Giáo trình Kinh tế chính trị - Bài 5: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Chia sẻ: Thị Huyền | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:41

0
107
lượt xem
34
download

Giáo trình Kinh tế chính trị - Bài 5: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Kinh tế chính trị - Bài 5: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với  phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam với các vấn đề chính hướng đến trình bày: Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế tri thức, bối cảnh mới và sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo nắm bắt nội dung thông tin tài liệu. 

 

 

 

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Kinh tế chính trị - Bài 5: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

  1. CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ­ HÀNH CHÍNH Giáo trình môn:  Kinh tế chính trị Bài 5 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI  PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM Người biên soạn:                PGS, TS An Như Hải Số tiết giảng trên lớp:            10 Mục tiêu của bài:  ­ Kiến thức: Trang bị  những cơ sở  lý luận của chủ  nghĩa Mác­Lênin,  tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự  cần thiết, nội dung và điều kiện, tiền đề  để  đẩy mạnh công nghiệp hóa,  hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế  tri thức  ở  Việt Nam  trong bối cảnh mới của cách mạng khoa học – công nghệ  hiện đại và hội  nhập kinh tế quốc tế.    ­ Kỹ năng: Trên cơ sở các kiến thức trên và kinh nghiệm thực tiễn của   bản thân, người học có thể  phát triển việc nghiên cứu, đề  xuất việc vận  dụng chủ trương, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về CNH,   HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức vào thực tiễn ngành, địa phương mà   mình công tác. ­ Tư  tưởng:  Nhận thức đúng tầm quan trọng của đẩy mạnh  CNH,  HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong các nhiệm vụ kinh   tế  xã hội của thời kỳ  quá độ  lên chủ  nghĩa xã hội cũng như  trong yêu cầu  phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta để  chủ động sáng tạo trong hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn. 1
  2. Nội dung chi tiết: 1. QUAN NIỆM VỀ  CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN  ĐẠI  HÓA VÀ  KINH TẾ TRI THỨC 1.1. Quan niệm về công nghiệp hóa Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, cuộc Cách mạng công nghiệp được diễn  ra  ở  nước Anh với sự  xuất hiện “chiếc thoi bay” trong lĩnh vực se sợi.  Nước Anh trở thành quê hương của Cách mạng công nghiệp, là nước tiến  CNH đầu tiên. Manchester là thành phố công nghiệp đầu tiên trên thế giới.  Kể  từ  đây, nhân loại bước vào một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn   CNH.  Sau Anh là lần lượt các nước: Pháp vào đầu thế kỷ XIX, Mỹ và Đức   vào giữa thế  kỷ XIX, Nhật, Nga và nhiều nước châu Âu khác vào cuối thế  kỷ XIX đầu thế kỷ XX tiến hành CNH và đã lần lượt trở thành nước công   nghiệp.  Sau Chiến tranh thế  giới lần thứ  hai (giữa thế  kỷ  XX), nhiều nước   thuộc Thế  giới thứ  ba1 tiến hành quá trình này với Chiến lược CNH riêng  của mình. Một số dựa theo mô hình CNH của Liên xô (cũ), một số dựa theo   mô hình của Mỹ. Đến nay, một số nước đã thực hiện CNH rút ngắn thành   công, đã trở thành nước công nghiệp. Tuy nhiên, còn không ít nước trong đó  có Việt Nam vẫn trong tình trạng nền kinh tế  nông nghiệp, đang trong giai  đoạn tiến hành CNH. Do thời điểm lịch sử  tiến hành CNH  ở  các nước không giống nhau   nên đã có những quan niệm khác nhau về CNH. Việc nhận thức đúng phạm   trù  CNH  trong một giai đoạn phát triển cụ  thể  của đất nước là rất cần  1  "Thế giới thứ ba" được sử dụng lần đầu tiên năm  1952 bởi nhà nhân khẩu học Pháp Alfred Sauvy đặt ra  khi liên tưởng đến Đẳng cấp thứ  ba trong Cách mạng Pháp. Về  sau, nó trở  thành từ  ngữ  chỉ  các nước  không thuộc thế giới phương Tây, cũng không thuộc hệ  thống xã hội chủ  nghĩa trong Chiến tranh lạnh.  Những   nước   này   tham   gia  Phong   trào   không   liên   kết  thành   lập   năm   1955   sau  Hội   nghị   Bandung  (Indonesia). Ngày nay, từ ngữ này để chỉ các nước đang phát triển, bất kể hình thức chính trị ra sao. 2
  3. thiết, nó không chỉ  có ý nghĩa về  lý luận mà còn có tính thiết thực trong   hoạch định và thực thi chính sách phát triển.  Thực tế lịch sử cho thấy, những nước đi đầu về CNH như Anh, Pháp  và một số nước Tây Âu khác vào thời điểm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ  XIX, đi liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ  nhất với công nghệ  chủ đạo là máy hơi nước. Trong điều kiện đó, CNH được hiểu là quá trình   thay thế  lao động thủ  công bằng lao động sử  dụng máy móc, quá trình   chuyển nền kinh tế từ  nông nghiệp là chủ  yếu lên công nghiệp, biến một   nước nông nghiệp truyền thống thành nước công nghiệp. Những biểu hiện đầu tiên của CNH được gắn với nội dung của cuộc   cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Đó là: (i) Chuyển chỗ làm việc từ gia   đình vào các công xưởng trên quy mô lớn; (ii) Tập trung dân cư   ở  các khu  đô thị; (iii) Thay thế  hệ  thống kỹ thuật thủ công dựa vào gỗ, sức cơ  bắp,  sức nước, sức gió và sức kéo động vật bằng một hệ thống kỹ thuật cơ khí  với nguồn động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và  năng lượng mới là sắt và than đá, tạo ra sự  đột phá trong phát triển lực   lượng sản xuất, tạo bước phát triển vượt bậc của công nghiệp; (iv) Tạo ra  những công việc kinh doanh mới nhờ có được những mạng lưới giao thông,  vận tải và thông tin liên lạc mới; (v) Tăng mạnh quy mô của thị trường và  việc sử dụng tín dụng, ngân hàng và các dịch vụ  tài chính có liên quan; và  (vi) Áp dụng rộng rãi các phát minh mới. Với những biểu hiện đó, CNH  còn được hiểu là quá trình nâng cao tỷ  trọng của công nghiệp trong toàn  bộ  các ngành kinh tế của một vùng hay một nền kinh tế, quá trình chuyển   nền kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp lên nền kinh tế dựa chủ yếu vào   công nghiệp.  Đây không chỉ  là quá trình chuyển biến về  kinh tế  mà còn  chuyển biến cả  về  văn hóa và xã hội để  đạt tới một xã hội mới ­ xã hội   công nghiệp. 3
  4. Đến nửa cuối thế kỷ XIX, cuộc  cách mạng công nghiệp lần thứ  hai  được diễn ra với quy mô và thành quả lớn hơn rất nhiều so với cuộc cách   mạng công nghiệp lần thứ nhất. Nhiều công nghệ mới được sản xuất ra và  đưa vào sử dụng. Điển hình là con người đã sản xuất ra động cơ điện vào  năm 1872,  sản xuất ra  động cơ  đốt trong (động cơ  diesel) vào năm 1883,  sản xuất ra kim loại màu và các hóa phẩm tổng hợp. Trong điều kiện đó,   quan niệm về  CNH có sự thay đổi. Nó không còn đơn thuần là cơ khí hóa,   mà còn được gắn với quá trình điện khí hóa, hóa học hóa và cơ giới hóa.  Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (khoảng giữa thế kỷ XX), cuộc   cách mạng công nghiệp lần thứ  ba được diễn ra trên thế  giới với sự  phát   triển vượt bậc và có tính đột phá của khoa học và công nghệ. Trong giai  đoạn này, tuy những quốc gia đã hoàn thành CNH đang tiến rất mạnh vào   nền kinh tế hiện đại, nhưng còn không ít quốc gia vẫn trong tình trạng nền  kinh tế lạc hậu, đang hoặc thậm chí có nước còn chưa bước vào giai đoạn   CNH. Trong bối cảnh đó, việc nhận thức phạm trù CNH còn được hiểu đó  là quá trình tự  động hóa sản xuất và phát triển các công nghệ chất lượng   cao… Ngoài những quan niệm trên, trong kho tàng tri thức của nhân loại còn  có những quan niệm khác về  CNH dựa trên một số  mục tiêu nhất định về  trình độ phát triển của tư liệu lao động, phương thức tổ chức sản xuất, thu   nhập quốc dân, cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp, cơ cấu lao động, mức  độ phát triển công nghiệp chế tác, loại công cụ sản xuất, các hàm sản xuất   cơ bản, phương thức sản xuất... Tuy có những quan niệm khác nhau về  CNH, nhưng về  cơ  bản các   quan niệm trên vẫn có những điểm chung và có thể  được hiểu theo hai  nghĩa:  4
  5. ­  Theo nghĩa hẹp, CNH là quá trình chuyển dịch từ  kinh tế  nông  nghiệp (hay tiền công nghiệp) lên nền kinh tế  lấy công nghiệp làm chủ  đạo, từ  chỗ  tỷ  trọng lao động nông nghiệp chiếm chủ  yếu giảm dần và  nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn.  ­  Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ  kinh tế  nông  nghiệp (hay tiền công nghiệp) lên kinh tế  công nghiệp, từ  xã hội nông  nghiệp lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công  nghiệp. Nó không chỉ đơn thuần là những biến đổi về  kinh tế mà bao gồm  cả  các biến đổi về  văn hóa và xã hội từ  trạng thái nông nghiệp lên xã hội  công nghiệp, tức là trình độ văn minh cao hơn. 1.2. Quan niệm về hiện đại hóa Theo cách hiểu thông thường, hiện đại hóa (HĐH) là quá trình “làm  cho mang tính chất của thời đại ngày nay”2, Đó là quá trình biến đổi từ tính  chất truyền thống cũ lên trình độ tiên tiến của thời đại hiện nay.  Theo ý nghĩa về  kinh tế  ­ xã hội, HĐH là quá trình chuyển dịch căn  bản từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, quá trình làm cho nền kinh  tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay.  HĐH về kinh tế vừa có sự thay đổi về tính chất, vừa có tính xác định  về thời gian. Giai đoạn đầu của hiện đại hóa được xác định trùng với thời  kỳ  diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ  nhất (còn gọi là thời kỳ  CNH). Trong giai đoạn này, CNH là nội dung cốt lõi của HĐH.  Tuy một số  nước đi trước đã hoàn thành CNH và đã trở  thành nước  công nghiệp phát triển, nhưng quá trình HĐH  ở  các nước đó vẫn tiếp tục  diễn ra ở trình độ cao hơn. Thực tế cho thấy, ở mỗi trình độ phát triển khác   nhau, HĐH mang những đặc trưng khác nhau.   Viện Ngôn ngữ học (1995), Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Đà Nẵng, tr 422. 2 5
  6. Đối với các nước phát triển, HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hội  dựa trên nền kinh tế công nghiệp lên xã hội dựa trên nền kinh tế tri thức.  Đối với các nước đang phát triển, HĐH là quá trình tăng tốc, rút ngắn  lộ  trình phát triển để đuổi kịp các nước đi trước và phát triển hơn. Do tiến  hành CNH trong bối cảnh mới của thế giới nên bên cạnh việc dựa vào các  nguồn lực trong nước, các nước đang phát triển còn tranh thủ các nguồn lực   từ bên ngoài thông qua thu hút đầu tư để tìm kiếm nguồn vốn và công nghệ  mới. Đây chính là kiểu CNH rút ngắn hiện đại. Nó khác với kiểu CNH rút   ngắn cổ điển đã từng tiến hành ở các nước như  Liên Xô (cũ) và Nhật Bản   vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trước đây.  CNH rút ngắn hiện đại là cách thức mà nước đi sau tiến hành CNH   khi trên thế giới đã có những quốc gia hoàn thành CNH, những nội dung của  CNH đã được triển khai  ổn định  ở  các nước đi trước   (gọi là nước công  nghiệp phát triển). Do sự  biến đổi nhanh chóng của tiến bộ  khoa học và  công nghệ, nhất là từ  khi diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ  hiện đại, nên những công nghệ hiện có của các nước này dễ bị lạc hậu. Do  cạnh tranh trên thị  trường, các nước này phải “chiếm lĩnh đỉnh cao công   nghệ”, nên họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ hiện có của họ cho nước đi  sau để bước vào thế hệ công nghệ mới. Bởi vậy, nước đi sau có rất nhiều  phương án lựa chọn trong phát triển công nghệ  mà không nhất thiết phải  dựa vào phát minh. Đây chính là “lợi thế của nước đi sau”. Dựa vào lợi thế  này, nước đi sau có thể  rút ngắn đáng kể  thời gian để  sớm trở  thành nền   kinh tế hiện đại. Tại các nước này, quá trình tiến hành CNH được gắn kết  với quá trình HĐH.  Kế  thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân  loại về CNH và căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam là một  6
  7. nước đi sau đang trong quá trình phát triển, Đảng cộng sản Việt Nam tại  Hội nghị  Trung  ương lần thứ  bảy khóa VII (năm 1994), nêu chủ  trương   tiến hành xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở  Việt  Nam trong giai đoạn mới bằng con đường CNH, HĐH và nêu quan niệm:  “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản   xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế  ­ xã hội, từ  sử  dụng lao động   thủ  công là chính sang sử  dụng một cách phổ  biến sức lao động với công   nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự  phát triển   của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động   xã hội cao”3. Theo quan niệm này, quá trình xây dựng cơ  sở  vật chất – kỹ  thuật   của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH   và HĐH. Nó  không chỉ  đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải  thực hiện chuyển dịch cơ  cấu trong từng ngành, lĩnh vực và toàn bộ  nền   kinh tế  quốc dân theo hướng hiện đại. Nó không chỉ  là một quá trình phát  triển tuần tự  từ  cơ  giới hóa lên tự  động hóa, tin học hóa mà còn kết hợp  giữa thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào   hiện đại  ở  những khâu có thể  và mang tính quyết định. Quan niệm trên   không bó hẹp CNH trong phạm vi trình độ  các lực lượng sản xuất đơn  thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ  khi như cách hiểu trước đây, mà còn là một sự kết hợp với những thành tựu  mới nhất về khoa học và công nghệ của nhân loại.  1.3. Quan niệm về kinh tế tri thức Bên cạnh cách giải thích truyền thống về lịch sử phát triển nhân loại  tiếp cận từ  phương thức sản xuất xã hội, vào đầu những năm 90 thế  kỷ  3   Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa  VII, Hà Nội, tr 65. 7
  8. XX nhiều nhà khoa học còn phân chia giai đoạn lịch sử văn minh nhân loại  căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Theo cách này, nhân  loại đã trải qua nền văn minh nông nghiệp (từ  khi xuất hiện xã hội loài   người đến những năm 70 của thế kỷ XVIII) lên nền văn minh công nghiệp   (từ  những năm 70 thế  kỷ  XVIII đến nay) và đang trong giai đoạn quá độ  chuyển lên một nền văn minh cao hơn gọi là nền văn minh trí tuệ. Trong  đó, nền kinh tế   được  chuyển từ  kinh tế  nông nghiệp  lên  kinh tế  công   nghiệp và đang quá độ chuyển lên kinh tế tri thức.  Kinh tế tri thức là gì? Vào đầu những năm 90 thế  kỷ  XX, do nhận thức về  vai trò quan   trọng hàng đầu của sản xuất, phân phối và sử  dụng tri thức trong tăng  trưởng kinh tế, các nhà khoa học và tổ chức thực tiễn đã sử dụng thuật ngữ  “kinh tế tri thức”. Thuật ngữ này nhanh chóng được thừa nhận và đưa vào   sử  dụng rộng rãi. Tuy đã có nhiều quan niệm và giải thích khác nhau về  thuật ngữ  này4, song các nhà khoa học đều có sự  thống nhất trong nhận   thức về  bản chất của nền kinh tế tri thức khác với hai nền kinh tế  trước  nó. Nếu trong quá trình sản xuất của cải của nền kinh tế nông nghiệp dựa   chủ yếu vào sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên, còn trong  nền kinh tế  công nghiệp tuy đã có sự  trợ  giúp của máy móc nhưng sức cơ  bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ  trọng yếu, thì trong   nền kinh tế  tri thức, tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với sự  phát triển kinh tế ­ xã hội của một quốc gia. 4   Xem: Ngân hàng Thế giới: Báo cáo về tình hình phát triển thế giới: Tri thức cho phát triển, NXB  Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998; OECD, The Knowledge­based Economy, A Set of Facts and Figures,  Paris 1999; Nền kinh tế tri thức – nhận thức và hành động, NXB Thống kê, Hà Nội, 2000; Báo Nhân  Dân ngày 11/7/2001: Kinh tế tri thức; GS.TS. Nguyễn Kế Tuấn (chủ biên): Phát triển kinh tế tri thức  đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; Tạp chí Cộng  sản, ngày 7/5/2012: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi  trường trong thời kỳ quá độ,  http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/ …   8
  9. Trên thực tế, không có một nền kinh tế nông nghiệp hay nền kinh tế  công nghiệp thuần túy. Tức là trong nền kinh tế nông nghiệp cũng đã chứa  đựng một số yếu tố của nền kinh tế công nghiệp và trong nền kinh tế công  nghiệp cũng vẫn còn một số  yếu tố  của nền kinh tế  nông nghiệp. Trong  nền kinh tế nông nghiệp, tri thức chủ yếu là những kinh nghiệm được tích  lũy từ các hoạt động thực tế, năng suất, chất lượng và hiệu quả  sản xuất  đều hết sức thấp kém. So với nền kinh tế nông nghiệp, trong nền kinh tế  công nghiệp, tri thức đã chiếm vị  trí ngày càng quan trọng hơn. Nó không   chỉ là kinh nghiệm từ các hoạt động thực tế, mà còn khám phá ra những quy  luật vận động của tự  nhiên, xã hội và tư  duy để  đưa ra những sáng chế,   phát minh nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trong nền kinh tế  tri thức, tri thức là bộ phận nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất  của  lực lượng sản xuất hiện đại, mà trình độ phát triển của lực lượng sản xuất   lại đóng vai trò quyết định sự phát triển xã hội. Nền kinh tế tri thức có các đặc điểm chủ yếu như sau:  ­ Tri thức là nguồn vốn vô hình to lớn, quan trọng trong đầu tư  phát  triển, nền kinh tế dựa chủ yêu vào tri thức. ­ Sáng tạo là động lực của sự phát triển. ­ Nền kinh tế  có tính chất toàn cầu hóa, trong đó mạng thông tin trở  thành kết cấu hạ tầng quan trọng nhất của xã hội. ­ Sự  di chuyển cơ  cấu lao động theo hướng giảm số  lao động trực   tiếp làm ra của cải, tăng số lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển  sản phẩm và làm văn phòng. ­ Học suốt đời, đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên để  không  ngừng phát triển tri thức, sáng tạo công nghệ mới, làm chủ công nghệ cao,  9
  10. hoàn thiện các kỹ  năng, thích nghi nhanh với sự  phát triển là một yêu cầu  nghiêm ngặt; xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri thức. ­ Tri thức hóa các quyết sách kinh tế. ­ Khác với nền kinh tế  công nghiệp, chủ  thể  là công nhân với các  công cụ  cơ  khí, cho năng suất lao động cao; còn nền  kinh tế  tri thức, chủ  thể là công nhân trí thức với công cụ là tạo ra tri thức, quảng bá tri thức và  sử dụng tri thức. Như vậy, nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế tiếp nối nền kinh tế  công nghiệp, phát triển ở trình độ  cao hơn nền kinh tế công nghiệp, là nền  kinh tế mà nhân loại đang hướng tới. Có thể hiểu kinh tế tri thức là một nền   kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết   định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc   sống.   2. BỐI CẢNH MỚI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH CÔNG   NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ  TRI   THỨC Ở VIỆT NAM 2.1. Bối cảnh mới của công nghiệp hóa, hiện đại hóa  ở  Việt  Nam  Việt Nam tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh mới của tình hình   kinh tế thế giới và trong nước. 2.1.1. Bối cảnh kinh tế thế giới Bước vào thế  kỷ XXI, nền kinh tế thế giới được phát triển theo hai   xu hướng bao trùm là sự phát triển của kinh tế tri thức và toàn cầu hóa kinh  tế.  2.1.1.1. Sự phát triển của kinh tế tri thức 10
  11. Phát triển kinh tế  tri thức là xu hướng dựa trên trình độ  rất cao của  lực lượng sản xuất hơn hẳn so với kinh tế  công nghiệp. Theo xu hướng  này, nền kinh tế thế giới  đang biến đổi sâu sắc và toàn diện cả về trình độ  công nghệ, ngành sản xuất và cơ cấu sản phẩm. Tri thức khoa học và công  nghệ, kỹ  năng của con người là những yếu tố  quyết định nhất của sản   xuất và trở  thành lực lượng sản xuất quan trọng hàng đầu. Những yếu tố  đó trở thành nguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi trong đời sống kinh tế  ­ xã hội thông qua việc tạo ra những ngành sản xuất mới với những công  nghệ   mới,   phương   pháp   sản   xuất   mới,   những   vật   liệu   và   nguồn   năng   lượng mới với những  ưu thế vượt trội so với những công cụ, nguyên liệu,  năng lượng và phương pháp truyền thống do nền kinh tế công nghiệp tạo  ra.  Với xu hướng này, tuy vai trò của con người trong lực lượng sản   xuất không thay đổi,  họ vẫn là chủ thể của quá trình sản xuất, sáng tạo và   áp dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, nhưng tính chất  hoạt động và yêu cầu đặt ra đối với họ  đã có sự  thay đổi căn bản so với   người lao động trong nền kinh tế nông nghiệp và nền kinh tế công nghiệp.  Trong nền kinh tế công nghiệp, cường độ lao động của con người đã được  giảm nhẹ  đáng kể  nhờ  sự  trợ  giúp của máy móc, thiết bị  ngày càng hiện   đại, để  sử  dụng chúng có hiệu quả, người lao động phải có sự  hiểu biết  về tính năng, tác dụng của máy móc đó và về quá trình sản xuất nói chung.   Trong nền kinh tế tri thức, người lao động là người lao động trí óc, họ vừa   nghiên cứu vừa sản xuất, sản phẩm của họ là những phát minh được ứng   dụng ngay vào sản xuất. Tri thức khoa học và công nghệ  là yêu cầu hàng   đầu đối với người lao động. 11
  12. Trên thực tế, xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã được khởi động  cách đây hàng chục năm, nhất là từ cuối những năm 70 thế kỷ XX khi trên  thế  giới bắt đầu diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ  hiện đại.   Theo xu hướng này, đến nay bên cạnh những phát minh mới trong khoa học  cơ bản, con người đã đi rất xa trong việc sáng tạo ra các công cụ sản xuất  mới (máy tính điện tử, máy tự động, hệ  thống máy tự động, robot..), những   năng lượng mới (nguyên tử, nhiệt hạch, mặt trời, thủy triều, gió…), vật liệu  mới (pô­ly­me, vật liệu tổ  hợp composite, gốm cao cấp như siêu bền, siêu   cứng, siêu dẫn…), công nghệ  sinh học (có những đột phá phi thường trong   công nghệ  di truyền tế  bào, vi sinh, enzim… góp phần giải quyết nạn đói,  chữa  bệnh),   nông   nghiệp   (tạo   được   cuộc   cách   mạng   xanh   trong   nông  nghiệp: cơ khí hóa, điện khí hóa .. lai tạo giống mới, không sâu bệnh, nhờ  đó con người đã khắc phục được nạn đói), giao thông vận tải và thông tin  liên lạc (máy bay siêu âm, tàu hỏa siêu tốc, cáp sợi thủy tinh quang dẫn,…  truyền hình trực tiếp, điện thoại di động, công nghệ chinh phục vũ trụ (vệ  tinh nhân tạo, thám hiểm mặt trăng, du hành vũ trụ…), công nghệ thông tin   phát triển và bùng nổ mạnh trên toàn cầu, mạng thông tin máy tính toàn cầu   (Internet) ứng dụng sâu rộng trong mọi ngành kinh tế và xã hội.  Cuộc cách  mạng khoa học và công nghệ  hiện đại chính là bước quá độ  chuyển nền  kinh tế công nghiệp lên nền kinh tế tri thức.  Xu hướng phát triển kinh tế  tri thức đã và đang được diễn ra ngày  càng mạnh mẽ ở các nước công nghiệp phát triển. Do sức hấp dẫn đối với  sự phát triển kinh tế ­ xã hội của xu hướng này mà nó đã và đang cuốn hút   ngày càng nhiều nước đang phát triển. Đã có một số  nước đang phát triển  thành công nhờ phát triển theo xu hướng này5. 5  Ví dụ: Cách đây 40 năm, Gana và Hàn Quốc có cùng mức thu nhập quốc dân theo đầu người. Nhưng vào  đầu những năm 1990, thu nhập bình quân theo đầu người của Hàn Quốc cao hơn thu nhập theo đầu người  của Gana 6 lần. Một số người cho rằng một nửa của sự khác nhau đó là do Hàn Quốc có sự thành công   lớn hơn trong việc thu nhập và sử dụng tri thức (Nguồn: WB,  Báo cáo về tình hình phát triển thế giới: Tri   thức cho phát triển, NXB CTQG, Hà Nội, 1998, tr. 37). 12
  13. 2.1.1.2. Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng trong đó sự   gia tăng manh mẽ ̣   ́ ́ ̣ cac môi quan hê kinh t ế  vượt ra biên giơi quôc gia, v ́ ́ ươn tơi quy mô toan ́ ̀  ̀ ̣ câu, tao nên sự  găn kêt cac nên kinh tê thanh môt nên kinh tê thê gi ́ ́ ́ ̀ ́ ̀ ̣ ̀ ́ ́ ới thông ́   nhât. Theo xu h ́ ướng này, nhân loại đang đẩy nhanh việc đi đến một thị  trường thế giới thống nhất, một hệ thống tài chính tín dụng toàn cầu, phát  triển và mở rộng phân công lao động quốc tế theo chiều sâu, mở rộng giao  lưu kinh tế  và khoa học, công nghệ  giữa các nước, giải quyết các vấn đề  kinh tế  ­ xã hội có tính toàn cầu. Với xu hướng này, thương mại quốc tế  phát triển rất nhanh, đầu tư  nước ngoài tăng trưởng mạnh, thị  trường tài  chính quốc tế được mở rộng và các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày  càng lớn6.  Hiện nay, bên cạnh Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một hình  thức toàn cầu hóa kinh tế  lớn nhất, trên thế  giới còn có các tổ  chức khác   mang tính toàn cầu hóa và nhiều tổ chức kinh tế khu vực như NAFTA, EU,   ASEAN, AFEC, MERCOSUR… và các tổ  chức tiểu vùng như  Hiệp hội  thương mai tự  do châu Âu, Tam giác tăng trưởng Singapore – Malaixia –   Inđônêxia, Hành lang kinh tế Đông – Tây… Xu hướng toàn cầu hóa đã và đang thúc đẩy sự  phát triển lực lượng   sản xuất, đẩy nhanh đầu tư và khai thác triệt để khoa học, công nghệ, tăng  cường hợp tác của các nước theo hướng ngày càng toàn diện và nâng cao   tốc độ  tăng trưởng kinh tế  trên phạm vi toàn cầu. Nó không chỉ  tạo ra cơ  hội mới cho phát triển kinh tế của các nước mà còn đặt các nước, nhất là  các nước đang phát triển trước những thách thức cạnh tranh gay gắt. Trong   xu hướng này, có sự chuyển dịch căn bản lợi thế lợi thế phát triển: từ đất  6   Theo thông tin thì trong vòng ba chục năm gần đây, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của thương   mại quốc tế cao gấp khoảng 1,5­1,6 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu. Nếu tốc độ tăng trưởng   mậu dịch hàng năm của thế giới từ năm 1980 lại đây khoảng 5,5­5,6% thì tốc độ chu chuyển vốn quốc tế  đạt 20%. Chỉ riêng từ năm 1979 đến năm 2006, kim ngạch mậu dịch hai chiếu Mỹ ­ Trung Quốc tăng 144   lần.    13
  14. đai, tài nguyên (lợi thế trong nền kinh tế nông nghiệp) và vốn tài chính (lợi   thế  quyết định của nền kinh tế  công nghiệp) chuyển sang trí tuệ  của con  người (lợi thế của nền kinh tế  tri thức). Việc sản xuất của mỗi quốc gia   sẽ  ngày càng chuyển mạnh theo hướng trở  thành một bộ  phận trong cấu   trúc mạng toàn cầu.  Bối cảnh của kinh tế  thế  giới đã và đang làm xuất hiện những cơ  hội mới và thời cơ  mới cho sự  phát triển nhảy vọt của nước đi sau, tiến  hành CNH muộn như Việt Nam.  2.1.2. Bối cảnh kinh tế trong nước Quá trình CNH  ở nước ta được thực hiện từ đầu những năm 60 của   thế  kỷ  XX. Hơn 50 năm qua, đường lối CNH đất nước đã có những điều  chỉnh khá cơ bản theo sự phát triển của tư duy và điều kiện cụ thể.  Thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1985 là thời kỳ CNH được thực hiện  nhằm phục vụ  cho nền kinh tế  kế  hoạch hóa tập trung. Quá trình CNH  được thực hiện có kết quả ở miền Bắc vào những năm đầu của kế hoạch   5 năm lần thứ nhất (1960­1965). Sau khi đất nước được thống nhất, đường  lối, chính sách CNH đó được thực hiện trên phạm vi cả  nước với những   điều chỉnh và bổ  sung nhất định. Song, do việc duy trì khá lâu cơ  chế  kế  hoạch hóa tập trung trong khi bối cảnh kinh tế trong nước và trên thế giới  đã thay đổi, nên nước ta đã lâm vào khủng hoảng kinh tế  ­ xã hội trong  những năm 80. Từ năm 1986 đến nay là thời kỳ thực hiện đổi mới toàn diện và đồng  bộ  cả  về  tư  duy, quan  điểm  đường  lối và tổ  chức chỉ   đạo thực hiện.  Đường lối CNH đã có những điều chỉnh và bổ sung quan trọng. Năm 1994,   tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã đề ra  đường lối đẩy tới một bước CNH, HĐH. Năm 1996, Đại hội đại biểu toàn  quốc lần thứ  VIII của Đảng đề  ra đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH đất  14
  15. nước. Từ sau  Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001)   đến nay, đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH được gắn với phát triển kinh tế  tri thức. Quá trình CNH, HĐH  ở  Việt Nam thời gian qua đã đạt được những  thành tựu rất quan trọng. Nổi bật là trình độ  công nghệ  của một số  lĩnh  vực được nâng cao theo kịp trình độ của của các nước trong cùng khu vực.   Đã   phát   triển   một   số   ngành   công   nghiệp   chất   lượng   cao  (công nghệ thông tin và  truyền thông, điện tử..). Trình độ  công nghệ  trong  các ngành công nghiệp đã có những tiến bộ vượt bậc, điển hình như trong  cơ  khí chế  tạo máy, đã làm chủ  được các công nghệ  CAD, CAM, CNC   trong thiết kế  chế  tạo các loại máy công cụ  như  máy phay CNC, máy  tiện… đa chức năng tiêu thụ  trong nước và bước đầu xuất khẩu; ngành  đóng tàu sau 15 năm đã rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với thế giới từ 70   – 80 năm còn 20 – 30 năm, hiện được đánh giá xếp thứ 5 thế giới về năng  lực đóng mới. Cả  nước  đã có 286 khu công nghiệp, khu chế  xuất được  thành lập đóng vai trò quan trọng và có tác động lan tỏa trong phát triển   công nghiệp của các vùng, miền, địa phương. Trong nông nghiệp, nhờ đưa  vào áp dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, năng suất  lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi đã tăng lên. Đã hình thành các vùng  chuyên canh lúa gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, thủy sản, rừng nguyên liệu.  Từ  một nước phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, đến nay Việt   Nam đã có một số hàng nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới (xuất  khẩu hạt điều xếp thứ  nhất thế  giới; xuất khẩu gạo, cà phê xếp thứ  hai;  hạt tiêu, chè xếp thứ  năm; thủy sản xếp thứ  mười). Ngành dịch vụ  được   phát triển đa dạng, tăng khá nhanh về quy mô, ngành nghề và thị trường với   15
  16. sự  tham gia mạnh mẽ  của các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh  tế.  Nhờ  đó, từ khi chuyển sang thực hiện CNH, HĐH đến nay, nước ta  đã đạt tốc độ  tăng trưởng kinh tế  cao hơn các giai đoạn trước đó và được  xếp vào nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm  cao nhất thế giới. Theo chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, năm 2009 Việt   Nam đã vượt qua ngưỡng nghèo để tham gia vào nhóm các nước thu nhập  trung bình; thành tựu xóa đói, giảm nghèo được thế  giới thừa nhận là  ấn   tượng…7.  Tuy nhiên, trước yêu cầu phấn đấu đến năm 2020 trở  thành nước  công nghiệp theo hướng hiện đại, quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển  kinh tế  tri thức  ở  nước ta vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, thách   thức. Đó là, tốc độ  và chất lượng tăng trưởng kinh tế  thấp và chưa bền   vững. Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên và  sử dụng nhiều lao động, ít kỹ năng, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học  và công nghệ. Chỉ  số  kinh tế  tri thức còn rất thấp, chưa đạt được điểm  trung bình. Theo phương pháp đánh giá do Viện nghiên cứu của Ngân hàng  Thế giới (WB) đưa ra, thì Chỉ số kinh tế tri thức của Việt Nam năm 2008 là  3,02, xếp thứ  102 trong số  133 quốc gia được phân tích. Chỉ  số  này của   Việt Nam tuy cao hơn của nhóm thu nhập thấp nhưng thấp hơn nhiều so   với chỉ số của nhóm nước thu nhập trung bình thấp (4,1). So với các nước   trong cùng khu vực, chỉ số kinh tế tri thức của nước ta chưa bằng 1/2 chỉ số  đạt được của nhóm nền kinh tế  công nghiệp mới (NIEs gồm Hàn Quốc,  Singapore, Đài Loan, Hồng Kông), thấp hơn khá nhiều so với Malaysia,   Thái Lan, Trung Quốc và Philippines. Năng suất lao động của Việt Nam tuy  đã có chiều hướng tăng (tốc độ  tăng năng suất bình quân giai đoạn 2001 ­  7  http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=20282&print=true, 22/2/2013. 16
  17. 2010 đạt khoảng 4,8%/năm), nhưng vẫn còn thấp hơn so với năng suất lao  động của Trung Quốc khoảng 2,6 lần và Thái Lan 4,3 lần 8. Khả năng cạnh  tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế còn thấp do chi   phí sản xuất của nhiều sản phẩm còn  ở  mức cao. Cơ  cấu nền kinh tế  chuyển dịch chậm và thiếu vững chắc; tính hiện đại còn thấp, chưa đáp  ứng được yêu cầu. Hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất vừa thiếu,   vừa yếu và kém hiệu quả. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động còn mang nặng  tính tự phát, chưa đáp  ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ  cấu kinh tế theo   hướng hiệu quả. Việc sử  dụng nguồn lực của nền kinh tế  chưa có hiệu  quả, còn nhiều lãng phí. Mức sống của người dân  ở  nhiều nơi còn khó  khăn. 2.2. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa  gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam CNH là con đường thiết yếu mà mọi quốc gia đều phải trải qua để  đi tới một xã hội hiện đại.  CNH, HĐH của Việt Nam được tiến hành bối cảnh xu hướng trên  thế  giới đang chuyển mạnh lên nền kinh tế  tri thức và xu hướng toàn cầu   hóa kinh tế đã và đang tác động sâu sắc với tốc độ  cao đến đời sống kinh  tế  ­ xã hội của mọi quốc gia, trong khi đó Việt Nam vẫn trong tình trạng  của một nước có điểm xuất phát thấp, nhiều yếu tố  lạc hậu, phát triển  thiếu bền vững. Trong bối cảnh nhiều cơ hội và thách thức đan xen, để  đi   tới một nền kinh tế hiện đại, Việt Nam phải có những giải pháp bứt phá.   Sự lựa chọn giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri  thức là cấp thiết.  2.2.1. Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là   cách thức để đất nước sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu 8   Ngọc Tuyên, Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn nhiều trở ngại, http://laodong.com.vn/Kinh­ doanh/ .. /32621, Thứ năm 24/02/2011. 17
  18. Trong những năm qua, tuy  đã có những bước  phát triển tích cực,  nhưng về  cơ  bản, nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nước nghèo và  kém phát triển. Chúng ta vẫn phải đương đầu với những thách thức gay gắt  và những nhiệm vụ nan giải: một mặt, tập trung giải quyết các vấn đề cơ  bản đặt ra cho nền kinh tế trong quá trình chuyển từ  kinh tế  nông nghiệp  lên trình độ  của nền kinh tế  công nghiệp, như  bảo đảm lương thực, thực   phẩm, nhu cầu nước sạch, trường học,  đi lại cho người dân; mặt khác,   phải nhanh chóng nắm bắt các xu thế phát triển hiện đại không những chỉ  để chống tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ  chung của thế giới, mà  còn phải thu hẹp khoảng cách   với các nước phát triển khi bản thân họ  đã∙có trình độ  phát triển cao hơn. Khi các yếu tố  cho phát triển không chỉ  đơn thuần là vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, mà còn có thêm yếu tố  tri thức với ý nghĩa là yếu tố quan trọng và trực tiếp đối với quá trình phát  triển, thì việc không nhanh chóng nắm bắt và vận dụng được tri thức mới   sẽ không thể tránh khỏi sự tụt hậu tuyệt đối so với các nước khác. Tri thức   đã trở thành yếu tố của lực lượng sản xuất trực tiếp và có tác động mạnh   mẽ  đến sự  phát triển kinh tế  ­ xã hội. Trong điều kiện đó, nước ta không  thể  bỏ  lỡ  cơ  hội, mà phải tìm giải pháp bứt phá, tức là phải đẩy mạnh   CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Là một nước đang phát triển vừa mới nằm trong nhóm nước có thu  nhập trung bình (nhưng mới chỉ là mức trung bình thấp) lại đặt trong xu thế  mở cửa, hội nhập, việc gắn CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức ngay  trong   quá   trình   chuyển   nền   kinh   tế   nông   nghiệp   lên   nền   kinh   tế   công  nghiệp là một thách thức rất lớn đối với nước ta. Điều này xuất phát từ  thực tiễn của một nước đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn   về  kinh tế  so với các nước trong khu vực và trình độ  phát triển chung của  thế giới. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết, bắt buộc phải giải quyết đồng thời  18
  19. hai nhiệm vụ: phát triển để vượt khỏi sự lạc hậu và chuyển sang phát triển   kinh tế tri thức. 2.2.2. Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là   yêu cầu bắt buộc để  tạo ra cơ  sở  vật chất­kỹ  thuật của chủ nghĩa xã   hội Lịch sử đã chứng minh, mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng dựa   trên một cơ  sở  vật chất – kỹ thuật nhất định để  tồn tại và phát triển. Nó   bao gồm toàn bộ  các yếu tố  vật chất của lực lượng sản xuất tương  ứng   với trình độ kỹ thuật, công nghệ nhất định; dựa vào đó lực lượng lao động  của xã hội tiến hành sản xuất của cải. Một trình độ  nhất định của cơ  sở  vật chất – kỹ  thuật là nội dung kinh tế, là “cốt vật chất” có ý nghĩa xác  định một thời đại kinh tế, phân biệt với phương thức sản xuất chứa đựng  nó thuộc loại hình kinh tế ­ xã hội lịch sử nào. Thực tế  đã chứng minh, các phương thức sản xuất trước chủ  nghĩa   tư bản đều đã dựa trên cơ sở vật chất – kỹ thuật với công cụ lao động thủ  công, lạc hậu, năng suất thấp. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sở  dĩ chiến thắng phương thức sản xuất phong kiến vì nó tạo ra nền đại công  nghiệp để có năng suất lao động cao “chưa từng có dưới chế độ nông nô”.   Do vậy, phương thức sản xuất xã hội chủ  nghĩa tất yếu phải phát triển  dựa trên cơ sở vật chất – kỹ thuật ở trình độ cao hơn chủ nghĩa tư bản.  Cơ  sở  vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp  lớn hiện đại với cơ  cấu kinh tế  hợp lý, trình độ  xã hội hóa cao, dựa trên  nền tảng khoa học và công nghệ  tiên tiến, được hình thành có kế  hoạch   trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ  kế  thừa những thành quả  văn minh mà nhân loại đã đạt được trong chủ  nghĩa tư  bản, mà còn được  phát triển và hoàn thiện trên cơ sở những thành tựu mới nhất của khoa học  19
  20. và công nghệ, tham gia tích cực và có hiệu quả vào phân công lao động và  hợp tác quốc tế.  Đối với các nước đã qua giai đoạn phát triển của chủ  nghĩa tư  bản,   bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc xác lập cở vật chất – kỹ thuật của   chủ nghĩa xã hội được tiến hành thống qua kế thừa, điều chỉnh và hoàn thiện   cơ sở vật chất – kỹ thuật đã đạt được trong chủ  nghĩa tư bản theo yêu cầu   của chế độ mới và phát triển nó lên trình độ  cao hơn. Đối với các nước quá   độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, ở giai đoạn đầu hoặc không   qua giai đoạn phát triển của chủ  nghĩa tư  bản, yêu cầu xây dựng cơ  sở  vật  chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội càng trở nên cấp thiết hơn.  Theo  V.I. Lênin,  “Cơ  sở  vật chất duy nhất và thực sự  để  làm tăng  của cải của chúng ta, để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có thể là đại  công nghiệp... Không có một nền đại công nghiệp tổ  chức cao thì không  thể  nói đến chủ  nghĩa xã hội được, mà lại càng không thể  nói đến chủ  nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp được”9. Tạo lập cơ sở vật chất – kỹ thuật để xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện  thực là đòi hỏi có tính bắt buộc đối với tất cả các nước muốn quá độ lên chủ  nghĩa xã hội10. Điều này càng trở  nên cấp thiết đối với một nước có điểm   xuất phát thấp như Việt Nam. Con đường cơ bản để xây dựng cơ sở vật chất  – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở  nước ta trong bối cảnh hiện nay tất yếu   phải là đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.  Cần nhấn mạnh rằng, xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã và đang  là thách thức và cơ hội lớn đối với nước ta trên con đường xây dựng  cơ sở  vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Nếu không kịp thời nắm bắt thời  cơ, dựa vào kinh tế  tri thức để  đẩy nhanh CNH, HĐH thì nước ta sẽ  tụt   V.I.Lênin: Toàn tập, Tập 32, NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 528­529. 9 10  Xem: V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 41, NXB Tiến Bộ, Matxcơva, 1978, tr. 218. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản