Giáo trình Hệ thống canh tác: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Bảo Vệ, TS. Nguyễn Thị Xuân Thu

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:70

0
193
lượt xem
94
download

Giáo trình Hệ thống canh tác: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Bảo Vệ, TS. Nguyễn Thị Xuân Thu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Hệ thống canh tác: Phần 1 của 2 tác giả PGS.TS. Nguyễn Bảo Vệ và TS. Nguyễn Thị Xuân Thu, trình bày 4 phần cuối của giáo trình với các nội dung về: khảo sát đặc điểm của vùng nghiên cứu, đánh giá thích nghi - trở ngại và đề xuất giải pháp, giải pháp kỹ thuật của hệ thống canh tác và đưa ra sản xuất. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Hệ thống canh tác: Phần 2 - PGS.TS. Nguyễn Bảo Vệ, TS. Nguyễn Thị Xuân Thu

  1. Chương 3 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU Mô tả điểm nghiên cứu là một trong những tiến trình quan trọng nhất của HTCT, nó giúp cho nhóm nghiên cứu thu thập được những thông tin cần thiết cho những mục tiêu khác nhau, làm cơ sở cho xác định HTCT phù hợp cho vùng, cải tiến và hiệu chỉnh những thành phần trở ngại để tăng hiệu quả của HTCT đang áp dụng. Mục đích của khảo sát đặc điểm vùng nghiên cứu là: - Cung cấp những thông số, các dữ kiện về hiện trạng tự nhiên, kinh tế và xã hội của vùng nghiên cứu. - Tìm hiểu và phát hiện được những kỹ thuật tiên tiến của một vài nông dân có thể áp dụng có lợi cho những nông dân khác. - Cung cấp được thông tin để hoạch định các thí nghiệm trên đồng ruộng. 3.1 Phương pháp khảo sát 3.1.1 Mô tả sơ khởi * Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA ) Theo Trần Thanh Bé (1998), mô tả nhanh điểm nghiên cứu là phương pháp thông dụng giúp cho nhóm nghiên cứu liên ngành và HTCT hiểu được những đặc điểm nghiên cứu mà họ dự định thiết lập trong vùng mục tiêu. Nó gồm nhiều phương pháp hợp lại thành phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA), thường được các nhà nghiên cứu về HTCT áp dụng rộng rãi trong việc tìm hiểu những khó khăn trở ngại trong sản xuất của một vùng hay của một nông hộ riêng rẽ. Phương pháp PRA sử dụng một loạt các kỹ thuật như sau: - Xem xét số liệu thứ cấp. - Quan sát trực tiếp, liệt kê các chỉ số quan sát. - Phỏng vấn bán cấu trúc. - Phỏng vấn người am tường vấn đề (KIP). - Sơ lược lịch sử. - Mặt cắt. - Lịch thời vụ. - Biểu đồ tổ chức (biểu đồ Venn). - Xếp hạng phân loại giàu nghèo. Trong các công cụ trên, có những công cụ thích hợp cho việc thu thập số liệu (quan sát trực tiếp, xem xét các nguồn thông tin có sẵn, phỏng vấn bán cấu trúc), trong khi các công cụ khác thích hợp hơn cho việc phân tích thông tin (đánh giá sáng kiến). Một số công cụ có thể dùng cho 2 mục tiêu thu thập và phân tích số liệu (xếp hạng vài loại biểu đồ). Dĩ nhiên, trong một cuộc PRA sẽ không sử dụng tất cả các kỹ thuật này. Nhóm công tác sẽ chọn lựa các kỹ thuật phù hợp mục đích và hữu dụng nhất cho từng cuộc PRA, và sẽ thử nghiệm, sáng tạo và điều chỉnh khi cần thiết.
  2. 54 + Xem xét số liệu thứ cấp Số liệu thứ cấp là các nguốn thông tin có liên quan đến vùng hoặc vấn đề dự định sẽ làm PRA và có sẵn dưới các hình thức xuất bản hoặc không xuất bản (như các báo cáo, thống kê, bản đồ, không ảnh, phim ảnh). Dựa vào kết quả của tham khảo số liệu thứ cấp như những nghiên cứu trước đã được thực hiện, những kết quả, những số liệu về điều kiện tự nhiên, sinh học, kinh tế xã hội của một khu vực rộng lớn, các số liệu thí nghiệm, các điều tra khảo sát về thị trường ... là nguồn cung cấp thông tin rất tốt cho mô tả điểm. Các nguồn thông tin thứ cấp hình thành nền thông tin cơ bản cho việc thu thập thông tin mới. Khi biết được các thông tin đã có sẵn, nhóm công tác sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian (vì không phải thu thập những thông tin ấy nữa). Các nguồn thông tin thứ cấp cũng hữu ích để làm rõ tiêu đề của PRA và hình thành các giả thuyết (để kiểm định) bằng cách xem xét những gì đã được đề cập liên quan đến đề tài và những gì còn thiếu từ các nguồn thông tin này. Các nguồn thông tin cần được xem xét trước khi thực hiện công tác thực địa dưới dạng: - Số liệu thống kê ở cục thống kê, các công trình khoa học, các tổng kết phát triển nông nghiệp hàng năm - Kiến trúc hạ tầng: vị trí điểm, đường sá, giao thông. - Đặc điểm về đất đai: Tổng diện tích, diện tích canh tác, nguồn nước tưới, địa hình, loại đất, sa cấu, những mô hình canh tác chủ yếu trên từng loại đất. - Xã hội: Dân số, số lao động. Những phương tiện phục vụ sản xuất như điện, máy bơm nước, máy kéo, máy suốt lúa, cơ sở gia súc lớn. - Số liệu khí tượng thủy văn là những số liệu có thể tham khảo được ở sở thống kê ở các tỉnh. - Các loại bản đồ có thể tham khảo tại sở nông nghiệp hay sở địa chính gồm có: - Bản đồ không ảnh, địa hình, sử dụng đất đai, hiện trạng về tính thích nghi cây trồng, bản đồ sinh thái nông nghiệp. Có 4 loại bản đồ thường được sử dụng đó là: - Bản đồ mộc: để biết ranh giới hành chính và những cột mốc đặt biệt ở điểm nghiên cứu. - Bản đồ địa hình và thủy văn: được phân trên cơ sở đất và nước và dùng để mô tả điều kiện tự nhiên tại điểm nghiên cứu. - Bản đồ xã hội: để hiểu biết về phân bố quần cư và đặc điểm xã hội như tín ngưỡng, dân tộc, chợ trường học,.v.v... tại điểm nghiên cứu. - Bản đồ hiện trạng sản xuất: thông thường hiện trạng sản xuất sẽ tùy thuộc điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội. Đặc điểm mỗi loại cây trồng và vật nuôi sẽ thích hợp với một điều kiện tự nhiên nhất định, nhưng để chọn loại cây trồng và vật nuôi nào để canh tác sẽ tùy thuộc tình trạng kinh tế - xã hội của nông dân nơi đó. Do vậy, bốn loại bản đồ kể trên khi chồng lấp lên nhau sẽ giải lý cho chúng ta biết nông dân đang canh tác gì và tại sao nông dân làm như thế. - Các biểu đồ.
  3. 55 - Các bảng số liệu, bảng liệt kê. - Các đoạn tóm tắt ngắn. - Bản sao các bản đồ và hình ảnh. Cần lưu ý : - Không dành quá nhiều thời gian để xem xét các số liệu thứ cấp mà nên dành nhiều cho công tác thực địa. - Không cả tin (biết hoài nghi) và biết phê phán. - Tìm kiếm những thông tin còn thiếu. - Không nên đem toàn bộ số liệu có từ trước vào sử dụng cho nghiên cứu mà phải biết chọn lọc, đối chiếu, quy đổi, kiểm chứng trước khi sử dụng. + Quan sát trực tiếp Một nguy cơ khi thực hiện PRA là bị đánh lừa (mất phương hướng) bởi những chuyện hoang đường, tin đồn, chuyện "ngồi lê đôi mách". Người dân thường có niềm tin về các giá trị và hoạt động của họ vốn không phù hợp với thực tế. Thường người ta hay nói về một thói quen, mà khi thăm dò những lần đã thực hiện trong quá khứ thì phát hiện rằng nó sai lầm hoặc thậm chí chưa hề được thực hiện bao giờ. Do vậy, quan sát trực tiếp các chỉ tiêu quan trọng để hỗ trợ và kiểm tra chéo các kết quả là rất cần thiết. các chỉ tiêu (vật chỉ thị) cũng có thể được dùng để tạo nên các câu hỏi tại chỗ để hỏi các thành viên cộng đồng mà không cần chuẩn bị các câu hỏi chính quy trước. Quan sát trực tiếp là quan sát một cách có hệ thống các sự vật, sự kiện, tiến trình mối quan hệ, hoặc con người và ghi nhận những gì quan sát được. Quan sát trực tiếp là một phương cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người được phỏng vấn. Dùng bảng liệt kê các câu hỏi chủ chốt (checklist) để thực hiện các cuộc quan sát một cách có hệ thống. Các bước: - Suy nghĩ về mục tiêu và các chủ đề rộng của cuộc PRA. - Xác định các "vật chỉ thị" mà ta có thể đánh giá qua quan sát trực tiếp. - Soạn bảng kê các câu hỏi chủ chốt dựa trên các vật chỉ thị nêu trên. Các cách quan sát trực tiếp - Đo đếm: Sử dụng thước cân hoặc các dụng cụ khác để đo đếm trực tiếp tại thực địa như kích thước thửa ruộng, trọng lượng sản phẩm (vật nuôi, cây trồng) thu hoạch, khối lượng gỗ, củi. - Sử dụng vật chỉ thị: Bất kỳ sự vật, sự kiện, quá trình hay mối quan hệ có quan sát trực tiếp đều có thể được sử dụng như "vật chỉ thị" cho một vài biến khác khó hoặc không thể quan sát được (ví dụ như loại nhà ở là vật chỉ thị mức độ giàu nghèo của một nông hộ). Các vật chỉ thị cần có giá trị, chuyên biệt đáng tin cậy, phù hợp, nhạy cảm, có hiệu quả về mặt chi phí và thời gian. - Ghi chép: Ghi chép dưới nhiều dạng như sổ ghi chép, phiếu ghi chép, biểu đồ hình ảnh, bộ thu thập các mẫu vật (ví dụ như hoa màu bị sâu bệnh, đồ chơi). - Địa điểm quan sát: Có thể thực hiện các quan sát trực tiếp tại chợ, trên phương tiện vận chuyển (xe buýt, taxi, xe lửa), nơi làm việc, nhà ở, trạm
  4. 56 y tế, trường lớp, thời gian trước và sau các cuộc họp quần chúng, các địa điểm giải trí, hiệu cắt tóc. - Sử dụng biểu kê câu hỏi kiểm tra. Sử dụng các biểu này trong quan sát để đảm bảo rằng việc quan sát được thực hiện một cách có hệ thống, và kết quả quan sát ở nhiều nơi có thể so sánh nhau được. - Sử dụng mọi giác quan: Khi quan sát cần vận dụng mọi giác quan (thị giác, xúc giác, thính giác, vị giác, khứu giác) và tham gia chia sẻ trong các hoạt động của cộng đồng. - Quan sát các sự kiện phức tạp: Khi quan sát các sự kiện phức tạp (như các buổi hành lễ, các sự kiện thể thao), nhóm công tác cần có kế hoạch và phân công cụ thể cho các thành viên để có nhiều "góc nhìn". Những người quan sát (thành viên nhóm công tác) khác nhau có thể tập trung vào các nhóm người khác nhau, như phụ nữ, nam giới, trẻ con, hoặc các du khách. - Quan sát y phục: Các loại y phục khác nhau có thể phản ảnh sự khác biệt về thân phận, giai cấp (tầng lớp), tình trạng giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo hoặc tư cách chính trị. Lưu ý: Quan sát trực tiếp xứng đáng được xem là một bộ phận quan trọng của bất kỳ một cuộc PRA nào. Tuy nhiên, không nên sử dụng chỉ một công cụ quan sát trực tiếp. Những người không thành thạo (sử dụng công cụ này) và những người không quen thuộc vùng công tác có thể diễn giải sai lầm những gì quan sát được. + Phỏng vấn bán cấu trúc (SSI) Phỏng vấn bán cấu trúc là một trong những công cụ chính được dùng trong PRA. Đây là hình thức có hướng dẫn (được dẫn dắt qua đối thoại với người được phỏng vấn) với chỉ một vài câu hỏi được xác định trước. Phỏng vấn của PRA không sử dụng biểu điều tra nhưng cần nhất là một danh mục các câu hỏi chủ chốt như là một bảng hướng dẫn linh hoạt. Ngược lại với điều tra chính quy bằng biểu điều tra (tất cả câu hỏi đều đã được định sẵn), trong SSI nhiều câu hỏi sẽ được hình thành trong quá trình điều tra (như trong các cuộc phỏng vấn của nhà báo). Nếu trong quá trình điều tra thấy rõ ràng vài câu hỏi (định trước trong danh mục) không phù hợp thì có thể bỏ các câu hỏi ấy. Các câu hỏi thường đến qua sự đối đáp của người được phỏng vấn, việc sử dụng các phương pháp xếp hạng, việc quan sát các sự vật xung quanh, và từ kiến thức và kinh nghiệm của bản thân nhóm công tác PRA. SSI có các loại như sau: - Các loại SSI: Phỏng vấn cá nhân: Phỏng vấn cá nhân để thu các thông tin đại diện. Thông tin thu được trong các cuộc phỏng vấn cá nhân mang nhiều tính cá nhân (riêng tư) hơn phỏng vấn tập thể (nhóm), và nó có thể phát hiện những xung đột trong nội bộ cộng đồng vì người trả lời cảm thấy họ có thể nói tự do hơn khi không có sự hiện diện của những người láng giềng.
  5. 57 Các cuộc phỏng vấn được thực hiện riêng lẻ với những người được chọn (một cách "cơ hội" - ngẫu nhiên) có mục đích. Những nông dân được chọn phỏng vấn nên bao gồm những người lãnh đạo nông dân, nông dân "đổi mới" - là những nông dân đã thử nghiệm các kỹ thuật được khuyến cáo hoặc đã phát triển thành công các kỹ thuật cải tiến, phụ nữ là thành viên gia đình hoặc chủ hộ, nông dân tiêu biểu cho những hệ thống canh tác chủ yếu trong vùng, nông dân đã từ chối (không áp dụng) các kỹ thuật mới. Phỏng vấn một số các nông dân khác nhau về cùng một chủ đề sẽ nhanh chóng phát hiện hàng loạt ý kiến, thái độ và chiến lược. Nên tránh chỉ phỏng vấn nam giới (thiên lệch). Chỉ hỏi người nông dân về kiến thức và hành vi của chính họ chứ không hỏi họ nghĩ gì về kiến thức và hành vi của người khác. Nhiều cộng đồng có (ít nhất một) "người gây rắc rối" luôn không đồng ý với mọi điều. Phản ứng (trả lời) của những người này có thể cung cấp những kiểm tra chéo có giá trị và giúp phát hiện những cách nhìn hữu ích mà các cuộc phỏng vấn khác không thể có được. Phỏng vấn ngẫu nhiên những người qua đường: chẳng hạn trong khi đi cũng có thể khám phá những thông tin hữu ích và những quan điểm không ngờ. Phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ yếu: Phỏng vấn những người này để thu nhận những kiến thức đặc biệt. Người cung cấp thông tin chủ yếu (KI) là bất cứ người nào có kiến thức đặc biệt về một chủ đề riêng biệt. Người cung cấp thông tin chủ yếu (KI) là bất cứ người nào có kiến thức đặc biệt về một chủ đề riêng biệt (chẳng hạn, người buôn bán - về việc vận chuyển và tín dụng, "bà đỡ" - về các biện pháp kiểm soát sinh đẻ, nông dân - về thực tiễn canh tác). Các KI có thể trả lời các câu hỏi về kiến thức và hành vi của người khác, và đặc biệt, về các hoạt động của hệ thống (chủ đề, vấn đề) rộng hơn. Trong khi vẫn có những rủi ro do "bị gạt" bởi những câu trả lời của KI, và cần phải kiểm tra chéo, những KI là nguồn thông tin chính của PRA. Những KI giá trị là những "người ngoài cuộc" sống trong cộng đồng (như thầy cô giáo chẳng hạn) hoặc những người ở các cộng đồng láng giềng (người ngoài cuộc có hiểu biết về cộng đồng), bao gồm cả những người đã lập gia đình với (người trong) cộng đồng. Họ thường có cách nhìn khách quan hơn về công việc của cộng đồng so với chính những thành viên cộng đồng. Phỏng vấn nhóm: Phỏng vấn nhóm (GI) để thu nhận thông tin ở mức độ cộng đồng. Phỏng vấn nhóm có nhiều ưu việt: nó tạo điều kiện để tiếp xúc một lượng kiến thức rộng hơn, và cung cấp cơ hội tức thời để kiểm tra chéo thông tin thu nhận được từ những người trong nhóm. Tuy nhiên, khi nhóm quá đông (hơn 20- 25 người), việc quản lý trở nên khó khăn vì họ có khuynh hướng chia thành nhiều nhóm nhỏ hơn. Các cuộc GI không hữu ích cho việc thảo luận các thông tin nhạy cảm. Các cuộc GI cũng có thể bị sai lầm nghiêm trọng khi người dân nghĩ (hoặc tin) rằng người đặt câu hỏi có quyền quyết định phúc lợi hoặc thưởng phạt họ. GI có thể phát hiện ý tưởng của người dân hơn là cái thực sự tồn tại, nhưng "tam giác" về phương pháp và kiểm tra chéo thông tin có thể tìm được bức tranh toàn cảnh. Những người phỏng vấn cần khích lệ các ý kiến và quan điểm khác nhau và cố tránh việc thúc ép phát biểu. Các cuộc nói chuyện không chính thức sau buổi họp có thể rất hữu ích để thu thập thông tin từ những người không thể (do không có điều kiện hoặc không có khả năng) diễn đạt ý kiến của mình trong cuộc phỏng vấn nhóm. Các cuộc GI đòi hỏi việc chuẩn bị và lập kế hoạch của mình trong cuộc phỏng vấn nhóm. Các cuộc
  6. 58 GI đòi hỏi việc chuẩn bọ và lập kế hoạch trước chu đáo hơn so với các cuộc phỏng vấn cá nhân. Thảo luận nhóm có trọng tâm Thảo luận nhóm có trọng tâm nhằm để thảo luận chi tiết những chủ đề đặc biệt. Một nhóm nhỏ (từ 6 đến 12 người) những người có kiến thức hoặc quan tâm về những chủ đề cần thảo luận được mời tham gia vào nhóm có trọng tâm. Một "người điều khiển" (người quản trò, người tạo thuận lợi để sự việc xảy ra) cuộc thảo luận được chọn lựa sao cho đảm bảo cuộc thảo luận ấy không đi lệch quá xa chủ đề ban đầu và không để có người nào chiếm ưu thế (nói nhiều) trong cuộc thảo luận. SSI là phỏng vấn "dẫn dắt" với chỉ một vài câu hỏi được xác định trước và các câu hỏi mới sẽ phát sinh trong quá trình phỏng vấn. Người phỏng vấn chuẩn bị một danh sách các chủ đề và câu hỏi hơn là một biểu điều tra (bao gồm tất cả những câu hỏi) cố định. - SSI được thực hiện với: - Cá nhân để thu thông tin tiêu biểu. Phỏng vấn một số cá nhân về cùng một chủ đề (ví dụ như phụ nữ, nam giới, già, trẻ, người tham gia và người không tham gia). - Người cung cấp thông tin chủ yếu để có thông tin đặc biệt. KI là những người có kiến thức đặc biệt mà người khác không có (ví dụ như các "bà đỡ" về các vấn đề sinh nở). - Nhóm để thu thông tin tổng quát ở mức độ công đồng. - Nhóm có trọng tâm để thảo luận chi tiết về một chủ đề đặc biệt. - Hướng dẫn thực hiện với SSI: - Nhóm phỏng vấn gồm từ 2 - 4 thành viên có chuyên môn khác nhau. - Bắt đầu với lời chào hỏi truyền thống và nói rõ nhóm phỏng vấn đến là để học. - Bắt đầu hỏi bằng cách đề cập đến những người hoặc những sự vật dễ thấy được. - Thực hiện phỏng vấn một cách không chính thức và xen các câu hỏi với thảo luận. - Cần (có đầu óc) cởi mở và khách quan. - Để từng thành viên chấm dứt phần hỏi của mình (không chen ngang vào). - Cẩn thận dẫn dắt đến những câu hỏi (về các vấn đề nhạy cảm). - Phân công một người ghi chép (nhưng luân phiên, không cố định suốt thời gian). - Cần chú ý đến những tín hiệu "không lời" (thái độ, cử chỉ). - Tránh những câu hỏi ngầm chứa câu trả lời và phán xét các giá trị. - Tránh những câu hỏi có thể trả lời "có" hoặc "không". - Cuộc phỏng vấn cá nhân không nên kéo dài quá 45 phút. - Cuộc phỏng vấn nhóm không nên dài quá 2 giờ.
  7. 59 - Mỗi người phỏng vấn cần có sẵn một danh mục các chủ đề và câu hỏi chủ yếu. - Những lỗi thường gặp của SSI: - Không chăm chú nghe người dân nói. - Lặp lại các câu hỏi (đã hỏi và được trả lời rồi). - Giúp người được phỏng vấn đưa ra câu trả lời. - Hỏi những câu hỏi mong lung mơ hồ. - Hỏi những câu hỏi không nhạy cảm (những vấn đề người dân không quan tâm). - Không thực hiện kiểm tra chéo về một chủ đề. - Không xem xét các câu trả lời (cả tin vào mọi điều). - Hỏi những câu hỏi ngầm chứa câu trả lời. - Để cuộc phỏng vấn kéo dài quá lâu. - Khái quát hoá quá mức các kết quả tìm được (khái quát hoá từ quá ít thông tin). - Dựa quá nhiều vào những gì do các người khá giả, người có học vấn, người lớn tuổi, và nam giới trình bày. - Bỏ qua tất cả những gì không phù hợp với những ý tưởng và khái niệm tiền định của người phỏng vấn. - Cho quá nhiều gia trọng (xem nặng) các câu hỏi có chứa số liệu định lượng (ví dụ như đưa ra câu hỏi: Ông nuôi được bao nhiêu con dê?). - Ghi chép không hoàn chỉnh. - Hướng dẫn chi tiết thực hiện SSI: Trước khi phỏng vấn: - Cần chuẩn bị bản thân cho cuộc phỏng vấn. Bạn cần nắm rõ chủ đề để có thể đưa ra các câu hỏi phù hợp và chứng tỏ mình quan tâm đến đối đáp của người được phỏng vấn. - Trong việc chọn lựa nhóm công tác, cần lưu ý rằng lứa tuổi, giới tính, thành phần (giai cấp), dân tộc,... của các thành viên có thể ảnh hưởng đến chất lượng thông tin thu thập được (chẳng hạn như trong một số cộng đồng xã hội các cán bộ phỏng vấn nữ thì phù hợp để phỏng vấn phụ nữ hơn là nam cán bộ). - Thiết kế một đề cương sơ khởi cho cuộc SSI. Đề cương này sẽ được sửa đổi trong quá trình công tác thực địa. Khởi đầu với những yêu cầu tổng quát về một chủ đề nào đó và bổ sung các chi tiết, sâu hơn trong quá trình thực địa. - Chọn mẫu điều tra: Chọn những người được phỏng vấn thích hợp với chủ đề của cuộc phỏng vấn dựa vào kiến thức, tuổi tác, giới tính, địa vị, dân tộc, v.v...Ghi nhận khái quát về sự phân tầng kinh tế xã hội của cộng đồng bằng cách tìm vài người quen biết cộng đồng (thành viên cộng đồng hoặc cán bộ phát triển cộng đồng) có thể vẽ một sơ đồ về cộng đồng chỉ rõ các xóm ấp và các nhóm kinh tế xã hội, dân tộc và tôn giáo khác nhau. Để có được sự phân tầng (khác biệt) chi tiết về kinh tế xã hội cần tiến hành xếp hạng giàu nghèo. Chọn một số người để
  8. 60 phỏng vấn từ các nhóm khác nhau (nam, nữ, già, trẻ) dựa vào tính sẵn có (mẫu cơ hội). - Giữ ở mức độ càng nhỏ càng tốt. Nhóm công tác nhỏ (ít thành viên), sổ ghi chép nhỏ, ít sử dụng xe cộ (đi bộ càng tốt). Tránh "hội chứng thăm dò ý kiến", các nghiên cứu viên lái xe đến gặp nông dân đang làm lụng trên đồng và nhảy ra khỏi xe với sổ ghi chép trong tay sẵn sàng cho cuộc phỏng vấn. Cố gằng hoà nhập vào hoàn cảnh địa phương (nhập gia tuỳ tục) càng nhiều càng tốt, đó là chiến lược tốt nhất. - Cần lưu ý đến thời gian biểu hàng ngày của các thành viên cộng đồng. Chọn thời gian phỏng vấn sao cho không ảnh hưởng đến những hoạt động quan trọng của người được phỏng vấn. Sử dụng thời gian giữa các cuộc phỏng vấn cho các hoạt động khác của PRA (như quan sát, vẽ sơ đồ, phân tích). Trong khi phỏng vấn - Cần nhạy cảm và kính trọng dân. Lấy một cái ghế và ngồi cùng mức độ với những người được phỏng vấn, không ngồi cao hơn họ, và bắt đầu câu chuyện bằng những lời xã giao thông dụng (được chấp nhận) ở địa phương. Phải tuyệt đối tránh những cử chỉ tỏ ra coi thường hoặc không tin vào những gì các thành viên cộng đồng trình bày, như cười cợt giữa các thành viên nhóm công tác hoặc ngay cả phê bình các câu trả lời của người được phỏng vấn. Hành vi không phù hợp có thể đưa đến kết quả không chính xác. - Sử dụng cùng ngôn ngữ với người được phỏng vấn (tiếng địa phương, dân gian) để giảm bớt sự ngăn cách. Có các thành viên cộng đồng tham gia trong nhóm công tác sẽ đảm bảo là các câu hỏi phù hợp và xây dựng theo cách có ý nghĩa và nhạy cảm. Sử dụng "cách đóng vai" để tìm ra ngôn ngữ đúng. - Cuộc phỏng vấn nên là cuộc đối thoại hoặc quá trình mà các thông tin quan trọng sẽ phát triển theo câu chuyện. Chất lượng thông tin thu được tùy thuộc phần lớn vào quan hệ giữa người phỏng vấn và người cung cấp thông tin. Hãy gây niềm tin nơi họ bằng cách thể hiện sự quan tâm đến những gì quan trọng đối với họ. - Quan sát: Lưu ý quan sát các mô hình, hành vi, các dị biệt và những việc không bình thường. Quan sát các chỉ thị "không lời" như các biểu hiện trên mặt, sử dụng không gian (khoảng cách giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn), điệu bộ, âm giọng, sờ mó, và tiếp xúc bằng mắt vì chúng có thể biểu lộ phần lớn các mối quan tâm hay e ngại của người được phỏng vấn và cung cấp những đầu mối giá trị để giải thích các câu trả lời. Trong thực tế, quan sát và phỏng vấn hầu như được thực hiện chung nhau. Tuy nhiên, khi ghi chép cần phân biệt rạch ròi những gì quan sát được và những gì người được phỏng vấn trả lời để dễ dàng phân tích sự việc sau này. Điều đó có thể đạt được bằng cách chia trang giấy của sổ ghi chép thành 2 cột, một cho phần đối đáp và một cho phần quan sát. - Thu thập các cách phân loại, thuật ngữ, hình vẽ (đặc biệt của trẻ con, có thể đề nghị chúng vẽ về một chủ đề nào đó), các bài thơ, bài hát, truyện dân gian, các thành ngữ và tục ngữ của địa phương. - Câu hỏi: Có thể xây dựng các câu hỏi dựa vào: + Danh mục các chủ đề và câu hỏi chủ chốt. + Thông tin hiện có về cộng đồng (các báo cáo và thống kê). + Các bản đồ, không ảnh, và các biểu đồ khác.
  9. 61 + Quan sát trực tiếp - Các câu hỏi: Ai? Tại sao? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Thế nào? khi được sử dụng đúng đắn luôn tạo ra nhiều thông tin cho người phỏng vấn PRA. Không phải tất cả 6 câu hỏi trên đều được hỏi cho bất kỳ một vấn đề đặt ra, mà người phỏng vấn cần nhớ trong đầu để đảm bảo không có vấn đề quan trọng nào bị bỏ quên. Tuy nhiên, cần hạn chế sử dụng câu hỏi "Tại sao?" vì chúng có thể đặt người cung cấp thông tin ở vào thế bị động và có thể ngưng cung cấp thông tin. - Trình bày các câu hỏi một cách ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và hướng tới việc phát hoạ ra nhiều chi tiết rõ ràng. Không hỏi nhiều (hơn một) câu hỏi cùng lúc. - Bắt đầu cuộc phỏng vấn với 1 câu hỏi bao quát để người đối thoại có thể thảo luận với cách hiểu riêng của họ chứ không phải theo cách hiểu của người phỏng vấn. (Câu hỏi được thu hẹp sẽ xác định phạm vi đề tài và giới hạn các câu trả lời có thể có). Sau đó tiếp tục các câu hỏi đặc biệt để nắm được chi tiết hơn và hiểu sâu hơn. Thí dụ: sau khi hỏi "Ông bà cho biết khái quát về các loại cây trồng trong vùng và ông bà sử dụng chúng để làm gì?" tiếp tục với các câu hỏi để biết rõ hơn về việc sử dụng các loài cây trồng. Tuy nhiên đối với các đề tài nhạy cảm, hoặc trong trường hợp người được phỏng vấn rất thích một đề tài nào đó, thì cần mở đầu với câu hỏi thu hẹp vì câu hỏi bao quát có thể dẫn đến một cuộc phỏng vấn mà tất cả câu hỏi tiếp theo sẽ bị thiên lệch theo câu trả lời đầu tiên. Thí dụ nên hỏi "Hạn hán vừa qua có tác động gì đến cuộc sống của ông bà?", Ông bà đã sống như thế nào trước khi xảy ra hạn hán?" "Điều gì xảy ra cho ông bà trong lúc bị hạn hán". - Các câu hỏi cần đưa ra theo cách đòi hỏi phải giải thích (câu hỏi mở) hơn là để cho người được phỏng vấn trả lời "có" hoặc "không". - Đừng đưa ra câu hỏi có tính hướng dẫn. Các câu hỏi có tính hướng dẫn làm cho việc kiểm tra chi tiết sau này gặp nhiều khó khăn và làm cho các câu trả lời ít đáng tin cây hơn. Thí dụ: không nên hỏi "Tại sao tiêm chủng cho trẻ em là quan trọng?" mà nên hỏi "ông bà nghĩ gì về việc tiêm chủng cho trẻ em?" không nên hỏi "ông bà trồng mía vào tháng 7 phải không?" mà nên hỏi "Khi nào ông bà trồng mía?". - Tránh đưa ra kết luận đối với người được phỏng vấn hoặc tránh giúp họ hoàn thành câu của họ ngay khi họ có thể gặp khó khăn để tự trình bày. Người dân địa phương có cách riêng để diễn đạt ý tưởng của mình, cần khuyến khích họ. - Tránh dạy hay khuyên bảo người dân: tính cách này không phù hợp với PRA. Cần thay đổi quan niệm về vai trò: người phỏng vấn đến là để học cùng với người dân địa phương chứ không phải để dạy họ. - Cần hướng dẫn cẩn thận đối với các vấn đề quan trọng và nhạy cảm. Nếu cần thiết phải tiếp xúc với người cung cấp thông tin nhiều lần để tạo mối quan hệ tốt trước khi thảo luận các vấn đề nhạy cảm hơn. Chọn các chỉ tiêu đại diện cho các chỉ tiêu nhạy cảm (thí dụ: chỉ tiêu trong gia đình và ghi các nguồn thu thập là các chỉ tiêu đại diện cho số thu nhập của hộ gia đình). - Kiểm tra thông tin. Kiểm tra chéo trong khi phỏng vấn là để thu thập thông tin chi tiết và sâu sắc hơn. Để có thể kiểm tra, cần nghe rõ những gì được nói, hỏi thêm các thông tin hỗ trợ và chi tiết sâu hơn. Các sách lược kiểm tra khác nhau bao gồm:
  10. 62 + Thể hiện sự quan tâm và động viên bằng gật đầu hoặc nói "vâng", "đúng". + Dừng đôi chút để người được phỏng vấn bổ sung thông tin, nhưng không dừng quá lâu vì có thể gây ra lúng túng cho họ. + Nhắc lại câu hỏi theo cách khác (thí dụ: "Các mối nguy hiểm đối với các con của ông là gì?", "Ông bà có khó khăn gì trong việc chăm sóc con cái?", "Ông bà lo lắng điều gì nhất có thể ảnh hưởng đến con cái ông bà?"). + Sử dụng các câu hỏi trung gian như: "Ông bà có thể nói thêm về điều đó không?", "Ông bà có thể cho ví dụ được không ?", "Ông bà có thể giải thích điều đó được không?". + Sử dụng các so sánh tương đồng, tương phản, hoặc thay đổi các "kiểu" thu thập thông tin: phỏng vấn nhóm, phỏng vấn cá nhân, phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ yếu. - Cần cân nhắc câu trả lời và đừng dựa vào quá ít người cung cấp thông tin. Những cảm nhận đầu tiên thường bị sai lệch. Nên kiểm tra sự hiểu biết của mình về một vấn đề, thuật ngữ hoặc khái niệm bằng cách sử dụng hoặc mô tả lại trong các cuộc thảo luận và phỏng vấn tiếp sau. Nếu bạn hiểu sai, người cung cấp thông tin có thể sửa chữa cho bạn. - Ghi chép, ghi chép tốt, chi tiết và đầy đủ (có thể tốc ký) là yêu cầu cần thiết cho một cuộc PRA. Đánh số các câu hỏi và đánh dấu các câu trả lời một cách rõ ràng. Chỉ định một thành viên của nhóm phỏng vấn (luân phiên) làm nhiệm vụ ghi chép sẽ giúp cho các thành viên khác của nhóm tập trung vào việc phỏng vấn. Cần thiết kế công cụ ghi chép (mẫu biểu, biểu đồ) sao cho dễ dàng phân tích thông tin này. - Ghi chép những gì được nói và những gì nhóm nhìn thấy, nhưng không kết hợp sự phỏng đoán riêng. - Trong trường hợp việc ghi chép gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện được ngay tại hiện trường thì cần nhớ lại và ghi chép nhanh một số vấn đề ngay sau khi phỏng vấn hoặc quan sát. Trong ngày (chiều, tối) sẽ ghi chép lại đầy đủ và chi tiết những gì đã ghi sơ bộ ở hiện trường, nếu để lâu sẽ quên mất thông tin. - Kết thúc cuộc phỏng vấn một cách lịch sự và cảm ơn người được phỏng vấn, người cung cấp thông tin. + Phỏng vấn người am tường vấn đề (KIP) Đây là một trong những phương pháp thu thập thông tin từ nông dân thực hiện cho việc mô tả điểm nghiên cứu có điều tra phỏng vấn. Có nhiều cách để thu thập thông tin và phương pháp hỏi những người am hiểu sự việc (Key informant Pnel), về một chuyên đề nào đó, là một phương pháp thông dụng để tìm hiểu thêm hoặc kiểm chứng những thông tin đã có từ trước, hoặc đối chiếu những thông tin thu thập được qua điều tra phỏng vấn chính thức. * Phương pháp KIP là gì? Phương pháp thu thập thông tin từ một nhóm người am hiểu về một chuyên đề nào đó gọi tắt là KIP. KIP là phương pháp thảo luận nhóm gồm những người am hiểu về sự việc khác nhau được tập hợp trong một cuộc tọa đàm về những sự kiện,
  11. 63 những chuyên đề, hoặc những thông tin khác trong một cộng đồng, mà cộng đồng này có thể là một xã hội, một tổ chức, hoặc là một cơ quan nào đó. * Tiến trình phương pháp KIP - Thành phần địa phương tham gia. Số người lý tưởng là từ 7 đến 15 người. Những người có thể tham gia nhóm KIP bao gồm: + Nông dân. + Nhà buôn bán. + Chủ ngân hàng. + Chủ nhiệm hợp tác xã. + Chính quyền xã. + Nhân viên khuyến nông địa phương. + Thầy giáo. - Tổ chức phỏng vấn: Nhóm chuyên gia liên ngành lần lượt thảo luận, trao đổi, hỏi người tham gia về các vấn đề thuộc các lĩnh vực liên quan. Xác định lại những khó khăn trở ngại trong sản xuất hiện tại, những triển vọng trong tương lai bằng các dữ liệu vừa thu thập được qua cuộc điều tra. * Lợi ích của thảo luận nhóm KIP - Mọi người tham gia và dự phần tích cực hơn trong việc thu nhập và phân tích dữ liệu. - Cung cấp thêm dữ kiện sau giai đoạn phác thảo phiếu điều tra bằng việc tăng mức chính xác của thuật ngữ. - KIP tốn ít tiền, dễ làm và thu nhập rộng rãi nhiều loại thông tin khác nhau. - Cung cấp thông tin chính xác và đáng tin cậy như: Sự việc có tính đại chúng hoặc có thể quan sát trực tiếp và những đặc điểm nổi bật của cộng đồng. - Không có câu hỏi gây tranh luận, bàn cãi. * Nhược điểm của phương pháp KIP - Những ý kiến cực đoan và những ý kiến khác thường hoặc những ý kiến hay sẽ bị triệt tiêu vì cần có sự nhất trí. - Phương pháp này cần người có đủ trình độ suy nghĩ lẫn ăn nói. Do đó, có thể bị chế ngự bởi những người có học cao hoặc lanh lợi. - Người điều khiển thảo luận cũng cần phải đủ bản lãnh trong việc điều phối, gợi ý. - KIP cung cấp câu trả lời kém chính xác cho câu hỏi. - Thông tin không thể trực tiếp quan sát như là chất hữu cơ. - Cần phải đánh giá rõ, phán đoán. - Về lối xử thế tiêu biểu của cá nhân, hoạt động hoặc những mối quan hệ xã hội. + Sơ lược lịch sử Bản sơ lược lịch sử cho biết các thông tin quan trọng để hiểu biết tình hình hiện tại của một cộng đồng (thí dụ mối quan hệ nhân quả giữa quyền sở hữu ruộng đất đến sự xói mòn đất hay suy thoái rừng). Nó cho ta cái nhìn khái lược về các sự kiện lịch sử chủ yếu của một cộng đồng và tầm quan trọng của chúng với tình hình
  12. 64 hiện tại. Các sự kiện có thể là: xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, trường học, kinh mương, điện lực ... - Hướng dẫn xếp hạng - Để dân tự làm theo cách của họ. - Để dân sử dụng các đơn vị đo đếm riêng của họ. - Sử dụng tên gọi riêng, cách định danh, cách phân hạng của họ cho tất cả những gì được đưa ra xếp hạng. - Cần xem xét việc sử dụng các trò chơi địa phương để thực hiện việc xếp hạng. - Kiểm tra lý do để sắp đặt thứ tự xếp hạng. - Cần chuẩn bị trước và kiên nhẫn khi thực hiện. + Mặt cắt Bản đồ mặt cắt là bản vẽ một mặt cắt ngang xuyên qua một vùng hay một khu đất trên ấy có mô tả những đặc điểm chủ yếu về hoạt động sản xuất, các nguồn tài nguyên đất, nước, cây trồng, vật nuôi, tôm cá, thuỷ sản, cùng những hạn chế trở ngại và những cơ hội triển vọng phát triển. Bản đồ mặt cắt rất thông dụng trong việc mô tả hệ sinh thái nông nghiệp cũng như giúp hiểu được các hoạt động sản xuất chủ yếu trong vùng hay trong một nông trại riêng lẻ. - Các bước tiến hành Để thực hiện bản đồ mặt cắt, điều cần thiết là phải thực hiện dã ngoại. Có thể có được các thông tin cơ bản càng tốt, bởi vì bản đồ mặt cắt là bức tranh toàn cục thu nhỏ mô tả tất cả những hoạt động sản xuất, những chi tiết về các nguồn tài nguyên, những thuận lợi, hạn chế của một nông hộ, một vùng sản xuất. - Tìm các thành viên cộng đồng có kiến thức sẵn lòng tham gia một cuộc đi bộ trong làng và các vùng xung quanh. - Thảo luận với họ về các yếu tố cần vẽ trong mặt cắt (địa hình, đất đai, hoa màu, cách sử dụng đất, nguồn nước,...) và tuyến đường sẽ đi (đảm bảo phản ánh đầy đủ tính đa dạng của vùng nghiên cứu). - Đi khảo sát mặt cắt cùng với các thành viên cộng đồng: quan sát hỏi han nghe ngóng (nhưng không giảng dạy họ), thảo luận các khó khăn thuận lợi. - Xác định các vùng nông nghiệp và tự nhiên chủ yếu, phác họa các đặc điểm nổi bật. Đối với mỗi vùng cần mô tả: loại đất và địa hình, nguồn nước, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cây trồng (và cây mọc tự nhiên), vật nuôi (bao gồm thuỷ sản), các khó khăn và giải pháp, các thuận lợi. - Vẽ mặt cắt và kiểm tra lại mặt cắt cùng với những người hiểu biết (KI)
  13. 65 - Lợi điểm của bản đồ mặt cắt - Sử dụng bản đồ mặt cắt để mô tả hoạt động sản xuất là bức tranh toàn cục của một vùng sản xuất hay một khu đất của nông hộ. - Nhìn vào bản đồ có thể hình dung được tất cả những hoạt động sản xuất của một gia đình hay của một vùng nghiên cứu. - Là phương pháp giúp đánh giá nhanh nông thôn thông qua các chỉ tiêu về khó khăn trở ngại và những cơ hội triển vọng. - Nông dân có thể nhìn vào bản đồ hình dung được tất cả những mặt sản xuất của nông hộ mình hay của người khác hay của một vùng đất. - Cán bộ nghiên cứu và cán bộ khuyến nông dễ dàng hình dung, hiểu rõ, nắm bắt được vấn đề tồn tại ở địa phương hay của một gia đình. - Nhược điểm của phương pháp - Không thể giải thích được tất cả chi tiết do kích thước giới hạn của hình vẽ. - Nếu nhà nghiên cứu đi trên đường không gặp được những chi tiết thú vị hoặc đa dạng, bản đồ mặt cắt trở nên nghèo nàn, đơn điệu, không mô tả đúng hiện trạng sản xuất. - Chỉ mô tả được phần nổi, phần thấy được, những chi tiết không không thấy được về kinh tế, xã hội không được thể hiện rõ ràng. - Liên hệ giữa bản đồ mặt cắt với các phương pháp khác - Mặt cắt sinh thái chỉ rõ ra những loại cây trồng, vật nuôi trên những địa hình, những hệ thống tài nguyên khác nhau của một vùng hay của một nông hộ. - Bản đồ mặt cắt còn có quan hệ gần gũi với phương pháp chẩn đoán và xác định những khó khăn, trở ngại trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. - Bản đồ mặt cắt có liên hệ với những biểu đồ, sơ đồ biểu diễn lịch canh tác trong năm, mối liên hệ tương hổ giữa các hoạt động sản xuất khác nhau, những số liệu về mức đầu tư kể cả trong lẫn ngoài hệ thống, về việc tiêu thụ và sử dụng sản phẩm. + Lịch thời vụ Lịch thời vụ là loại lịch chỉ rõ các hoạt động chính, các khó khăn và thuận lợi trong suốt chu kỳ hàng năm dưới dạng biểu đồ. Đó thực sự là một chuổi các biểu đồ khác nhau được thể hiện trên một tờ giấy. Nó giúp xác định các tháng khó khăn nhất hoặc có thể bị thiệt hại nhất, hay các thay đổi quan trọng khác có tác động đến cuộc sống của người dân. - Lịch thời vụ có thể được sử dụng để tóm lược các việc như: - Thời vụ ở địa phương. - Khí hậu (lượng mưa và nhiệt độ). - Thứ tự gieo trồng hoa màu (từ khi trồng đến khi thu hoạch) và sâu bệnh.
  14. 66 - Chăn nuôi gia súc (sinh sản, cai sữa, bệnh, cho ăn, vận chuyển, bán...). - Các hoạt động tạo ra thu nhập, lượng thu nhập và chi tiêu, nợ tiết kiệm. - Nhu cầu lao động cho nam, nữ giới, trẻ con và khả năng cung cấp lao động. - Bệnh tật. - Chủng loại và số lượng thức ăn, chất đốt. - Giá cả thị trường. - Các sự kiện xã hội, lễ hội,... + Biểu đồ tổ chức (biểu đồ Venn) Biểu đồ mối quan hệ cho thấy những nguyên nhân, kết quả và các mối quan hệ giữa các biến chủ yếu (quan hệ nhân quả). Thí dụ: - Mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá và khí hậu đến sự suy thoái môi trường. - Mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội,… đến tình hình đói nghèo. - Sơ đồ tổ chức. - Biểu đồ Venn Biểu đồ Venn chỉ rõ các tổ chức và cá nhân chủ yếu trong một cộng đồng cùng mối quan hệ và tầm quan trọng của họ đối với việc xây dựng quyết định. Các bước: - Thu thập thông tin từ các nguồn dữ liệu thứ cấp, các cuộc phỏng vấn nhóm hoặc những người cung cấp thông tin chủ yếu. - Xác định các tổ chức và cá nhân chủ yếu chịu trách nhiệm đối với các quyết định trong một cộng đồng hay tổ chức. - Vẽ (cắt) các vòng tròn tiêu biểu cho mỗi cá nhân hoặc tổ chức, kích cỡ của vòng tròn chỉ rõ mức độ quan trọng hoặc phạm vi của mỗi tổ chức hoặc cá nhân. - Xác định mức độ quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân: sắp xếp các vòng, tròn như sau: + Vòng tròn riêng rẽ = không có mối quan hệ. + Vòng tròn tiếp xúc nhau = thông tin được trao đổi. + Vòng tròn chồng lắp nhau = có hợp tác trong việc xây dựng quyết định (mức độ chồng lắp càng nhiều = hợp tác càng đáng kể, chặt chẽ hơn). Lưu ý: Khuyến khích các thành viên cộng đồng xây dựng biểu đồ riêng của họ.
  15. 67 CQ xã Chồm xóm Chủ vật tư phân bón CQ ấp Cộng đồng Cán bộ kỹ thuật Tổ liên quan Hình 3.1 Mối quan hệ giữa cộng đồng và các tổ chức (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) + Xếp hạng phân loại giàu nghèo Xếp hạng hoặc cho điểm là sắp xếp việc gì đó theo một trật tự. Các công cụ phân tích như xếp hạng sẽ bổ sung cho phỏng vấn bán cấu trúc thông qua việc tạo ra các thông tin cơ bản có thể dẫn đến nhiều câu hỏi trực tiếp hơn. Các công cụ đó có thể được sử dụng như một phần cuộc phỏng vấn hoặc sử dụng riêng lẽ. Xếp hạng là một công cụ thực sự bổ ích đối với các thông tin nhạy cảm, đặc biệt là mức thu nhập hoặc mức độ giàu nghèo. Người cung cấp thông tin thường có xu hướng sẵn sàng cung cấp các giá trị tương đối về mức độ giàu nghèo của họ hơn là các con số chính xác tuyệt đối. Như vậy, nên nói "Hãy phân hạng các nguồn thu thập của ông bà theo tầm quan trọng" hơn là hỏi "Ông bà thu nhập được bao nhiêu?". Xếp hạng còn có ưu điểm nữa là nó dễ dàng thực hiện hơn là biện pháp đo đếm tuyệt đối. - Có nhiều phương pháp xếp hạng. Có thể kể: + Xếp hạng theo ưu tiên (xếp hạng bằng cách bỏ phiếu). + Xếp hạng theo cặp (đôi). + Xếp hạng theo ma trận trực tiếp. + Xếp hạng giàu nghèo. Chọn nông hộ nghèo để đầu tư, thường sử dụng phương pháp "Xếp hạng giàu nghèo" để chọn lọc ra nông hộ nghèo trong vùng. Sự khác biệt về mức độ giàu nghèo luôn tồn tại trong một cộng đồng. Các khác biệt này có ảnh hưởng đến quyết định tính cách, chiến lược đối phó, và quan điểm của người dân. Xếp hạng giàu nghèo cho phép nhóm PRA:
  16. 68 - Nhận ra sự khác biệt giàu nghèo trong một cộng đồng. - Phát hiện các chỉ số về tiêu chí giàu nghèo và mức sống của địa phương. - Thiết lập “vị trí” tương đối của các hộ trong cộng đồng. Thông tin sơ lược về kinh tế xã hội cộng đồng này có thể được dùng làm cơ sở cho việc chọn mẫu điều tra sau này hoặc xác định các thành viên của dự án (như người nghèo nhất, người cần được huấn luyện), và để xem sau một thời gian các gia đình tham gia dự án có cải thiện được tình hình của họ so với những người không tham gia dự án không. Xếp hạng này hữu ích như phần mở đầu để thảo luận về các chiến lược, cơ hội, khó khăn và giải pháp có thể có. - Các nguyên tắc - Người bên ngoài và thành viên cộng đồng có nhận thức khác nhau về sự giàu có, mức sống và sự bất bình đẳng. Tuy nhiên nhận thức của người dân địa phương có ý nghĩa quyết định có hiểu biết sâu sắc hơn về cộng đồng. - Những người dân khác nhau trong cộng đồng (đàn ông, đàn bà, người buôn bán, người làm công,…) có thể sử dụng các tiêu chí (đánh giá giàu nghèo) khác nhau. - Việc tìm hiểu biến động tình hình kinh tế-xã hội trong cộng đồng là hữu ích cho PRA. - Xếp hạng giàu nghèo dựa trên giả định là các thành viên cộng đồng cảm nhận được ai trong số họ giàu hơn hoặc có mức sống kém hơn. Cần lưu ý rằng đó là nhận thức riêng của cộng đồng về tình hình (của họ). Nên kiểm tra chéo kết quả thu được với các phương pháp (như bảng câu hỏi dùng trong quan sát trực tiếp). Chú ý - Phương pháp này đơn giản, linh hoạt, đòi hỏi ít thời gian với sự tham gia của một số thành viên cộng đồng. Tuy nhiên, nó khó thực hiện ở các vùng đông dân cư vì khó tìm được hiểu biết tất cả các hộ với tên chủ hộ. - Vì các nhóm khác nhau có cái nhìn khác nhau về bản thân họ nên kết quả thu được ở các xã khác nhau không thể so sánh được. Một số cộng đồng tương đối khá giả có thể tự xếp mình là kém hơn cộng đồng rất nghèo khác. Trong vài trường hợp, cộng đồng có thể chống đối việc phân loại này. Một số người trong cộng đồng lại cố tình hạ thấp “hạng” để mong cộng đồng có thể nhận được “viện trợ” hoặc đầu tư từ nhà nước và nhất là các tổ chức quốc tế. - Các bước tiến hành xếp hạng giàu nghèo - Lập danh sách tất cả các hộ trong cộng đồng kèm số liệu (số thứ tự). Tên chủ hộ và số liệu mỗi hộ được viết trên từng phiếu riêng. - Đề nghị từng người, trong nhóm người cung cấp thông tin chính người trong cộng đồng đã sống, lâu năm trong cộng đồng và biết tất cả các hộ, phân các phiếu theo nhóm nghèo trong cộng đồng (số nhóm và tiêu chí phân loại do họ quyết định). Nếu người trong cộng đồng này không biết chữ, nhóm PRA đọc to tên người trong phiếu để ông bà trong cộng đồng đó đặt phiếu vào nhóm do họ chọn. Nếu trong cộng đồng không thể xếp hạng cho một hộ nào đó (vì không biết hộ này hoặc không quyết định được nên xếp vào nhóm nào) thì tiếp tục xếp cho hộ khác. Cần ít
  17. 69 nhất 3 người trong cộng đồng độc lập phân loại các hộ nhằm đảm bảo kết quả tin cậy được. - Dùng giỏ hoặc hộp nhỏ có ghi số (số nhỏ là nghèo, số lớn hơn là khá hơn) để giúp người phân loại (người trong cộng đồng) nhớ được các hạng giàu nghèo dễ dàng hơn và nhóm PRA ghi nhận kết quả mà không nhầm lẫn. Trộn các phiếu ở các nhóm lại trước khi để người khác trong cộng đồng phân loại để tránh các định kiến từ kết quả phân loại trước. - Sau khi phân loại, nên hỏi người trong cộng đồng về các tiêu chí phân loại cho mỗi nhóm và sự khác biệt giữa các nhóm. Phải nắm chắc người được nhờ phân loại là những người đáng tin cậy và không bàn bạc về “hạng” của từng gia đình để tránh những cảm giác xấu trong nội bộ cộng đồng. Lập danh mục các tiêu chí và chỉ số đã tạo được khi thảo luận về việc xếp hạng, và kiểm tra các khác biệt kết quả từ những người cung cấp thông tin. - Sau khi người được chọn trong cộng đồng đã phân loại tất cả các phiếu thành các nhóm, nhóm PRA ghi kết quả của mỗi hộ vào biểu điểm có số nhóm. Nếu số nhóm giàu nghèo do người phân loại cung cấp khác nhau thì phải cho điểm mỗi hộ bằng cách nhận “chỉ số giàu nghèo” do người trong cộng đồng sử dụng với 100. Thí dụ, một hộ được xếp vào nhóm 3 trong 5 nhóm thì sẽ có số điểm là 60 (3/5x100=60). - Ghi điểm của các hộ (được cho bởi các người phân nhóm) vào các cột chung một bảng điểm rồi cộng lại và chia cho số người phân loại (số cột) để có số điểm trung bình. Cần kiểm tra xem kết quả giữa các người phân nhóm có khác biệt lớn không. Nếu có thì hủy bỏ kết quả cung cấp bởi các người được chọn phân nhóm và nhờ một người khác trong cộng đồng làm lại việc phân loại. - Cuối cùng sắp xếp các hộ theo các nhóm giàu nghèo. Nếu số nhóm do các người phân loại sử dụng khác nhau thì lấy số trung bình. Thí dụ 4 người phân loại có 4,5,6,7 nhóm thì có thể chia cộng đồng thành 5 nhóm giàu nghèo (4+5+6+7)/4 = 5,2. 3.1.2 Điều tra khảo sát chi tiết: Phương pháp phỏng vấn có sử dụng phiếu Phương pháp dùng phiếu điều tra thường được sử dụng cho những nghiên cứu sâu với những mục tiêu lâu dài nhằm phát triển sản xuất cho những vùng rộng lớn. Phiếu điều tra là tập câu hỏi được soạn sẵn dùng để thu thập những dữ kiện định lượng. Phiếu điều tra tùy thuộc mục đích của cuộc phỏng vấn, và thông thường được soạn sơ khởi để điều tra thử sau đó nhà nghiên cứu trở về sửa chửa bổ sung cho phù hợp với thực trạng, và thực hiện điều tra chính thức. Mô tả điểm chi tiết được thực hiện bằng cuộc điều tra khảo sát, phỏng vấn quy mô với nhiều chương mục chi tiết. Sơ lược tiến trình như sau: - Tìm hiểu sơ khởi về điểm nghiên cứu trong vùng mục tiêu bằng những lần dã ngoại quan sát trực tiếp. Áp dụng việc phỏng vấn những người am hiểu sự việc, các cấp lãnh đạo, tận dụng những nguồn thông tin khác để có cái nhìn tổng quát về điểm nghiên cứu. - Áp dụng những phương pháp thu thập thông tin để xác định sơ khởi những khó khăn trở ngại trong sản xuất hiện tại.
  18. 70 - Phác thảo tập câu hỏi dựa trên các dữ kiện thu thập được từ các công việc trên đây để chuẩn bị cho việc phỏng vấn thử tại điểm. Nội dung của các câu hỏi, chi tiết của từng chương mục trong tập câu hỏi được thiết kế tùy thuộc vào mục đích của cuộc điều tra. - Thực hiện cuộc phỏng vấn thử để kiểm chứng lại các câu hỏi trong tập câu hỏi. Có thể thực hiện phương pháp KIP song song với phỏng vấn thử để kiểm chứng cùng lúc. - Biên soạn, sửa chữa lại các chi tiết trong tập câu hỏi cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương về nội dung các câu hỏi, cấu trúc câu văn, thứ tự câu hỏi, thứ tự câu văn về sự chính xác của thuật ngữ, các đơn vị đo lường, các từ ngữ địa phương sao cho có sự hiểu biết và cảm thông hoàn toàn giữa người phỏng vấn và nông dân. - Thực hiện cuộc phỏng vấn chính thức. - Hiệu chỉnh, tính toán, xử lý các dữ liệu thu thập được sau cuộc phỏng vấn. Lập các biểu bảng tóm tắt các kết quả thu thập được, kể cả các bản đồ các hình ảnh minh họa, các biểu đồ tóm tắt các kết quả thu được, các đồ biểu, các lịch thời vụ, lịch khí tượng, lịch về tiền vốn, lao động. v.v... - Trình bày các kết quả sơ khởi trước nhóm nghiên cứu và ghi nhận các phản ảnh từ các thành viên trong nhóm nếu có. - Mời đại biểu nông dân, nhóm KIP tập trung tại điểm nghe báo cáo kết quả và ghi nhận phản ảnh từ phía nông dân. - Hiệu chỉnh việc tính toán, phân tích số liệu và tập trung viết báo cáo chính thức về kết quả mô tả điểm. Có thể sử dụng các kết quả từ mô tả sơ khởi, các hình ảnh số liệu, v.v... để bổ sung cho các kết quả từ cuộc phỏng vấn chính thức. - Xác định lại những khó khăn trở ngại trong sản xuất hiện tại, những triển vọng trong tương lai bằng các dữ kiện vừa thu thập được qua cuộc điều tra. Kết hợp với các phương pháp xác định nguyên nhân và hậu quả, SWOT để thực hiện tốt việc này. - Thiết lập các giả thiết và những hướng thực hiện thí nghiệm trên đồng ruộng. Kết quả từ các thí nghiệm và những hướng thực hiện thí nghiệm trên đồng ruộng. Kết quả từ các thí nghiệm này và các thí nghiệm kế tiếp được bổ sung vào kết quả mô tả điểm. Kết quả những thay đổi về mặt năng suất, về mặt kinh tế cũng góp phần bổ sung vào mô tả điểm. - Một cách tổng quát mô tả điểm là một tiến trình mở, nó được thực hiện liên tục qua nhiều giai đoạn nghiên cứu HTCT, bởi vì càng hiểu rõ về điểm nghiên cứu, nhóm nghiên cứu càng có đủ cơ sở đưa ra những dự án phát triển tốt hơn. 3.1.3 Tổ chức cuộc điều tra phỏng vấn * Xây dựng phiếu điều tra Phiếu điều tra: Là một tập câu hỏi in sẵn dùng để thu thập những dữ kiện có tính chất số lượng về tình trạng sản xuất của nông dân. Tuỳ thuộc mục đích sử dụng mà phiếu điều tra được thiết kế theo những thứ tự, những nội dung thích hợp. Phiếu
  19. 71 câu hỏi giúp tiêu chuẩn hoá dữ kiện, tập trung vấn đề chính, bảo đảm độ chính xác và mức độ đo lường cần thiết. * Thảo câu hỏi Phải chắc rằng ngôn ngữ dùng trong câu hỏi đơn giản và dễ hiểu để người được phỏng vấn có thể trả lời một cách tin cậy và chính xác. Những câu hỏi về kỹ thuật canh tác phải liên quan đến nơi nông dân sống và canh tác vì nông dân biết những gì xảy ra trên ruộng của họ hàng ngày. Câu hỏi có 3 dạng: mở, lựa chọn và có định hướng. Thường khi soạn thảo câu hỏi cần tránh: - Câu có quá nhiều chi tiết. - Dùng từ mơ hồ hoặc quá chuyên môn. - Câu hỏi gợi lên trả lời trùng lấp. - Đơn vị không rõ ràng. - Vượt khả năng trả lời nông dân. - Có tính cách định hướng hoặc không thực tế. * Chọn và tập huấn điều tra viên - Tiêu chuẩn: ngôn ngữ, xuất xứ, phái tính, văn hóa, kinh nghiệm và phẩm chất cá nhân. - Tập huấn: nội dung và phương pháp điều tra. * Tổ chức điều tra thử Để chắc có được câu trả lời đáng tin cậy cần phải phỏng vấn thử, đi hỏi những người có quá trình học vấn, kinh nghiệm tương tự như những người sẽ được phỏng vấn thực sự. So sánh các câu trả lời riêng từng cá nhân. Những câu hỏi được những câu trả lời giống nhau từ nhiều người được xem như đáng tin và cần được dùng trong cuộc phỏng vấn. Những câu hỏi được trả lời khác nhau hoặc không phù hợp phải được loại bỏ hoặc phải được cải tiến, và được thử lại. * Chọn người để phỏng vấn Chọn người để phỏng vấn càng cẩn thận thì tin tức thu thập được càng đáng tin cậy và chính xác. Người được phỏng vấn càng am hiểu vấn đề thì tin tức càng tốt. Thí dụ về kỹ thuật canh tác cần chọn những người lớn tuổi, có học, đã sống và trồng trọt tại địa phương hầu như cả đời họ. Để tránh nghi ngờ và thiếu hợp tác cần giải thích về chương trình nghiên cứu cho nông dân và viên chức địa phương. Nếu họ hiểu được việc sẽ trở nên dễ dàng. Thứ hai là cần có giấy giới thiệu của chính quyền cấp trên nêu rõ mục đích. Thứ ba là tiếp xúc với những nhân vật quan trọng tại địa phương trước khi thực hiện phỏng vấn, việc đó giúp có liên hệ tốt với công chúng. Cũng hữu ích nếu hẹn lịch cụ thể với những người sẽ được phỏng vấn, như thế họ sẽ sắp xếp mà không phải làm việc gì khác.
  20. 72 * Dự trù chi phí cho cuộc điều tra - Có 2 loại chi phí: phí biến động và phí cố định Phí cố định bao gồm: + Tiền lương của cán bộ thường trực. + Văn phòng, dụng cụ và phương tiện. + Phân tích các dữ kiện và báo cáo. + Chi phí in ấn. - Phí biến động bao gồm: + Tiền công thuê nhân viên phục vụ điều tra. + Phí đi lại và ăn ở hằng ngày. + Sản xuất phiếu điều tra. + Xử lý sơ khởi và lên bảng số liệu. 3.1.4 Những trường hợp bị nhiểu thông tin khi điều tra Trong bất kỳ cuộc nghiên cứu nào cũng cần phải cẩn thận trong việc thu thập thông tin, bởi vì thu thập dữ liệu không chính xác sẽ dẫn đến việc chẩn đoán sai, như thế sẽ có những biện pháp thực hiện không phù hợp. Những cuộc thăm viếng ngắn mà người ta gọi là “cưởi ngựa xem hoa” thường vấp phải những thông tin lệch lạc như sau: - Điều kiện đường sá: Do tâm lý ngại đi các đường xấu nhóm nghiên cứu chọn đường dễ đi nên không gặp được nông dân nghèo ở những vùng sâu kém phát triển, chỉ gặp được những nông dân có điều kiện tốt hơn. - Ngại khó và tiết kiệm thì giờ: Người ngoài thường liên hệ với cán bộ phụ trách những dự án địa phương, vì thế họ chỉ được viếng thăm những vùng trong dự án mà không biết được tình trạng của những khu vực ngoài phạm vi dự án. - Không đúng đối tượng: Thường người ta thích gặp những người ít nghèo khó hơn và có thể lực hơn, đàn ông hơn đàn bà, người chịu hợp tác, người năng động hơn người thụ động, do đó chỉ biết được một chiều và không phân tích hết những tình thế có thể xảy ra. Ngoài ra viên chức địa phương không muốn cho gặp những người nghèo khổ mà nhóm nghiên cứu lại không đủ thời gian để tiếp xúc với tất cả những cư dân của một khu vực. - Không đúng thời điểm: Ở điều kiện khí hậu nhiệt đới mưa là thời kỳ bất lợi cho nông dân nghèo vì họ làm việc cực khổ hơn, năng suất hoa màu thấp hơn, có thể bị thiếu lương thực, nợ nần, bịnh tật,… Ở vùng nước sâu nhà cửa tiêu điều, sinh hoạt ảm đạm,… nhưng điều này trái hẳn sinh hoạt trong mùa khô. Nếu nhóm nghiên cứu thực hiện dã ngoại trong mùa khô thì sẽ không thấy hết những khó khăn trở ngại đích thực tại địa phương.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản