
vii
Số
TT
Tên chƣơng mục
Thời gian
Tổng
số
Lý
thuyết
Thực
hành
Kiểm
tra
I
Một số nội dung cơ bản về đầu tƣ, dự án
đầu tƣ
Đầu tƣ và đầu tƣ phát triển
Dự án đầu tƣ
Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu của môn
học
Phƣơng pháp nghiên cứu và nội dung nghiên
cứu
7
2
5
II
Trình tự, nôi dung nghiên cứu và công tác
tổ chức soạn thảo một dự án đầu tƣ
Trình tự và nội dung nghiên cứu để soạn thảo
dự án đầu tƣ
Tổ chức soạn thảo dự án đầu tƣ
Hình thức của một dự án
8
2
6
III
Nghiên cứu vê thị trƣờng trong dự án đầu
tƣ
8
2
6
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: LẬP VÀ PHÂN TÍCH DỰ ÁN
Mã số môn học:
MH 25
I. Vị trí, tính chất của môn học:
-
Vị
trí:
Môn
học
nghiện
cứu
và
soạn
thảo
dự
án
thuộc
nhóm
các
môn
chuyên
môn
đƣợc bố trí giảng dạy sau khi đã học xong các môn chuyên môn của nghề
-
Tính chất: Môn học nghiện cứu và soạn thảo dự án ứng dụng các môn kinh tế vi mô,
kinh tế vĩ mô, marketing căn bản, tài chính doanh nghiệp, quản trị học để nghiện cứu
và
soạn
thảo
dự
án
đầu
tƣ,
góp
phần
nâng
cao
kỹ
năng
cho
ngƣời
học
nghề
kế
toán
doanh nghiệp.
-Ý nghĩa và vai trò của môn học:
II. Mục tiêu môn học:
-Kiến thức:
+ Xây dựng đƣợc các bƣớc trong nghiên cứu soạn thảo một dự án
+ Giải thích đƣợc các chỉ tiêu trong bản đề án dự án
+
Vận
dụng
kiến
thức
đã
học
từ
các
môn
marketing,
tài
chính
doanh
nghiệp,
quản trị doanh nghiệp để phân tích các chỉ tiêu trong bản đề án dự án
-Kỹ năng:
+ Tính toán đƣợc các chỉ tiêu dùng để lập và phân tích dự án
+ Sử dụng đƣợc phần mềm excel trong một số ứng dụng
+ Thu thập đƣợc các số liệu cần thiết cho dự án
-Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Có ý thức học tập theo phƣơng pháp biết
suy
luận, kết
hợp
lý luận với
thực
tiễn
+ Có thái độ nghiêm túc, cách tiếp cận khoa học khi xem xét một vấn đề kinh tế
III. Nội dung môn học:

viii
Vai trò và mục tiêu nghiên cứu thị trƣờng của
dự án
Phân tích cung cầu về sản phẩm mà dự án
định sản xuất
Các ứng dụng marketing trong phân tích thị
trƣờng dự án
Xây dựng sản phẩm của dự án
Dự báo về cung cầu sản phẩm dự án trong
tƣơng lai
Xây dựng chiến lƣợc tiếp thị cho sản phẩm dự
án
IV
Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật trong dự án
đầu tƣ
Vai trò và yêu cầu của nghiên cứu giải pháp
kỹ thuật trong dƣ án đầu tƣ
Nội dung nghiên cứu giải pháp kỹ thuật dự án.
Xác định công suất của dự án
9
2
6
1
V
Phân tích tài chính trong dự án đầu tƣ Mục
đích, vai trò và yêu cầu trong phân tích tài
chính dự án
Một số nội dung cần xem xét khi khi tiến
hành phân tích tài chính dự án đầu tƣ
Nội dung phân tích tài chính dự án đầu tƣ
7
2
5
VI
Phân tích kinh tế xã hội và đánh giá tác
động về môi trƣờng trong dự án đầu tƣ
Sự cần thiết phải phân tích kinh tế xã hội và
môi trƣờng trong dự án đầu tƣ
Sự khác nhau giữa phân tích tài chính và phân
tích kinh tế xã hội
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội
trong dự án đầu tƣ
Đánh giá tác động của môi trƣờng trong lập
dự án đầu tƣ
8
2
6
VII
Ứng dụng excel trong lập dự án
Tiện ích của excel trong tính toán các chỉ tiêu
tài chính kinh tế
Tiện ích của excel trong tính toán các chỉ tiêu
tài chính kinh tế
Các ứng dụng khác của excel
6
1
5
VIII
Một số nội dung về quản lý thực hiện dự án
Vai trò và đặc điểm quản lý dự án đầu tƣ
Nội dung của quản lý dự án đầu tƣ
Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tƣ
Phƣơng pháp lập kế hoạch và quản lý tiến độ
thực hiện dự án
7
2
4
1
Cộng
60
15
43
2

1
CHƢƠNG 1.
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ, DỰ ÁN ĐẦU TƢ
MÃ CHƢƠNG: MH 25- 01
Giới thiệu:
Hoạt động đầu tƣ (gọi tất là đầu tƣ) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao
động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp
tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh
tế nói chung. Chƣơng này giới thiệu định nghĩa về đầu tƣ và dự án đầu tƣ; Phân biệt
đƣợc các loại hình đầu tƣ và dự án đầu tƣ và cuối cùng là đánh giá đƣợc vai trò của
đầu tƣ đối với tăng trƣởng phát triển kinh tế quốc gia.
Mục tiêu:
- Nêu đƣợc định nghĩa về đầu tƣ và dự án đầu tƣ
- Phân biệt đƣợc các loại hình đầu tƣ và dự án đầu tƣ
- Đánh giá đƣợc vai trò của đầu tƣ đối với tăng trƣởng phát triển kinh tế quốc gia
- Nghiêm túc khi nghiên cứu
1. Đầu tƣ và đầu tƣ phát triển
1.1 Khái niệm về đầu tƣ
Hoạt động đầu tƣ (gọi tất là đầu tƣ) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao
động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp
tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh
tế nói chung, của ngành Bƣu chính Viễn thông (BCVT) nói riêng. Xuất phát từ phạm
vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tƣ, có thể có những cách hiểu khác nhau về
đầu tƣ.
Đầu tƣ theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nào đó nhằm thu về cho ngƣời đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn
hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài
nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt đƣợc có thể là sự tăng
thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.
Đầu tƣ theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại
nhằm đêm lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các
nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc các kết quả đó. Từ đây có khái niệm về đầu tƣ nhƣ
sau: Đầu tƣ là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn
lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tƣơng đối dài nhằm
thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Hoạt động đầu tƣ có những đặc điểm chính
sau đây:
- Trƣớc hết phải có vốn. Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác nhƣ máy
móc thiết bị, nhà xƣởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp,
bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt
nƣớc, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nƣớc, vốn tƣ
nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
- Một đặc điểm khác của đầu tƣ là thời gian tƣơng đối dài, thƣờng từ 2 năm trở lên,
có thể đến 50 năm, nhƣng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn

2
trong vòng một năm tài chính không đƣợc gọi là đầu tƣ. Thời hạn đầu tƣ đƣợc ghi rõ
trong quyết định đầu tƣ hoặc Giấy phép đầu tƣ và còn đƣợc coi là đời sống của dự án.
1.2 Vai trò của đầu tƣ
Lợi ích do đầu tƣ mang lại đƣợc biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua
lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh
tế xã hội thƣờng đƣợc gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hƣởng trực tiếp
đến quyền lợi của chủ đầu tƣ, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hƣởng đến quyền lợi của xã
hội, của cộng đồng.
1.3 Các nguồn vốn cho đầu tƣ
- Đầu tƣ trong nƣớc: Đầu tƣ trong nƣớc là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại
Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài,
ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú lâu dài ở Việt Nam. Đầu tƣ trong nƣớc chịu sự điều chỉnh của
Luật khuyến khích đầu tƣ trong nƣớc.
- Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam: Đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài tại Việt Nam, dƣới
đây gọi tắt là đầu tƣ nƣớc ngoài, là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định
của Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam
- Đầu tƣ ra nƣớc ngoài: Đây là loại đầu tƣ của các tổ chức hoặc cá nhân của nƣớc này
tại nƣớc khác.
2. Dự án đầu tƣ
2.1 Khái niệm dự án đầu tƣ
Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra sản phẩm hoặc
dịch vụ duy nhất trong khoản thời gian xác định với sự ràng buộc về nguồn lực trong
bối cảnh không chắc chắn.
- Tổng thể các hoạt động: Dự án bao gồm nhiều công việc mà tất cả đều phải kết
thúc bằng một sản phẩm giao nộp - sản phẩm, kế hoạch, báo cáo, hồ sơ tài liệu mà
muốn có đều đòi hỏi những quyết định, điều hoà các mặt yêu cầu, các chi phí và sự
chấp nhận rủi ro.
- Các công việc lệ thuộc vào nhau: Vì tất cả đều đáp ứng một mối quan tâm sự
thành công của dự án và do đó tất cả chỉ còn là những đóng góp cho một hệ thống rộng
lớn, hƣớng đích hơn. Sự sắp xếp công việc trong dự án phải tôn trọng một lô gíc về
thời gian.
- Các công việc và tổng thể các công việc cần đƣợc thực hiện trong một thời hạn
xác định. Dự án có điểm bắt đầu và điểm kết thúc.
- Các nguồn lực để thực hiện các công việc và tổng thể công việc là giới hạn. Mỗi
dự án thƣờng tiêu phí các nguồn lực. Các nguồn lực này càng bị ràng buộc chặt chẽ
khi chi phí cho dự án là một số thành công then chốt.
- Các hoạt động của dự án diễn ra trong môi trƣờng không chắc chắn. Môi trƣờng
của dự án không phải là môi trƣờng hiện tại mà là môi trƣờng tƣơng lai.
Nhƣ vậy, dự án và các hoạt động đang tiến hành có những điểm chung. Cả hai đều do
con ngƣời thực hiện và bị giới hạn về nguồn lực, cả hai đều đƣợc lên kế hoạch, thực
hiện và kiểm tra. Sự khác biệt ở chỗ các hoạt động đang đƣợc tiến hành có tính chất
lặp lại, còn dự án thì có thời hạn và là duy nhất.
2.2 Tại sao phải tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo dự án
Dự án – một phƣơng thức hoạt động có hiệu quả: Hoạt động theo dự án là một hoạt
động có kế hoạch, đƣợc kiểm tra để đảm bảo cho một tiến trình chung với các nguồn

3
lực và môi trƣờng đã đƣợc tính toán nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định. Dự án
là điều kiện, tiền đề của sự đổi mới và phát triển. Những năm gần đây, số lƣợng các dự
án tăng lên. Dự án sinh ra nhằm giải quyết những “vấn đề” trên con đƣờng phát triển
của một doanh nghiệp, một quốc gia, một khu vực thậm chí trên phạm vi toàn cầu. Dự
án cho phép hƣớng mọi sự nỗ lực có thời hạn để tạo ra sản phẩm dịch vụ mong muốn.
Nhu cầu muốn trở thành hiện thực phải thông qua hoạt động của con ngƣời. Hoạt động
khôn ngoan là hoạt động theo dự án, những hoạt động đã đƣợc lên kế hoạch và đủ
nguồn lực để đảm bảo sự thành công. Dự án là một hệ thống: Tính hệ thống của một
dự án xuất phát từ những căn cứ sau đây:
- Những hoạt động trong một dự án quan hệ và chi phối lẫn nhau theo những lôgíc
nhất định. Một công việc không đƣợc thực hiện hoặc không thực hiện đúng tiến độ và
chất lƣợng sẽ ảnh hƣởng không tốt đến các công việc khác và toàn bộ các công việc
của dự án.
- Mỗi dự án tồn tại một mục tiêu quy định hoạt động của toàn bộ dự án, tạo ra sự
hạn định về các phƣơng diện của dự án.
- Mỗi dự án đều có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với môi trƣờng. Nhƣ vậy dự án
không chỉ là một hệ thống kỹ thuật, mà nó là một hệ thống xã hội. Một hệ thống đƣợc
đặc trƣng bởi các hoạt động của con ngƣời. Dự án là một hệ thống mở, có sự trao đổi
qua lại với môi trƣờng.
Quan niệm dự án nhƣ một hệ thống có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý dự
án. Một hệ thống muốn tồn tại và phát triển cần phải phù hợp với môi trƣờng, phải có
một cơ cấu hợp lý với những chức năng nhất định, phải đảm bảo đủ đầu vào để có
đƣợc những đầu ra mong muốn, trên hết phải có một cơ chế đều khiển thích ứng cho
hệ thống. Phƣơng pháp phân tích hệ thống trở thành phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù
trong quản lý các dự án. Đặc trƣng của các phƣơng pháp này trong quản lý dự án là:
- Quan niệm dự án nhƣ là một hệ thống các hoạt động có mục đích và mục tiêu ở
mọi giai đoạn khác nhau của dự án.
- Các hoạt động trong một dự án cần đƣợc thực hiện theo những lôgíc chặt chẽ về
thời gian, không gian và vật chất.
- Tính toán đầy đủ đến các yêu tố đảm bảo hiệu quả hoạt động của dự án trong thế
vận động và biến đổi.
2.3 Phân loại dự án đầu tƣ
2.3.1 Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư:
- Đối với dự án đầu tƣ trong nƣớc: Để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tuỳ
theo tính chất của dự án và quy mô đầu tƣ, các dự án đầu tƣ trong nƣớc đƣợc phân
theo 3 nhóm A, B và C. Có hai tiêu thức đƣợc dùng để phân nhóm là dự án thuộc
ngành kinh tế nào?; Dự án có tổng mức đầu tƣ lớn hay nhỏ ? Trong các nhóm thì
nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phức tạp
hơn cả. Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất, mặt nƣớc,
mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có).
- Đối với các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài: gồm 3 loại dự án đầu tƣ nhóm A, B và loại
đƣợc phân cấp cho địa phƣơng.
2.3.2 Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án: Theo trình tự (hoặc theo bước) lập
và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại:
- Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bƣớc này gọi là báo cáo nghiên
cứu tiền khả thi.

