại thực vật và đất cần đ ược thể hiện chính xác về p hương diện đồ hoạ; thể hiện rõ ràng những chỗ ngoặt có ý nghĩa định hướng. Các đầm lầy được phân biệt biểu thị các đầm lầy qua đ ược, các đ ầm lầy khó q ua và các đầm lầy không qua được, ngoài ra còn ghi độ sâu của đầm lầy. Rừng đ ược phân biệt biểu thị: Rừng già, rừng non, rừng rậm, rừng thưa, rừng b ị cháy, rừng bị đốn,... ghi rõ độ cao trung bình của cây, đường kính trung bình và loại cây. K hi biên vẽ thực vật và loại đất thì phải tiến hành lựa chọn và khái quát. V iệc chọn lọc thường dựa theo tiêu chuẩn kích thước diện tích nhỏ nhất của các đ ường viền được thể hiện lên bản đồ. Ở những nơi tập trung nhiều đ ường viền có diện tích nhỏ hơn tiêu chuẩn thì không được loại bỏ, mà phải thể hiện bằng cách kết hợp với các loại (đất hoặc thực vật) khác, hoặc gộp vào mộ t đ ường viền chung, ho ặc dùng ký hiệu q uy ước không cần đường viền. 7 - Ranh giới phân chia hành chính – chính trị: 116
  7. N goài đường biên giới quốc gia, trên các bản đồ đ ịa hình còn phải b iểu thị các địa giới của các cấp hành chính. Cụ thể là trên các bản đồ có tỷ lệ 1 :50.000 và lớn hơn thì biểu thị từ địa giới xã trở lên, trên bản đồ tỷ lệ 1 :100.000 thì không biểu thị đ ịa giới xã. Các đường ranh giới phân chia hành chính – chính trị đòi hỏi phải thể hiện rõ ràng, chính x ác. 5 .1.4. Thành lập các bản đồ địa hình trên cơ sở các tư liệu ảnh hàng không Thành lập các bản đồ địa hình có thể thực hiện bằng hai phương pháp: phương pháp đo vẽ và phương pháp nội nghiệp dựa trên các bản đồ có tỷ lệ lớn hơn. Trong đo vẽ bản đồ địa hình có 2 phương pháp cơ bản là: Đo vẽ ảnh hàng không và đo vẽ bằng bàn đạc. Trong một số trường hợp người ta còn ứng dụng phương pháp đo đạc chụp ảnh mặt đất. Thành lập bản đồ địa hình bằng đo ảnh hàng không có 2 phương pháp: p hương pháp đo ảnh lập thể và phương pháp phối hợp. Đo ảnh lập Phương pháp thể phối hợp Đo vẽ bằng Đo đ ạc chụp Đo vẽ ảnh bàn đạc ảnh mặt đất hàng không Phương pháp Phương pháp nội nghiệp đo vẽ BĐĐH Hình 5.1: Mô hình các phương pháp thành lập bản đồ địa hình Dưới đây chỉ giới thiệu khái lược về nội dung của từng phương pháp đo ảnh đó. 1 . Phương pháp đo ảnh lập thể: Bao gồm các quá trình sau: - Chụp ảnh hàng không - Đo đạc khống chế và đoán đọc ảnh ở thực địa 117
  8. - Đo vẽ các đ ường viền và dáng đất bằng phương pháp nội nghiệp. K hối lượng các công tác thực địa trong phương pháp đo ảnh lập thể b ao gồm: đo đạc khống chế của mạng lưới đo ảnh và đoán đọc ảnh ở thực địa hoặc là kiểm tra các kết quả đoán đọc ảnh ở trong phòng. V iệc đoán đọc ảnh ở trong phòng thì có thể tiến hành trên các ảnh hàng không, các sơ đồ hoặc bình đồ ảnh. Việc đoán đọc hoàn toàn ở thực địa thì chỉ tiến hành đ ối với những khu vực có vô số các đối tượng có ý nghĩa quan trọng. Đ ể đoán đọc các điểm dân cư lớn và các thành phố, người ta dùng các tấm ảnh đ ược chụp ở tỷ lệ lớn. K hi điều vẽ những khu vực không có ý nghĩa q uan trọng thì người ta thường tiến hành điều vẽ theo tuyến ở thực địa, sau đó tiến hành điều vẽ nội nghiệp. Bản đồ thường được xây dựng trên máy lập thể toàn năng. Nó được sử d ụng để tiến hành đo vẽ dáng đất, các đường viền và điều vẽ nội nghiệp. 2 . Phương pháp phối hợp: Theo phương pháp này thì các đối tượng địa vật của bản đồ sẽ nhận được trong kết quả xử lý và điều vẽ các tấm ảnh hàng không, còn dáng đ ất thì được đo vẽ ở thực địa bằng phương pháp bàn đạc. Việc đo vẽ dáng đất được tiến hành trên b ản chụp lại của bình đồ ảnh. Phương pháp phối hợp gồm các quá trình sau: - Tiến hành chụp ảnh hàng không - Đo đạc khống chế ở thực địa - N ắn ảnh và lập bản đồ ảnh - Đo vẽ dáng đất và điều vẽ các đường viền trên bản đồ ảnh. 5 .1.5. Thành lập các bản đồ địa hình bằng phương pháp trong phòng từ các bản đồ đ ịa hình có tỷ lệ lớn hơn Q uá trình thành lập các bản đồ địa hình trên cơ sở các bản đ ồ địa hình có tỷ lệ lớn hơn thì bao gồm các giai đoạn chính sau đây: 118
  9. - Công tác chuẩn bị biên tập - X ây dựng bản gốc biên vẽ - Chuẩn bị bản đồ để in 1 . Công tác chuẩn bị biên tập bản đồ : Bao gồm: - Thu thập và nghiên cứu các tư liệu bản đồ - N ghiên cứu khu vực lập bản đồ - Lập kế hoạch biên tập Các tư liệu dùng để thành lập bản đồ địa hình gồm có : Các số liệu trắc đ ịa, các bản đồ đ ịa hình, các sách và tạp chí...: + Các số liệu trắc địa: Đó chính là các to ạ độ m ặt phẳng và độ cao của các điểm khống chế. Tuỳ thuộc vào tỷ lệ và kiểu của b ản đồ cần thành lập mà các đ iểm trắc địa có vai trò khác nhau. Khi thành lập các bản đồ địa hình thì chúng là cơ sở để xác định vị trí của tất cả các yếu tố nội dung bản đồ. Khi thành lập các b ản đồ khái q uát thì các điểm khống chế được dùng để kiểm tra sự phân bố các tài liệu bản đồ địa hình gốc hoặc là để liên kết chúng với nhau. + Các tư liệu ở d ạng bản đồ b ao gồm: Các bản đồ in, các b ản chụp từ các b ản gốc biên vẽ và các b ản đồ gốc in. Đồng thời các ảnh chụp hàng không và các sơ đồ ảnh cũng thường được sử dụng. + Các tài liệu viết đ ược dùng để thành lập b ản đồ bao gồm: Những b ản m ô tả địa lý, những sách tra cứu (về phân chia các đơn vị hành chính,...), quy p hạm và ký hiệu quy ước cùng những tài liệu khác. V iệc phân tích và đánh giá các tài liệu cần phải đ ược tiến hành tỉ mỉ. Trên cơ sở p hân tích đánh giá, phân các tài liệu ra thành các tài liệu cơ bản, các tài liệu phụ và các tài liệu bổ sung: Các tài liệu cơ bản là các tài liệu mà từ đó thu nhận được tất cả các yếu tố nội dung cơ bản để chuyển sang b ản đồ cần thành lập. Tài liệu cơ b ản thường là các bản đồ địa hình có tỷ lệ lớn hơn. 119
  10. Các tài liệu phụ là những tài liệu dùng đ ể kiểm tra, chính xác ho á hoặc đ ể bổ sung một số yếu tố nội dung. Các tài liệu bổ sung là các tài liệu để người biên tập sử dụng nghiên cứu lãnh thổ, chính x ác hoá b ảng phân loại các yếu tố riêng biệt và thu nhận những đ ặc trưng số lượng và chất lượng. Nó có thể là p hần cơ bản hoặc phần p hụ trợ. Thông thường trong các xí nghiệp bản đồ có bộ phận tư liệu bản đồ làm nhiệm vụ thu thập các nguồn tư liệu b ản đồ một cách có hệ thống và phù hợp với kế hoạch chuyên môn của x í nghiệp. Bộ p hận tư liệu đồng thời còn p hải tiến hành các công tác trực nhật bản đồ, tức là phải ghi lại trên các bản đ ồ trực nhật những sự thay đổi trên thực địa về sự phân chia hành chính, các đ iểm d ân cư, thuỷ hệ, dáng đất, đường sá giao thông, lớp phủ thực vật và đ ất. Các bản đồ trực nhật là tài liệu quan trọng để thành lập bản đồ mới và hiệu chỉnh bản đồ. Trước khi đưa vào sử d ụng để thành lập bản đ ồ thì các tài liệu cần p hải đ ược kiểm tra xử lý . Đồng thời với việc thu thập, phân tích đánh giá các tư liệu bản đồ, cần phải tiến hành nghiên cứu khu vực lập bản đồ: Mục đích của việc nghiên cứu này là chỉ ra được những đặc điểm đặc trưng của khu vực cần phải thể hiện đúng trên bản đồ cần thành lập. Trước hết p hải tìm hiểu khu vực từ các tài liệu địa lý và các bản đồ tỷ lệ nhỏ, sau đó nghiên cứu các tư liệu bản đồ. Quá trình nghiên cứu khu vực và quá trình phân tích tư liệu bản đồ có liên quan và bổ sung lẫn nhau, do đó cần phải tiến hành p hân vùng lãnh thổ nhằm chỉ ra những phần có những cảnh q uan đ ịa lý khác nhau để q uyết định phương pháp tiến hành tổng quát hoá khi biên vẽ chúng. Trong giai đoạn cuối của công tác chuẩn bị biên tập, ngu ời biên tập phải lập kế hoạch biên tập, bao gồm những nội dung cơ b ản như: mục đích bản đồ, tỷ lệ, số mảnh, những đòi hỏi mà bản đồ cần thoả mãn, liệt kê những tài liệu và chỉ dẫn việc sử dụng các tài liệu đó; chỉ dẫn tổng quát hoá các yếu tố nội dung, công nghệ thành lập bản đồ. 120
  11. K èm theo kế ho ạch biên tập còn có sơ đồ sử dụng tài liệu, sơ đồ bố cục, sơ đồ lựa chọn nội dung, bản ký hiệu quy ước và mẫu biên vẽ bản đồ. 2 . Xây dựng bản đồ gốc biên vẽ và công tác biên tập kiểm tra: a . Xây d ựng bản gốc biên vẽ:  Để xây dựng bản gốc biên vẽ thì phải dựa vào bản thiết kế cuả bản đồ cần lập, hay nói cách khác là d ựa vào kế hoạch biên tập. Bản gốc biên vẽ phải thoả mãn những đòi hỏi sau: - Phải thể hiện tất cả các yếu tố của nội dung bản đồ thật đầy đủ và phù hợp với kế hoạch biên tập. - Phải được xây dựng ở tỷ lệ của bản đồ cần thành lập. - Phải được xây dựng trên phép chiếu đã quy định. - Phải đảm bảo độ chính xác phù hợp với các quy định về ghi chú cũng như các quy ước... Trên bản biên vẽ thì các diện tích nền màu thường không thể hiện, trừ việc tô màu lam để thể hiện m ặt nước. Những yếu tố mà trên b ản đồ xuất b ản đ ược in bằng màu lam ho ặc tím thì trên bản biên vẽ được vẽ bằng màu khác. Đ ể tránh biến dạng thì bản đồ gốc phải được vẽ trên loại giấy tránh được sự co dãn. Các bước xây dựng bản đồ gốc biên vẽ: - Tính toán cơ sở toán học - D ựng cơ sở toán học - Chuẩn bị tài liệu bản đồ để biên vẽ. - Tiến hành vẽ các yếu tố nội dung. D ưới đây sẽ trình bày cụ thể về các bước xây dựng bản biên vẽ của bản đồ địa hình: 1- Tính toán cơ sở toán học: 121
  12. Các bản đồ địa hình của nước ta hiện nay được lập trong hệ VN -2000 với lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc UTM trong hệ thống múi 6o đối với bản đồ có tỷ lệ từ 1:10.000 đến 1:2000 và trong hệ thống múi 3o đối với bản đồ có tỷ lệ 1 :500.000 đ ến 1:25.000. Để xây dựng cơ sở toán học của bản đồ địa hình, trước hết cần phải tra bảng toạ độ Gauss- Kruger để xác định toạ độ của các điểm góc khung. Đối với các bản đồ tỷ lệ 1:10.000 và nhỏ hơn thì ngoài 4 điểm góc khung còn cần một số điểm trung gian trên khung bắc và khung nam bản đồ. 2 - Dựng cơ sở toán học: V iệc dựng cơ sở toán học của bản đồ địa hình thì bao gồm: dựng khung của bản đồ, dựng lưới km và đưa các điểm khống chế lên bản đồ. Ngày nay, công cụ thông dụng nhất để dựng cơ sở toán học của bản đồ là máy triển toạ độ. Trong trường hợp không có máy triển toạ độ thì người ta có thể sử dụng các công cụ như thước Đrobưsep, compa xà ngang, thước thép tiêu chuẩn. 3 - Các phương pháp kỹ thuật xây dựng bản biên vẽ: Ngày nay, để xây dựng bản biên vẽ, người ta dùng các phương pháp sau đây: - Phương pháp cơ ảnh. - Dùng các máy chiếu hình. - Dùng thước thu phóng đồng dạng Pantôgrap. - Dùng ô lưới.  Phương pháp cơ ảnh: Phương pháp cơ ảnh thuộc loại biến đổi đồng dạng. Nó là phương pháp cơ bản hiện nay trong sản xuất bản đồ, đặc biệt là sản x uất bản đồ địa hình. Phương pháp này có ưu điểm là đảm bảo độ chính xác cao, tiến hành nhanh. Nó đ ược tiến hành theo trình tự sau: 122
  13. - Chụp ảnh bản đồ tài liệu theo tỷ lệ cần thiết và nhận được âm bản chụp. Trước khi chụp ảnh phải xử lý các bản đồ tài liệu gốc và xác định chính xác kích thước chụp ảnh. - Từ âm bản chụp chế ra các bản in lam trên giấy vẽ. Kích thước bản in lam không được sai quá 0.2 – 0.3 mm so với kích thước tính toán. - Chọn bản lam có kích thước và chất lượng đạt yêu cầu để dán lên b ản cơ sở toán học đã chuẩn bị sẵn trên nền cứng. Quá trình cắt dán dựa theo các đ iểm khung, khung bản đồ, lưới kilômét và các điểm khống chế. Trên bản lam ở 1 số chỗ giao nhau của lưới km người ta trổ các lỗ hổng sao cho có thể nhìn thấy các đường của lưới km trên bản cơ sở. Bản lam được cắt theo khung trong rồi dán lên b ản cơ sở sao cho các điểm và các đường tương ứng trên bản lam và b ản cơ sở trùng nhau. Bản lam đã cắt dán phải đạt được những yêu cầu cao về m ặt kỹ thuật, độ sai lệch không vượt quá 0.2mm, bản lam phẳng, sạch, không b ị bong. Trong nhiều trường hợp, để đảm bảo cho độ sai lệch không vượt quá q uy định, người ta phải cắt bản lam ra thành một số phần rồi mới tiến hành dán. Sau đó, người biên vẽ bản đồ tiến hành biên vẽ các yếu tố nội dung trên b ản lam đó theo đúng những nguyên tắc và phương pháp tổng quát hoá đã chỉ rõ ở kế hoạch biên tập. Trong trường hợp phép chiếu của bản đồ tài liệu và phép chiếu của bản đồ cần thành lập khác nhau, để có thể ứng dụng được phương pháp cơ ảnh, người ta phải nắn hình biểu thị trên bản đồ tài liệu bằng các máy nắn, sau đó m ới có được bản lam theo phép chiếu bản đồ cần thành lập.  Phương pháp dùng máy chiếu quang học Đ ể xây dựng bản đồ gốc có thể dùng máy chiếu quang học. Máy chiếu quang học có nhiều d ạng khác nhau. Để làm ví dụ, ở đ ây chỉ giới thiệu sơ bộ máy chiếu phản xạ (hình 5 .2). Máy chiếu phản xạ dùng đ ể chiếu hình 123
  14. ảnh từ nguyên bản không trong suốt lên màn ảnh. Theo sơ đồ ta có: bản đồ tài liệu 1 được gắn lên cửa sổ của buồng tối và được chiếu sáng bởi nguồn sáng 2 các tia phản xạ chiếu vào gương 3. Từ gương, các tia phản xạ chiếu vào kính vật và chiếu hình ảnh lên bàn nhận ảnh 4, trên đó đặt bản vẽ. Đ ể xác định đúng tỷ lệ hình ảnh, người ta điều chỉnh khoảng cách từ kính vật đến màn ảnh. Người biên vẽ dựa theo hình ảnh chiếu để tiến hành biên vẽ. Phuơng pháp quang học đơn giản nhưng độ chính xác thấp. Nó không đ áp ứng những đòi hỏi về độ chính x ác trong sản xuất bản đồ .  Dùng thước thu phóng pantôgrap Thu nhỏ hoặc phóng to hình vẽ của b ản đồ tài liệu có thể dùng thước thu p hóng p antôgrap. Thước gồm 4 thanh dài bằng nhau, được gắn với nhau bởi các ốc và tạo nên một hình bình hành dễ biến đổ (hình 5 .3). Hình 5.3~ H43 –T116-BG BĐH Đ iểm A là cực của thước thu phóng, đó là trục quay. Tại M có gắn một kim dẫn dùng để di động theo đường nét cần chuyển vẽ. Tại K có một ốc nối có gắn bút chì để chuyển động lặp lại theo chuyển động của kim d ẫn và vẽ lại hình ảnh (thu nhỏ ) của bản đồ tài liệu. Trên các thanh AM, CD và BH người ta có khắc các vạch chia đ ều millimét. Thước thu phóng có 2 dạng: điểm cực A ở tại đỉnh của hình bình hành (lo ại này chỉ đ ể thu nhỏ) hoặc điểm cực A được xác định trên thanh CD (loại này có thể thu nhỏ hoặc phóng to hình vẽ). Các yếu tố đặt thước khi chuyển vẽ được xác định theo công thức sau: 1 Trong đó: 1 /n: Tỷ lệ của bản đồ cần lập y n d 124 1 N
  15. 1 /N: Tỷ lệ của b ản đồ tài liệu d : Độ dài của mỗi thanh y = AC = KC = BD Phương pháp dùng thước pantôgrap thì đơn giản nhưng đ ộ chính xác thấp. Nó chỉ được dùng đ ể lập các sơ đồ đơn giản.  Phương pháp ô lưới K ỹ thuật biên vẽ theo ô lưới rất đ ơn giản. Trước hết, trên bản đồ tài liệu và trên bản đồ cơ sở của bản biên vẽ ta thiết lập mạng ô lưới tương ứng. Trong trường hợp biến đổi đồng dạng thì tốt nhất là dùng lưới ô vuông. Cạnh của ô lưới trên b ản biên vẽ có kích thước ở trong khoảng 3 – 5 mm. K hi biên vẽ theo ô lưới thì phải chú ý và thận trọng trong việc dựng ô lưới và trong quá trình ước lượng bằng mắt và chuyển vẽ các yếu tố nội dung trong phạm vi mỗi ô. b. Sao tiếp biên và ghi lý lịch bản đồ: K hi thành lập bản đồ nhiều mảnh, nội dung của các mảnh liền nhau dọc theo khung phải có sự phù hợp lẫn nhau. Từ bản gốc biên vẽ của các mảnh cạnh nhau, người ta sao lại 1 dải có chiều rộng 1.5 – 2 cm dọc theo các khung của 2 mảnh đó (thường sao trên giấy can). Đem mảnh giấy can vừa sao đặt lên khung của mảnh b ên cạnh để đối chiếu (gọi là tiếp biên). Nếu các đường nét không phù hợp với nhau thì phải đối chiếu với bản đồ tài liệu để sửa chữa. Lý lịch b ản đồ là tài liệu viết về cô ng tác đã thực hiện trong quá trình x ây d ựng bản biên vẽ. Trong lý lịch bản đồ phải ghi tỉ mỉ những vấn đ ề như: chuẩn b ị tài liệu bản đồ, tính toán và dựng lưới bản đồ , các phương pháp thành lập b ản biên vẽ, biên vẽ các yếu tố nội dung. Ngo ài ra còn ghi rõ ngày, tháng bắt đ ầu và kết thúc từng giai đoạn công tác, chức vụ và họ tên của những người thực hiện c. Công tác biên tập và kiểm tra : Trong quá trình thành lập bản đồ thì người biên tập phải tiến hành các công tác biên tập. Đó là sự chỉ đạo khoa học - kỹ thuật trong tất cả các giai đoạn thành 125
  16. lập bản đồ và tiến hành kiểm tra, nghiệm thu các bản gốc biên vẽ và các bản gốc in. Công tác kiểm tra có ý nghiã vô cùng quan trọng trước khi in ấn và giao nộp bản đồ vì nó đ ảm bảo cho bản đồ thành lập có chất lượng cao, có các dạng kiểm tra sau: - Tự kiểm tra: Bản thân người thực hiện công việc phải thường xuyên tự kiểm tra trong quá trình đang làm và khi kết thúc nhằm kịp thời phát hiện và sửa chữa những chỗ sai. - Biên tập kiểm tra: Người biên tập thường x uyên kiểm tra sự đúng đ ắn của việc thực hiện các công việc. - Ban kiểm tra có nhiệm vụ xác định sự phù hợp của bản biên vẽ so với những yêu cầu của các văn bản biên tập và kế hoạch biên tập, đồng thời p hát hiện và chỉ ra những sai sót. Trên đây đã trình bày một số nét về xây dựng bản gốc biên vẽ đối với bản đồ truyền thống. Đối với bản đồ dạng số, chúng ta có những quy định kỹ thuật riêng, nên tham khảo cuốn “Quy định kỹ thuật số hoá bản đồ địa hình” do Tổng cục địa chính ban hành năm 2000. Bản đồ dạng số này có thể hiển thị trên màn hình của máy tính (để xem, kiểm tra, báo cáo) cũng có thể được ghi vào băng đĩa từ (VCD). Nếu nối máy tính điện tử với mãy vẽ (ploter) có thể in ra bản đồ trên giấy, điamát, trên vật liệu ảnh (tạo ra bản đồ dạng truyền thống) hoặc nối với máy khắc tạo ra các khuôn in. Bản đồ được thành lập bằng phần mềm đồ hoạ Coreldraw còn có khả năng nối với máy in ảnh để tạo ra các phim tách màu (phục vụ cho giai đoạn chuẩn bị in). 5 .1.7. Hiệu chỉnh các bản đồ địa hình Theo thời gian thì nội dung của các b ản đồ địa hình càng trở nên không p hù hợp với thực tế khách quan và cần phải hiệu chỉnh. a . Hiệu chỉnh bản đồ H iệu chỉnh bản đồ thực chất là làm cho nội dung của nó phù hợp với tình trạng hiện tại của đối tượng bản đồ bằng cách tiến hành tu sửa có tính chất cục 126
  17. bộ, điều tra bổ sung và chỉnh sửa ở những khu vực bị biến động cho những đối tượng bị thay đổi để nội dung bản đồ ngày càng sát thực, sử dụng làm b ản in m ới của bản đồ. - Tốc đ ộ “cũ hóa” của bản đồ thì phụ thuộc vào các điều kiện của khu vực. Bản đồ của những vùng mới xây dựng và có sự p hát triển m ạnh m ẽ về kinh tế thì sẽ bị cũ ho á nhanh. Quyết định về việc tiến hành hiệu chỉnh thì p hải trên cơ sở nghiên cứu những biến đổi của khu vực, tầm quan trọng của những đối tượng biến đổi, mức độ hiện thời của b ản đồ... - Bản đồ cần hiệu chỉnh trong các trường hợp sau: + Sự thay đổi của các đường ranh giới hành chính các cấp và ranh giới quốc gia. + Sự xuất hiện của các điểm dân cư mới hoặc sự thay đổi của điểm dân cư cũ. +Xây dựng các tổ hợp mới và mở rộng đáng kể các tổ hợp công nghiệp đã có. + Sự xuất hiện của các đường trục chính,... Các bản đồ địa hình được hiệu chỉnh theo một trình tự nhất định. Trước hết hiệu chỉnh các b ản đ ồ tỷ lệ lớn nhất, sau đó căn cứ vào các b ản đ ồ đã hiệu chỉnh tiến hành lần lượt hiệu chỉnh các bản đồ khác. b . Các hệ thống hiệu chỉnh bản đồ Trong sản x uất bản đồ, có 2 hệ thống hiệu chỉnh chủ yếu: + H iệu chỉnh theo chu kỳ: Các b ản đồ được hiệu chỉnh sau 1 khoảng thời gian nhất định. Phụ thuộc vào cường độ thay đổi các yếu tố nội d ung bản đồ ngoài thực địa, tỷ lệ bản đồ, ý nghĩa của khu vực đối với nền kinh tế quốc dân mà chu kì hiệu chỉnh dao động từ 6 đến 15 năm. Ở những vùng quan trọng nhất thì sự hiệu chỉnh được được tiến hành từ 6 – 8 năm, còn đối với những vùng khác là 10 – 15 năm. + H iệu chỉnh thường xuyên: Thực chất là hiệu chỉnh cập nhật những biến động cho những khu vực đặc biệt quan trọng và cho bản đồ hàng hải, kết quả hiệu chỉnh sẽ được ghi lại trong nhật kí bản đồ. 127
  18. Để tiến hành, người ta phải tổ chức hệ thống thu nhận những thông tin về sự biến đổi của khu vực. Những thay đổi đó được thể hiện lên các tài liệu trực nhật. Sau khi có một số lượng nhất định những thay đổi thì tờ bản đồ được hiệu chỉnh. c. Các phương pháp hiệu chỉnh - Có 4 phương pháp hiệu chỉnh chủ yếu: + Hiệu chỉnh trực tiếp ngoài th ực địa: Có nghĩa là đem bản đồ cũ ra ngoài thực địa đối chiếu với khu vực biến động rồi d ùng dụng cụ đo đạc trực tiếp và bổ sung lên bản đồ. + H iệu chỉnh bản đồ dựa trên tư liệu ảnh hàng không và vệ tinh : Có thể tiến hành b ằng cách sử dụng các bản đồ ảnh, các tấm ảnh đ ã nắn, cùng với việc sử dụng b ản đồ gốc. + Hiệu chỉnh nội nghiệp dựa vào những bản đồ có tỷ lệ lớn h ơn mới thành lập hoặc mới hiệu chỉnh. + Phương pháp kết hợp : Đươc sử d ụng trong trường hợp có đầy đủ các tư liệu bản đồ ở tỷ lệ lớn, tư liệu ảnh viễn thám, máy móc, nhân lực có thể đo đ ạc trực tiếp ngo ài thực địa thì sử dụng ph ương pháp kết hợp sẽ mang tính hiệu q uả cao nhất về kinh tế xã hội. - Việc lựa chọn phương pháp hiệu chỉnh phụ thuộc vào nhiều nhân tố: tỷ lệ bản đồ, đặc điểm điều kiện tự nhiên, các tư liệu gốc được sử dụng để hiệu chỉnh: Phương pháp cơ bản đ ể hiệu chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:100.000 là p hương pháp hiệu chỉnh theo ảnh hàng không. Để hiệu chỉnh các bản đồ địa hình khái quát thì tốt nhất là dùng phương pháp hiệu chỉnh theo các bản đồ có tỷ lệ lớn hơn và hiệu chỉnh theo ảnh chụp vũ trụ. H iệu chỉnh các bản đồ gốc bằng cách đo vẽ ở thực địa thì chỉ tiến hành trong trường hợp không có điều kiện để ứng dụng 2 phương pháp trên. 128
  19. - Dưới đây là một số nét tổng quan về phương pháp hiệu chỉnh theo ả nh hàng không: Khi hiệu chỉnh bản đồ theo ảnh hàng không có thể tiến hành bằng cách sử dụng các bình đồ ảnh, các tấm ảnh đã nắn, cùng với việc sử dụng bản sao bản đồ gốc trên nền trong và các bản sao nâu hoặc đen từ các bản đồ gốc đó. N hững vấn đề quan trọng nhất khi hiệu chỉnh bản đồ theo ảnh hàng không đó là từ các tấm ảnh x ác đ ịnh được những biến đổi của thực địa, đo án đọc ảnh ở những nơi có b iến đ ổi, chuyển những biến đổi lên bản gốc ho ặc b ản sao. Để làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh bản đồ địa hình thường phải sử dụng các bình đồ ảnh được lập từ các tấm ảnh hàng không mới chụp, các bản sao nét của các bản gốc in của bản đồ cần hiệu chỉnh được lập trên nền trong, các bản sao nét của các bản đồ gốc in được lập trên giấy ảnh và dán trên nền cứng. Các bản sao nét (nâu, xanh) của các bản gốc in được lập trên giấy và dán trên nền cứng. Bình đồ ảnh, bản gốc in hoặc bản sao nét của nó được dùng để hiệu chỉnh thì gọi là bản gốc hiệu chỉnh. Sau đó các bản gốc hiệu chỉnh có thể đóng vai trò b ản gốc biên vẽ hoặc bản đồ gốc in. Nếu những thay đổi không nhiều (10 – 15%) thì việc tu sửa được tiến hành trên bản thanh vẽ, bản gốc hiệu chỉnh sau khi tu sửa sẽ trở thành bản gốc in. Nếu có số lượng lớn những thay đổi (từ 40 – 45%) sau khi tu sửa, bản gốc hiệu chỉnh đóng vai trò bản gốc biên vẽ và được chuyển sang bộ phận chuẩn bị in. Công nghệ và việc tổ chức các công tác hiệu chỉnh b ản đồ chỉ đ ược xác đ ịnh sau khi nghiên cứu cơ sở trắc địa của b ản đồ cần hiệu chỉnh, những đặc đ iểm khu vực và những thay đổi đã xảy ra trên đó, chất lượng của các tư liệu ảnh hàng không được dùng để hiệu chỉnh. Q uá trình hiệu chỉnh bản đồ bao gồm một số giai đoạn sau: + Các công tác chuẩn bị: Lựa chọn các tài liệu gốc để hiệu chỉnh; kiểm tra đ ộ chính xác của bản đồ cần hiệu chỉnh và xác định những đặc trưng của 129
  20. những biến đổi xảy ra ở khu vực; xây dựng được các phương án kỹ thuật và các chỉ thị biên tập về hiệu chỉnh bản đồ. + Công tác hiệu chỉnh trong phòng: Chuẩn bị các bản sao nét từ các tài liệu bản đồ dùng để hiệu chỉnh; tăng d ày mạng lưới đo ảnh, lập bình đồ ảnh hoặc phóng các tấm ảnh sang tỷ lệ cần thiết, đo án đ ọc ảnh; hiệu chỉnh nội d ung b ản đồ, lập phương án công tác ngoài thực địa. + Công tác thực địa: Đo vẽ lên b ản đồ những đối tượng không nhìn thấy trên ảnh hoặc xuất hiện sau thời điểm chụp ảnh; kiểm tra ở thực địa những đối tượng khó đoán đọc trong phòng; thu thập các tên gọi và các đặc trưng chất lượng và số lượng của các đối tượng. Sau giai đoạn công tác thực địa, phải tiến hành viết lý lịch cho từng m ảnh bản đồ đ ược hiệu chỉnh. 5 .2. Bản đồ địa hình khái quát Bản đồ địa hình khái quát là bản đồ địa lý chung có tỷ lệ từ 1:200.000 đ ến 1:1.000.000. Chúng có những đặc tính cơ bản của các bản đồ địa h ình, nhưng do tỷ lệ nhỏ hơn nên mức độ tỉ mỉ của nội dung và độ chính xác thấp h ơn. 5 .2.1. Bản đồ địa hình khái quát tỷ lệ 1:200000 Bản đồ 1:200.000 trước năm 2000 được thành lập trong phép chiếu G auss, được chia mảnh từ bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000. Các mảnh bản đồ là những khung hình thang có kích thước  = 40’ và  = 10. Tuy nhiên theo quyết định số 83/2000/QĐ-Ttg ban hành ngày 12/7/2000, quy định sử dụng lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc UTM quốc tế với múi chiếu 60 để thể hiện các bản đồ đ ịa hình cơ bản tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:25.000 . Người ta không chia thành b ản đồ tỷ lệ 1:200.000 như trước đây mà từ b ản đồ 1:500.000 chia mảnh thành b ản đồ tỷ lệ 1:250.000., có kích thước khung là 10x1.50. Dù là bản đồ tỷ lệ 1:200.000 hay bản đồ tỷ lệ 1:250.000 thì nó vẫn b ao gồm tất cả các yếu tố nội dung của bản đồ địa hình nhưng mức độ tổng q uát 130

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản