intTypePromotion=1

Giáo trình bản đồ học part 7

Chia sẻ: Asdfada Asfsgs | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
126
lượt xem
50
download

Giáo trình bản đồ học part 7

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bản đồ này đáp ứng nhiều nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và quốc phòng. Nó được dùng để dự tính khi lập kế hoạch và thiết kế các công trình công nghiệp lớn, các công trình giao thông lớn; dùng để đánh giá chung về lãnh thổ, dùng làm bản đồ hàng không, để giải quyết nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Bản đồ 1:500.000 được thành lập trong lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với múi chiếu 60 có hệ số điều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k0= 0.9996. Các mảnh bản...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình bản đồ học part 7

  1. Bản đồ này đáp ứng nhiều nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và quốc phòng. Nó được dùng để dự tính khi lập kế hoạch và thiết kế các công trình công nghiệp lớn, các công trình giao thông lớn; dùng để đánh giá chung về lãnh thổ, dùng làm bản đồ hàng không, để giải quyết nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Bản đồ 1:500.000 được thành lập trong lưới chiếu hình trụ ngang đ ồng góc với múi chiếu 60 có hệ số điều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k0= 0.9996. Các mảnh bản đ ồ có dạng hình thang. Trên bản đồ địa hình khái q uát cũng biểu thị các yếu tố nội dung sau: a - Thuỷ hệ: K hi biên vẽ thuỷ hệ trên bản đồ này, cần p hản ánh đ ược đặc trưng hình d ạng của các đường bờ và đặc đ iểm địa lý của chúng, mật độ tương đối của m ạng lưới sông ngòi; đặc điểm phân bố của các hồ ; đ ặc điểm uốn khúc của sông, đặc điểm các bãi bồi, biểu thị các kênh đào và các công trình thuỷ lợi. Trên bản đồ chủ yếu là vẽ các con sông có độ dài  1.5 cm. Để phản ánh đ ặc điểm riêng của một số khu vực thì có khi phải vẽ những con sông có độ dài nhỏ hơn. Ở những nơi có mật độ sông ngòi q uá dày đặc, thậm chí cũng có thể lo ại bỏ một số con sông có độ dài  1.5 cm. Trên bản đồ còn vẽ các đường biển. Chỉ rõ các đoạn sô ng nào mà tàu bè q ua lại được. Biểu thị tất cả các kênh có thể cho tàu thuyền đ i được. Các kênh khác thì được biểu thị có chọn lọc. Trên b ản đồ vẽ các đảo có d iện tích  1mm2. Ở những nơi tập trung nhiều đảo nhỏ thì chúng được biểu thị bằng cá chấm điểm. Trên bản đồ vẽ các hồ có diện tích từ 2 mm2 trở lên. Để p hản ánh được đúng m ật độ phân bố của các hồ thì ở một số trường hợp có thể phải vẽ một số hồ có diện tích trên b ản đồ < 2 mm2. Trên bản đồ phải ghi chú các yếu tố thuỷ văn. b - Các điểm dân cư: Trên bản đ ồ 1:500.000, các điểm dân cư cũng đ ược đặc trưng theo kiểu cư trú, theo ý nghĩa hành chính - chính trị và số dân: 133
  2. - Biểu thị tẩt cả các thành phố, các vùng dân cư kiểu thành phố, các trung tâm hành chính (từ huyện lỵ trở lên), các vùng dân cư quan trọng ở nông thôn. Đối với các vùng dân cư còn lại thì tiến hành lựa chọn phù hợp với chỉ tiêu lựa chọn đã q uy đ ịnh đối với từng vùng. - Đ ể phản ánh các kiểu cư trú và số dân người ta dùng các kiểu chữ với kích thước khác nhau đ ể ghi chú. c- Đường sá giao thông: Các tuyến đường sắt được phân cấp theo độ rộng của đường ray, số đ ường ray, dạng sức kéo, trạng thái của đường. Các đường bộ không ray được biểu thị theo các cấp; đường ô tô trục, đ ường nhựa tốt, đường nhựa, đường đá, đường đất ô tô đ i được, đường đi trên đồng ruộng, đường trong rừng, đường mòn. Trên bản đồ biểu thị tất cả các đường sắt rộng. Đối với những đường sắt hẹp thì chủ yếu biểu thị những đường có độ dài lớn hơn 2cm trên bản đồ. Ở những vùng có lưới đường sắt dày đặc thì thậm chí có thể lược b ỏ một số đ ường có chiều dài >2cm. Trên đường sắt phải biểu thị các nhà ga, các đ ường tránh tàu. Biểu thị tất cả các đường ôtô trục và các đường nhựa tốt. Ở những vùng có mật độ đ ường sá dày đặc có thể bỏ một số đường nhựa ngắn ít quan trọng. Ở những vùng có ít đường nhựa thì phải biểu thị tất cả những đường đá loại tốt. Đường đất chỉ biểu thị ở những vùng không có đường cấp cao hơn. Các đường trên đồng ruộng và đường rừng chỉ được biểu thị ở những vùng đường sá rất kém phát triển. d - Dáng đất: D áng đất được biểu thị bằng các đường bình độ với khoảng cao đều 50m cho vùng đồng bằng và 100m cho vùng núi. Ngoài ra còn sử dụng đường bình độ nửa kho ảng cao đều và đường bình độ phụ ở những nơi cần thiết. Trên bản đồ còn biểu thị các điểm độ cao đặc trưng. Ngoài ra còn dùng các ký hiệu riêng để thể hiện các yếu tố địa hình không thể hiện đ ược bằng đ ường b ình độ. 134
  3. Đ ể phản ánh trực quan, có khi người ta còn dùng phương pháp vờn bóng đ ịa hình và tô m àu theo các tầng độ cao. D áng đất đ áy b iển đ ược biểu thị theo thang tầng độ sâu: 10, 20, 50, 100, 150, 200, 300, 400, 500, 700, 1500, 2000. Ngoài ra còn ghi các điểm độ sâu. e- Thực vật và đ ất: Thực vật và đất thì được biểu thị với các loại sau đây: Rừng, rừng bụi rậm, các vườn cây trồng, đầm lầy, bãi cát, bãi đá, vùng đất m ặn. K hi biên vẽ thì cần p hải p hản ánh được đặc điểm phân bố và tương quan d iện tích của các loại thực vật và đ ất khác nhau. Tiêu chuẩn lựa chọn của rừng là 10 mm2, của bãi cát là 1 cm2, của đầm lầy và vùng đ ất mặn là 25 mm2. g - Ranh giới: Trên b ản đồ 1:500.000 thì các đường ranh giới hành chính – chính trị đ ược vẽ từ cấp huyện trở lên. Khi vẽ đường ranh giới thì phải đảm b ảo độ chính xác hình học trong phạm vi tỷ lệ b ản đồ cho phép. Ngoài các nội dung kể trên, bản đồ 1:500.000 còn được dùng để làm bản đồ bay cho nên trên đó còn cần phải thể hiện các số liệu giao thông hàng không như các điểm và các đường dị thường, độ lệch nam châm, các đường đẳng từ thiên. 5 .2.3. Bản đồ địa hình khái quát tỷ lệ 1:1000 .000 Bản đồ này cũng đáp ứng nhiều nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và quốc phòng: - Nghiên cứu cấu trúc bề mặt và các điều kiện tự nhiên của các vùng rộng lớn. - Lập kế hoạch và dự thảo các phương án có tính chất an toàn về khai thác lãnh thổ và sử dụng các tài nguyên thiên nhiên. - Làm bản đồ bay. - Sử dụng làm tài liệu để thành lập các bản đồ địa lý chung tỷ lệ nhỏ và các bản đồ chuyên đề... Ở nước ta hiện nay, bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 được thành lập trong phép chiếu hình nón đồng góc với 2 vĩ tuyến chuẩn 110 và 210. Cách thức chia múi và 135
  4. phân mảnh hệ thống bản đồ địa hình này theo hệ thống UTM quốc tế, danh pháp tờ bản đồ theo hệ thống hiện hành có chú thích danh pháp UTM quốc tế. Kích thước mỗi mảnh bản đồ là  = 40 và  = 60. Trên bản đồ các đường kinh tuyến và vĩ tuyến được vẽ cách nhau 10. Bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 biểu thị các yếu tố: Thuỷ hệ, dân cư, đường sá giao thông, dáng đất, ranh giới hành chính, chính trị, lớp phủ thực vật và đất. a- Thuỷ hệ: Trên bản đồ thể hiện những yếu tố sau: - Thể hiện bờ biển, sông ngòi, hồ và những thiết bị thuộc thuỷ hệ. - Phản ánh những đặc điểm cơ bản của các kiểu bờ biển, đặc điểm phân cắt và mức độ khúc khuỷu của nó, đặc trưng các dải gần bờ (các bãi cát, đảo, ...). - Thể hiện đặc điểm của từng hệ thống sông, thể hiện các sông chính, đặc điểm uốn khúc của sông, mật độ tương đối của mạng lưới sông ngòi. Đối với những vùng có mật độ sông ngòi trung bình thì vẽ các con sông có độ dài 1.5cm trở lên, ở vùng sông ngòi thưa thớt thì có thể vẽ những con sông < 1.5cm. Đối với những vùng có sông ngòi dày đặc thì có khi cũng phải loại bỏ 1 số sông có độ dài 2 – 3 cm. Các hồ và các bể chứa nước được vẽ nếu diện tích > 2 mm2, các hồ nhỏ chỉ thể hiện ở những nơi chúng tập trung dày đặc. Trên bản đồ cần chỉ rõ nhừng đoạn sông tàu qua lại được. Các kênh đào cho tàu qua lại thì vẽ tất cả, còn các kênh để tưới tiêu thì được thể hiện có chọn lọc. b- Dân cư: Các điểm dân cư được phân chia theo kiểu cư trú thành phố, kiểu thành phố, nông thôn theo số người và theo ý nghĩa hành chính chính trị. Trên bản đồ biểu thị tẩt cả các thành phố, điểm dân cư kiểu thành phố cũng thường được vẽ tất, chỉ ở những nơi chúng tập trung dày đ ặc thì mới cần có sự lựa chọn. 136
  5. Các điểm dân cư có diện tích lớn thì được biểu thị bằng ký hiệu diện tích: Hầu hết tất cả các điểm dân cư được biểu thị bằng ký hiệu phi tỷ lệ - đó là những vòng tròn có kích thước khác nhau. Sự phân biệt các điểm dân cư theo kiểu số người và theo ý nghĩa hành chính – chính trị được thể hiện thông qua các ký hiệu vòng tròn và chữ ghi chú. c- Đường sá giao thông: Đường sắt biểu thị trên bản đồ được phân loại theo độ rộng của đường ray, theo số đường ray và dạng sức kéo. Trên đường sắt còn biểu thị các nhà ga. Các đường không ray thì phân biệt biểu thị: Đường ô tô trục, đường nhựa tốt, đường nhựa, đường đá và đường đất. Thông thường thì các đường thuộc 3 cấp đầu được vẽ tất cả. Đối với đường đá và đường đất thì có sự lựa chọn. Trên bản đồ cần chỉ rõ các đoạn đường ngầm, các đèo, những nơi qua sông. Về giao thông đường thuỷ thì biểu thị các đường biển, các cảng và bến tàu, các đoạn sông và các kênh mà tàu, thuyền qua lại được. d- Dáng đất: Khoảng cao đều cơ bản để biểu thị dáng đất lục địa là như sau: Trong phạm vi độ cao từ 400m trở xuống thì khoảng cao đều là 50m; ở độ cao 400 – 1000m thì khoảng cao đều là 100m,  1000m thì khoảng cao đều là 200m. Sự biểu thị dáng đất lục địa còn được bổ sung bằng các ký hiệu riêng, ghi chú độ cao và tên gọi các đối tượng sơn văn. Đ ể thể hiện trực quan dáng đất, người ta có thể vờn bóng hoặc tô m àu theo các tầng độ cao. Mức độ tổng quát hoá dáng đất trên bản đồ 1:1.000.000 là tương đối lớn. Trên bản đồ chỉ thể hiện được các dạng địa hình lớn và trung bình. D áng đất đáy biển được biểu thị bằng các đường đẳng sâu 50, 100, 150, 200, 300, 400, 500, 700, 1000, 1500, 2000, 3000, 4000, 5000,... ngoài ra còn dùng các điểm độ sâu. 137
  6. e- Lớp phủ thực vật và đất: Trên bản đồ biểu thị các loại rừng , rừng bụi rậm, đầm lầy, bãi cát, vùng đ ất mặn,... Các khu rừng riêng biệt có diện tích từ 10 mm2 trở lên thì được vẽ. Ở những khu vực chuyển tiếp từ rừng sang kiểu vùng khác thì vẽ các khu rừng có diện tích từ 2 mm2 trở lên. Trên bản đồ vẽ các đầm lầy có diện tích từ 25 mm2 và các bãi cát có diện tích từ 1 cm 2. f- Ranh giới hành chính – chính trị: Trên bản đồ biểu thị ranh giới quốc gia, ranh giới tỉnh và ranh giới huyện. Đường ranh giới quốc gia được thể hiện với sự khái quát ít nhất. N goài các yếu tố kể trên, trên bản đồ 1:1.000.000 còn thể hiện một số số liệu giao thông hàng không như các đường đẳng từ thiên, các đường dị thường có độ lệch từ. ***** CHƯƠNG 6: THIẾT KẾ BIÊN TẬP VÀ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ 6 .1. Cơ sở lý thuyết thiết kế, biên tập và thành lập bản đồ 6 .1.1. Những vấn đề chung về thể hiện bản đồ và mô hình hoá bản đồ Thiết kế và thành lập bản đồ là môn học q uan trọng cơ bản của bản đồ học về lý thuyết cũng như thực tế. N hiệm vụ quan trọng của sự phát triển lý thuyết bản đồ học là soạn thảo ra cơ sở lý luận về môn học này. Kết quả của quá trình thiết kế và thành lập b ản đồ là phần chính quan trọng của sản phẩm bản đồ. Đó là bản gốc biên vẽ (Bản đồ tác giả), trên đó chứa toàn bộ nội dung, đặc điểm của tác phẩm bản đồ cần thành lập. 138
  7. Lý thuyết của môn học này bao gồm các khái niệm và lý luận về các vấn đề: 1 - Thể hiện trên bản đồ các đố i tượng, hiện tượng. 2 - Mô hình bản đồ. 3 - Soạn thảo các phương pháp thể hiện, xây dựng các ký hiệu quy ước b ản đồ và xác định các nguyên tắc chính khi thiết kế chúng. 4 - Thô ng tin b ản đồ, bản chất thông tin bản đồ, sử dụng, đánh giá d ung lượng thông tin bản đồ. Các khái niệm và các vấn đề đã nêu là cơ sở, cầu nối mối liên hệ giữa lý thuyết và thực hành của th iết kế và thành lập b ản đồ. Nó là phần chung nhất không thể thiếu trong mọi trường hợp của quy trình sản xuất bản đồ. Phần cơ sở chung này bao gồm các vấn đề: - Thiết kế cơ sở trắc đ ịa và toán học cho bản đồ. - Lý thuyết chung về thiết kế và thành lập bản đồ . - Các phương pháp thể hiện thông tin bản đồ, các vấn đề về thành lập bản đồ gốc. - Trang thiết bị kỹ thuật dùng để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ của bản đồ. 1. Sự thể hiện trên bản đồ các đối tượng, hiện tượng Sự thể hiện trên bản đồ các đối tượng, hiện tượng là quá trình đưa, biến đổi các thông tin cho trước về đối tượng, hiện tượng nào đó lên hình ảnh bản đồ. Hay nói cách khác đó là quá trình sắp đặt các đối tượng, hiện tượng trong một không gian topo, có mối liên hệ mật thiết với nhau về tự nhiên và kinh tế xã hội thông qua hệ thống ký hiệu quy ước bản đồ. K hái niệm về sự thể hiện bản đồ làm rõ b ản chất và toàn bộ quá trình thành lập bản đồ. Đó là vấn đề lựa chọn cơ sở toán học cho bản đồ: - Lựa chọn bề mặt toán học của trái đất, hành tinh và các thông số khác. - Lựa chọn phép chiếu bản đồ. 139
  8. - Tỷ lệ bản đồ... Đó là lý thuyết, phương pháp cụ thể để xác định sự tương ứng giữa toạ độ thực của đối tượng trên b ề mặt trái đất và trên bản đồ. Trên bản đồ không thể hiện toàn bộ các đối tượng, hiện tượng thực tế, do đó cần phải chỉ ra các đặc trưng tiêu biểu của đối tượng để khái quát hoá hình d ạng của chúng. Các đối tượng được biểu thị trong mối quan hệ không gian, lôgic. Khi xây dựng hình ảnh bản đồ có thể chỉ trên cơ sở sử dụng các phương p háp thể hiện tương ứng và hệ thống ký hiệu bản đồ. Sự phát triển của bản đồ học và các ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác (Trắc địa, địa lý) đã dẫn đến các khái niệm mới, thuật ngữ mới: Ví dụ, trong bản đồ học có thuật ngữ, khái niệm: Mô hình bản đồ, hệ thống ký hiệu bản đồ,... Ứ ng dụng các khái niệm, hiểu biết này cho phép tìm ra và phát triển các khái niệm v à phương pháp m ới trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật mới như: Tự động hoá thành lập, lưu trữ bản đồ, điện tử tin học (các phần mềm chuyên d ụng)... Nghiên cứu và sử dụng mô hình bản đồ trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế x ã hội, an ninh quốc phòng. Ví d ụ, dùng mô hình bản đồ để thành lập hệ thống thông tin địa lý (GIS)... 2. Mô hình bản đồ. Bản chất và các dạng mô hình bản đồ: Mô hình bản đồ là sự thành lập các bản đồ bằng cách xây dựng các mô hình không gian cho từng đối tượng nội dung bản đồ và mối liên hệ giữa chúng trên một cơ sở toán học xác định. Đối tượng của mô hình bản đồ là các vấn đề thực tế hiển nhiên, khách quan. Sự khác nhau giữa mô hình bản đồ với các mô hình khác được đặc trưng và xem xét ở 3 khía cạnh: a . Về mặt toán học: Trong quá trình mô hình hoá bản đồ phải xem xét và x ử lý các vấn đề về bản chất toán học của mô hình (lựa chọn phép chiếu bản đồ, tỷ lệ và các yêu tố khác,...). Đồng thời trong quá trình đó, người ta sử dụng 140
  9. các phương pháp toán học khác nhau để xây dựng các biểu, bảng để hoàn thành các công việc phân tích, tổng hợp, đáp ứng mục đích, yêu cầu đối với bản đồ. b . Về mặt cấu trúc nội dung : Mô hình bản đồ biểu diễn các tính chất đặc trưng của các đối tượng thực tế. Khi thể hiện luôn phải đảm bảo sự tương ứng của đối tượng và mô hình. N ói cách khác, sự tương ứng cấu trúc nội dung đ ược đ ảm bảo bằng: - Sự thể hiện đúng, chính xác bản chất , nội dung của đối tượng, hiện tượng. - H ình d ạng bên ngoài, cấu trúc không gian bên trong được tổng quát hoá tương ứng với mục đích, ý nghĩa của bản đồ cần thành lập. - Sự thể hiện đúng, chính xác bản chất nội dung của đối tượng, hiện tượng. - H ình d ạng bên ngoài, cấu trúc không gian bên trong được tổng quát hoá tương ứng với mục đích, ý nghĩa của bản đồ cần thành lập. - Sự thể hiện các dấu hiệu chính, các đặc trưng của đối tượng. N hư vậy, trong quá trình mô hình hoá bản đồ cần xem xét đến mục đích, nội dung và tỷ lệ bản đồ để xác định sự đầy đủ và tính chi tiết nội dung của mô hình, mối liên hệ giữa chúng, sự tương ứng với thực tế khách quan. c. Về mặt ký hiệu: Sự thể hiện các đối tượng tất nhiên phải thông qua ký hiệu bản đồ. Các phương pháp thể hiện bản đồ bao gồm: - Các quy luật, công thức toán học dùng để mô hình hoá các đối tượng, hiện tượng thực tế. - Các phương pháp biểu diễn hình ảnh bản đồ trên các loại vật liệu khác nhau (giấy, điamát, băng, đĩa từ...). Tất cả các khía cạnh, vấn đề vừa nêu trên có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau trong một tổng thể thống nhất đặc trưng cho các mô hình bản đồ tương ứng. Các dạng mô hình bản đồ: 141
  10. Trong mô hình hoá bản đồ, phụ thuộc vào nhiệm vụ, điều kiện cụ thể, p hương pháp mô hình hoá, người ta chia mô hình bản đồ thành 2 dạng chính: D ạng cơ bản và dạng dẫn xuất. 1 - D ạng cơ bản: Được lập ra từ các dạng tư liệu khác nhau (Số liệu đo toàn đ ạc trắc địa, ảnh mặt đất, ảnh hàng không, ảnh vũ trụ,...). K hi xây dựng dạng mô hình này có thể đo vẽ trực tiếp thực địa hoặc theo các kết quả đo vẽ trên ảnh, kết quả nghiên cứu, thực hành khác (khí tượng, địa chất, hải dương học,...). 2 - D ạng dẫn xuất: Là các mô hình được thành lập từ mô hình của dạng thứ nhất. Căn cứ vào m ục đích, đề tài của bản đồ mà người ta xác định các cơ sở toán học, chọn phương pháp thể hiện nội dung, thiết kế hệ thống ký hiệu quy ước. Khi thành lập m ô hình bản đồ d ẫn xuất người ta tiến hành khái q uát cấu trúc các đối tượng cần thể hiện đ ồng thời thiết kế cấu trúc mới của đối tượng d ựa trên cơ sở cấu trúc ban đầu. K hi thiết kế mới các đối tượng có thể dùng các thông tin bổ sung về đối tượng bản đồ, mối liên quan giữa chúng và hướng p hát triển đối tượng. Các mô hình bản đồ dẫn xuất được sử d ụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật, đời sống kinh tế, xã hội phục vụ cho m ọi đối tượng để giải q uyết các nhiệm vụ cụ thể trong khoa học và kinh tế quốc dân. 6 .1.2. Hệ thống ký hiệu bản đồ và những nguyên tắc cơ bản khi thiết kế 1 . Các nguyên tắc cơ b ản khi thiết kế hệ thống ký hiệu bản đồ K hi thiết kế hệ bất kỳ bản đồ nào cũng phải xác định đặc điểm, khối lượng nội d ung cần thiết để đ ảm bảo chất lượng bản đồ. Để đạt được điều đó cần chọn lựa phương pháp tối ưu thể hiện các đối tượng, hiện tượng thông qua hệ thống ký hiệu quy ước bản đồ. - K hi thành lập bản đồ địa hình, bản đồ địa lý chung thì các phương pháp thể hiện, hệ thống ký hiệu mang tính truyền thống, định sẵn (nó được ghi trong q uy trình, quy phạm cho bản đồ địa hình). 142
  11. - Khi thành lập các bản đồ chuyên đề, chuyên môn, atlas thì điều cần nhất là trong điều kiện cụ thể chọn và thiết kế được hệ thống ký hiệu quy ước và các phương pháp thể hiện phù hợp với m ục đích, đề tài, nội dung bản đồ . - K hi xem xét các nguyên tắc cơ bản thiết kế các ký hiệu quy ước, chúng ta không xem x ét về mặt ngôn ngữ, trình bày khái niệm (phần này được xem x ét kỹ trong môn học “Trình bày bản đồ ” và “Vẽ bản đồ”). Ở đây ta chỉ nêu các bước thiết kế ký hiệu q uy ước. D ưới góc độ hệ thống ký hiệu bản đồ (HTKHBĐ), HTKHBĐ là tập hợp các ký hiệu có nguyên tắc chung về thiết kế và thể hiện chúng trên bản đ ồ. - Ký hiệu bản đồ thể hiện hình ảnh đối tượng lên bản đồ. - Các ký hiệu bản đồ đ ược đ ưa lên bản đồ theo mục đích, đề tài bản đồ. - Khi thiết kế H TKHBĐ cần tính đến đặc đ iểm sinh họ c của mắt, đ iều kiện sử d ụng chúng, trình độ hiểu biết của người sử dụng bản đồ, khả năng công nghệ khoa học kỹ thuật của cơ sở sản xuất. N goài ra, khi thiết kế H TKHBĐ cần tính đến tính kinh tế, khả năng ứng d ụng công nghệ cao, kỹ thuật điện tử tin học,... 2 . Các yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế HTKHBĐ a . Về mặt Sintacsic (cấu trúc bên trong của ký hiệu – Phương diện cú pháp) H TKHBĐ đặc trưng cho mối quan hệ các ký hiệu và các chức năng của chúng trên b ản đồ. Chỉ số Sintacsic của HTKHBĐ là lượng các ký hiệu và khả năng kết hợp các ký hiệu đ ể thể hiện các đề tài bản đồ. Theo khái niệm này, nguyên tắc cơ b ản của thiết kế H TKHBĐ bao gồm : + Lựa chọn số lượng ký hiệu tối ưu cho bản đồ . + Á p dụng hệ thống tiêu chuẩn về cấu trúc không gian, kích thước ký hiệu đ ể đảm b ảo sự khác nhau về dạng cấu trúc lôgic của ký hiệu. + Lựa chọn các ký hiệu đơn giản, dễ vẽ, dễ định vị trên b ản đồ bằng các q uy luật hình học đơn giản. 143
  12. + X ây dựng các ký hiệu trên cơ sở số lượng tối ưu các yếu tố thành phần cấu trúc ký hiệu để thể hiện các đối tượng ở thứ, hạng, bậc khác nhau. + K hả năng truyền đ ạt bằng H TKHBĐ nằm trong mối liên hệ về không gian, lôgic,... giữa các đối tượng. b . Về mặt Semantic (ý nghĩa của HTKHBĐ – phương diện ngữ nghĩa) Đó là sự đ ặt ra m ối tương quan giữa ký hiệu và đối tượng được thể hiện. Đ ặc tính S emantic của HTKHBĐ đảm b ảo tính đầy đủ, tính chặt chẽ của sự thể hiện b ản đồ cả về mặt chất lượng, số lượng của đối tượng được thể hiện. Đ áp ứng các yêu cầu về ý nghĩa của HTKHBĐ, khi thiết kế ký hiệu b ản đồ cần tính đến các nguyên tắc sau: + Thể hiện bằng ký hiệu số lượng lớn nhất các khái niệm về đối tượng, truyền đ ạt các tính chất của đ ối tượng và mối liên hệ, tương quan giữa chúng với nhau, đ áp ứng mục đích b ản đồ. + Thể hiện cấu trúc phân loại đối tượng bản đồ và các phương tiện đồ hoạ. + Đảm bảo mỗi ký hiệu chỉ tượng trưng, tương ứng với một nội dung của đối tượng được thể hiện đồng thời tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản của mã hoá. + X em xét khả năng thể hiện mối liên hệ nội dung giữa các đối tượng b ằng cách sử dụng cấu trúc lô gic. c. Về mặt thực tiễn của HTKHBĐ (Pragmatic – Phương diện ngữ dụng). Đó là sự x em xét tương quan, quan hệ của ký hiệu với người sử d ụng chúng. Tính thực tiễn đảm bảo độ rõ ràng, dễ đọc của các hiện tượng được thể hiện trên bản đồ. Chỉ số đặc trưng này là mức độ nhận biết bằng mắt và bằng m áy các ký hiệu và khả năng kết hợp chúng trong một tổng thể chung. V ề m ặt này khi thiết kế HTKHBĐ cần theo nguyên tắc sau: 144
  13. + Sử dụng các quy luật, khả năng phục hồi bản đồ để xây dựng H TKHBĐ với yêu cầu nhanh chóng, dễ dàng phục hồi và giải mã hình ảnh b ản đồ. + Tính đến cơ sở lý luận dùng các mẫu để xây dựng HTKHBĐ có thể dùng cho cả bản đồ m áy tính (Máy tính điện tử và các thiết bị chuyên dụng để nhập , xuất hình ảnh bản đồ). + Sử dụng các nguyên tắc tạo hình và thẩm mỹ để nâng cao khả năng x em và mỹ thuật của bản đ ồ. + Áp dụng các nguyên tắc cơ bản x ây dựng HTKHBĐ nhằm bảo đ ảm tính thô ng tin của chúng lớn nhất. 6 .1.3. Các giai đoạn của quá trình sản xuất bản đồ Bản đồ là lo ại sản phẩm đặc biệt, nó có các đặc điểm và tính chất quan trọng để dễ dàng phân biệt chúng với các loại hình sản phẩm khác như ảnh vệ tinh, ảnh hàng không, tranh ảnh khác... (đặc đ iểm của nó đã nói đến trong phần đ ầu của bản đồ học). V ới những đặc thù như vậy nên quy trình sản xuất bản đồ cũng có những đ ặc điểm , tính chất riêng. Những đặc điểm này thể hiện rõ trong từng giai đo ạn công việc của quy trình sản xuất bản đồ. Sơ đồ về quy trình công nghệ sản xuất bản đồ có thể chia ra 4 giai đoạn chính sau: 1. Chuẩn bị biên tập: Đó là giai đoạn đầu tiên của quá trình sản xuất bản đồ. Nó được tiến hành đồng thời với quá trình thiết kế bản đồ. Nội dung công việc của giai đoạn này chúng ta sẽ xem xét kỹ ở phần “Công tác chuẩn bị biên tập”. Sản phẩm cuối cùng của giai đoạn này là “Kế hoạch biên tập bản đồ” cùng với các tài liệu, tư liệu bản đồ phục vụ cho thành lập tờ bản đồ mới. 2 . Biên tập và thành lập bản đồ: Đây là giai đo ạn quan trọng nhất của quy trình sản xuất bản đồ. Ở giai đoạn này, mô hình b ản đồ cần thành lập sẽ được hình thành. Chất lượng bản đồ (nội dung, phương pháp thể hiện, độ chính 145
  14. x ác...) được xác định ở đây.. Đây là công việc sáng tạo khoa học, nó không chỉ p hụ thuộc vào tay nghề, trình đ ộ hiểu biết và kinh nghiệm của các biên tập viên, những người thành lập bản đồ. Sản phẩm cuối cùng của giai đoạn này là bản gốc biên vẽ hoặc bản gốc tác giả (đối với bản đồ chuyên đề). 3. Trình bày và chuẩn bị in bản đồ: Kết thúc giai đoạn biên tập – thành lập bản đồ, chúng ta được bản gốc biên vẽ (Bản gốc tác giả). Tuy nhiên, chất lượng đồ hoạ trên các bản gốc này chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu đối với bản đồ cần thành lập. Hơn nữa, màu sắc, mật độ quang học hình ảnh bản đồ chưa phù hợp, chưa thuận tiện cho công nghệ chế in, nhân bản bản đồ. Do đó người ta phải thực hiện giai đoạn trình bày và chuẩn bị in bản đồ (theo công nghệ truyền thống). Ở giai đoạn này người ta thực hiện các công việc: - Thanh vẽ bản đồ: Nhằm nâng cao chất lượng đồ hoạ của bản đồ (kích thước ký hiệu, kích thước và kiểu chữ, màu sắc nền bản đồ...). Kết quả của thanh vẽ người ta được các bản gốc thanh vẽ có chất lượng đồ hoạ cao, nét vẽ, mực vẽ phù hợp với giai đoạn tiếp theo: Chuẩn bị in bản đồ. - Chuẩn bị in bản đồ: Đây là giai đoạn chế ra các âm bản, dương bản tách màu nền, màu nét, chế khuôn in thử, in thử màu. Nó là giai đoạn không thể thiếu nhằm kiểm tra lại chất lượng công việc của các giai đoạn trước (Biên tập thành lập, trình bày bản đồ) để quyết định đưa vào in ấn xuất bản đồ. Đồng thời nó cũng là bước thử nghiệm cho việc lựa chọn phương án chế in ấn xuất, thử nghiệm chất lượng giấy in, màu mực in,... Kết thúc giai đoạn này là bản thừ màu bản đồ. Bản thử màu bản đồ là hình mẫu của bản đồ (cả về nội dung và hình thức) sẽ in ra hàng loạt. Bản thử màu đã được ký duyệt cho in ấn xuất bản đồ sẽ là bản mẫu để kiểm tra chất lượng bản đồ in ra hàng loạt. 4. In bản đồ. Cắt xén đóng gói sản phẩm: 146
  15. Bản đồ được thành lập và in thử màu là kết quả của 3 giai đoạn đã kể trên. Chất lượng bản đồ hàng hoá phục vụ cho các đối tượng tiêu dùng lại chịu ảnh hưởng nhiều bởi quy trình in ấn xuất bản đồ và hoàn thiện cắt xén đóng gói. Khi in ấn xuất bản đồ, người ta thường phải xác định loại máy in dùng in bản đồ, thiết kế trang in, phương pháp chế khuôn in, chuẩn bị giấy in, màu in và các phương pháp gia cố nâng cao chất lượng sản phẩm bản đồ (bồi vải, phủ màng polyme lên mặt bản đồ). Sơ đồ quy trình sản xuất bản đồ: Chuẩn bị biên tập Biên tập – Thành lập Trình bày và chuẩn bị in In bản đồ - Đóng gói sản phẩm 6 .2. Thiết kế bản đồ Thiết kế và biên tập bản đồ là các quá trình liên quan và bổ trợ lẫn nhau. Công việc biên tập là dạng các công việc thành lập sản xuất bản đồ trong đó b ao gồm cả các công việc chuẩn bị biên tập và biên tập toàn bộ các giai đoạn sản xuất bản đồ. Thiết kế bản đồ là giai đo ạn q uan trọng của công việc chuẩn b ị biên tập. K ết q uả của quá trình này là soạn thảo ra các tài liệu biên tập. Tập hợp các công việc này tạo ra phần chính của bản thiết kế biên tập kỹ thuật b ản đồ. 6 .2.1. Bản chất và nội dung của việc thiết kế bản đồ Thiết kế bản đ ồ được bắt đ ầu từ nghiên cứu nhiệm vụ và các vấn đề đặt ra với bản đồ cần thành lập. Đ ó là các vấn đề liên quan đến biên tập, cô ng nghệ và tổ chức sản x uất bản đồ. 147
  16. K ết quả của quá trình thiết kế bản đồ là soạn thảo ra các thông số tối ưu cho bản đồ cần thành lập. Đây là cơ sở để thực hiện các công việc biên tập cụ thể. Thiết kế bản đồ được thực hiện trên cơ sở các quy luật của các môn khoa học kỹ thuật. Các môn khoa học này có liên quan đến tính chất, đặc điểm của các tác phẩm bản đồ cần lập. Tương ứng với cơ sở lý luận chung, quá trình thiết kế bản đồ gồm các bước sau: 1 - Giải thích rõ mục đích, ý nghĩa bản đồ . 2 - Thiết kế cơ sở Trắc đ ịa – Toán học cho bản đồ. 3 - Soạn thảo nội d ung bản đồ và phân lo ại các đối tượng, hiện tượng. 4 - X ác định các đặc tính, chỉ số (số lượng, chất lượng) của các đối tượng, hiện tượng bản đồ. 5 - Thiết kế các phương pháp thể hiện bản đồ, hệ thống ký hiệu quy ước, bảng chú giải bản đồ. 6 - Thiết kế trình bày bản đồ. 7 - Thiết kế công nghệ thực hiện các công việc làm b ản gốc và các phương pháp chế in bản đồ. Trong từng trường hợp cụ thể, thiết kế bản đồ là chỉ dẫn cụ thể (phụ thuộc vào dạng bản đồ cần lập, mức độ hiện tại, mới của b ản đồ). Theo đặc điểm thiết kế bản đồ, người ta chia bản đồ ra thành 3 loại chính: a. Bản đồ địa hình. b . Bản đồ truyền thống hay sêri bản đồ (Địa lý chung và chuyên đề). c. Sêri các bản đồ gốc hay các bản đồ gốc mới làm lần đ ầu. N goài ra còn có thể xuất hiện một số đặc điểm thiết kế khi so ạn thảo lý thuyết chung thể hiện trong các q uy phạm, các tài liệu khác. Nói chung việc thiết kế bản đ ồ phụ thuộc vào thể loại bản đồ, tỷ lệ b ản đồ,... Đối với các loại bản đồ truyền thống đ ã xuất b ản nhiều lần thì tài liệu thiết kế có thể đã được viết trong các quy định, quy phạm, tài liệu b iên tập kỹ thuật. 148
  17. 6 .2.2. Những g iai đoạn chính của thiết kế bản đồ 1 . Xác đ ịnh mục đích, ý nghĩa bản đồ cần thành lập. Ở đây cần thực hiện các công việc sau: - X ác định, nghiên cứu các yêu cầu đối với bản đồ cần lập. Xác định đối tượng sử dụng bản đồ. - Giải quyết các nhiệm vụ của bản đồ, chỉ dẫn thực hiện các công việc nhằm đạt mục đích của bản đồ. - Xác định rõ điều kiện sử dụng bản đồ: treo tường, để bàn, sử d ụng ngoài thực địa, trong phòng, các phương pháp đọ c bản đồ (bằng mắt thường, b ằng máy quét, máy đọc + m áy móc thiết bị chuyên dụng). 2 . Thiết kế cơ sở toán học bản đồ. Đ ây là giai đoạn khó khăn và phức tạp, gồm các vấn đề sau: - Lựa chọn tỷ lệ bản đồ. - Lựa chọn phép chiếu bản đồ. - Lựa chọn và trình bày lưới tọa độ, lưới chiếu bản đồ. - Sơ đồ bố cục (kích thước vùng lãnh thổ , kích thước khung trong, khung ngoài, bảng chú giải, các bản đồ p hụ,...). - H ệ thống chia mảnh bản đồ (đối với bản đồ nhiều mảnh). a . Lựa chọn tỷ lệ bản đồ - Tỷ lệ bản đồ xác định kích thước không gian mô hình bản đồ: Tỷ lệ quyết đ ịnh kích thước không gian của mô hình, chính vì vậy mà độ chính xác có thể đạt được từ các kết quả đo to ạ độ , độ dài trên bản đồ, mức độ đ ầy đ ủ và chi tiết của nội dung b ản đồ phụ thuộc trực tiếp vào tỷ lệ bản đồ. Ý nghĩa của tỷ lệ bản đồ là đảm bảo: + Độ chính xác khi đo đạc tọ a độ các đ iểm và độ dài của đường được xác ml md đ ịnh bằng công thức: N  1000  710 k k + Độ chính xác định vị điểm của các đối tượng: 149
  18. n0 M q + Phản ánh của các đ ối tượng diện tích ở kích thước nhỏ nhất có thể: p 1 1 5 N 10 P Trong đó: N : Mẫu số của tỷ lệ bản đồ M: Tỷ lệ thể hiện số km/1cm k: Sai số trung phương về vị trí của đối tượng trên b ản đồ so với thực đ ịa (đơn vị mm). m k và m d: Sai số trung phương khi xác định toạ độ các điểm riêng biệt và khoảng cách giữa chúng trên bản đồ (đơn vị:m) q : Mật độ các đối tượng trên thực địa được định vị theo điểm (số đối tượng trên 100 km2 thực địa). n0: Tải trọng b ản đồ tính theo đối tượng điểm (số đối tượng trên 100 cm2). p : Đối tượng diện tích nhỏ nhất trên thực địa (km2) P: Diện tích nhỏ nhất trên b ản đồ tương ứng với p (cm2). K hi lựa chọn tỷ lệ bản đồ người ta thường phải căn cứ theo mục đích ý nghĩa bản đồ, yêu cầu độ chính xác khi đo đạc trên bản đồ, mức độ đ ầy đ ủ khi truyền đạt, thể hiện đối tượng từ thực tế lên bản đồ. Sau khi đã chọn ra một số tỷ lệ có thể đáp ứng với các yêu cầu trên, thông thường người ta sẽ chọn tỷ lệ lớn nhất trong các tỷ lệ đã chọn vì tỷ lệ này cho nhiều ưu điểm hơn so với tỷ lệ nhỏ hơn. Trong một số trường hợp cụ thể việc lựa chọn tỷ lệ bản đồ còn cần xem x ét cụ thể vùng lãnh thổ (Thế giới, châu lục, đất nước, vùng, khu vực,..) được giới hạn cụ trong khung bản đồ (kích thước đã định trước). Đặc biệt là đối với sêri b ản đồ, tập bản đồ. 150
  19. N goài các yếu tố kể trên khi lựa chọn tỷ lệ bản đồ người ta cũng phải tính đến tương quan của bản đồ cần thiết kế với các bản đồ cùng loại, tương tự; tính đến các yếu tố như: - Hiệu quả kinh tế liên quan đến kích thước giấy in bản đồ. - Khả năng của máy in ốp sét (kích thước khuôn in). - G iảm đến mức nhỏ nhất khi chia bản đồ ra làm nhiều mảnh (số mảnh b ản đồ ít nhất). b. Lựa chọn phép chiếu bản đồ: V iệc lựa chọn phép chiếu cho bản đồ cần lập phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đ ặc biệt là những yếu tố sau: - Mục đích, ý nghĩa và đặc điểm sử dụng bản đồ. - Đ ặc điểm, đặc tính không gian của vùng lãnh thổ bản đồ cần thể hiện: kích thước, hình dạng và vị trí địa lý của lãnh thổ. Y êu cầu biến dạng nhỏ nhất (thường được đặt ra yêu cầu cơ b ản khi lựa chọn phép chiếu trong môn học “Toán bản đồ”) chỉ có ý nghĩa quyết định đối với các bản đồ mà trên đó thực hiện, sử dụng các công việc đo đạc bản đồ, trong một số trường hợp cụ thể đó là bản đồ địa hình. Đôi khi người ta chỉ cần có sự phân bố biến dạng có lợi cho người sử d ụng vào mục đích nào đó. Lựa chọn phép chiếu và tính toán lưới toạ độ cho lưới chiếu bản đồ về nguyên tắc là bắt buộc phải có trong quy trình thành lập bản đồ mới. Nhưng trên thực tế có một số loại bản đồ, việc này có thể đơn giản hơn và xét trong từng trường hợp cụ thể. Thí dụ đối với bản đồ địa hình của mỗi quốc gia thường được thành lập trên 1 phép chiếu xác định phù hợp với đặc điểm của q uốc gia đó (ở Việt Nam là phép chiếu Gauss-Cruger, UTM và hiện nay là p hép chiếu VN-2000). Đối với các bản đồ chuyên đề, đa số sử dụng phép chiếu của bản đồ tư liệu – đó là bản đồ địa hình, b ản đồ địa lý chung. Bởi vậy việc lựa chọn phép chiếu bản đồ, trên thực tế chỉ thực hiện đối với các bản đồ tỷ lệ 151
  20. nhỏ và mới làm lần đầu. Đối với các bản đồ này cũng cần hạn chế một số lượng các phép chiếu vừa đủ dùng. Trong một số trường hợp khi công việc đo đạc trên b ản đồ không đòi hỏi độ chính xác cao (chiều dài, diện tích  1%; góc 1%) thì sai số cho phép có thể lớn hơn và như vậy đồng thời có thể có nhiều phép chiếu đáp ứng yêu cầu của bản đồ cần lập. Đặc biệt đối với bản đồ treo tường, quảng cáo không thực hiện các công việc đo đạc trên bản đồ thì sai số biến dạng về chiều dài và diện tích cho phép 10%. Vấn đề khó khăn và phức tạp nhất chỉ là lựa chọn phép chiếu cho bản đồ thế giới và các bản đồ có mục đích chuyên dùng trên vùng lãnh thổ lớn. Để giải quyết vấn đề này cần nắm vững khả năng áp dụng toán bản đồ hiện đại và phương tiện, công nghệ mới. c. Lựa chọn và trình bày lưới toạ độ, lưới chiếu bản đồ. Bản đồ là mô hình ghi lại vị trí không gian của đối tượng trong hệ toạ độ đã được lựa chọn. Hệ toạ độ này cần có lưới đường toạ độ cần thiết cho xác định tọa độ điểm bất kỳ trên bản đồ. Bản đồ không có lưới toạ độ không thể gọi là bản đồ. Trên bản đồ địa lý người ta thường sử dụng hệ toạ độ địa lý để xác định vị trí các điểm, đối tượng trên bề mặt trái đất tương đối so với bề mặt elípxôit ). Để xác định toạ độ địa lý người ta thường dùng lưới chiếu bản đồ. Lưới chiếu bản đồ là hình ảnh của phép chiếu bản đồ được thể hiện thông qua lưới đường kinh tuyến và vĩ tuyến. Mật độ và mức độ thể hiện các đường kinh, vĩ tuyến phụ thuộc vào đặc điểm bản đồ và đặc điểm sử dụng bản đồ. Thí dụ: Trên bản đồ địa hình khái quát, tỷ lệ 1:1.000.000, cứ cách 10 lại thể hiện một đường kinh tuyến, vĩ tuyến. Ở tỷ lệ 1:500.000 các đường kinh tuyến cách nhau 30’, các đường vĩ tuyến cách nhau 20’. Mật độ của lưới toạ độ trên bản đồ tỷ lệ nhỏ còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như: dạng phép chiếu, số độ làm tròn số, dạng bản đồ,... 152

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản