
v
Số
TT
Tên chƣơng, mục
Thời gian(giờ)
Tổng
số
Lý
thuyết
Thực
hành
Kiểm
tra
I
Những vấn đề lý luận chung về Luật
kinh tế
Khái niệm luật kinh tế
Chủ thể của Luật kinh tế
Vai trò của Luật kinh tế đối với nền kinh
3
3
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: LUẬT KINH TẾ
Mã môn học: MH 08
Thời gian
thực hiện
môn học:
30
giờ
(Lý thuyết: 30 giờ; Thực hành: 0; Kiểm tra: 2 giờ)
I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔN HỌC:
-
Vị trí: Là môn khoa học cơ sở trong nội dung chương trình đào tạo của nghề kế
toán
doanh
nghiệp,
được
bố
trí
giảng
dạy
sau
khi
học
các
môn
chung
và
trước
khi
học các môn cơ sở của nghề.
-
Tính
chất:
Luật
kinh
tế
là
môn
học
bắt
buộc,
nghiên
cứu
những
kiến
thức
cơ
bản về hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế, là cơ sở
để học các môn chuyên môn của nghề
II. MỤC TIÊU MÔN HỌC:
-Kiến thức:
+ Trình bày được những nội dung cơ bản của pháp luật kinh tế như hành vi
kinh doanh, phương thức thực hiện hành vi kinh doanh.
+ Phát hiện các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh.
+
Vận
dụng
các
chế tài với hành vi vi phạm
pháp luật kinh tế và vi phạm
hợp đồng kinh tế.
-Kỹ năng:
+ Viết được hợp đồng kinh tế đúng quy định pháp luật.
+ Phân biệt được các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
+ Thực hiện được trình tự, thủ
tục để giải quyết phá sản doanh nghiệp.
+ Giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh.
-Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Tuân thủ pháp luật kinh tế trong thực hiện hành vi kinh doanh.
+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ kinh tế.
+
Có
thái
độ
nghiêm
túc
trong
học
tập,
xác
định
đúng
đắn
động
cơ
và
mục đích
học tập.
III. NỘI DUNG MÔN HỌC:
1. Nội dung tổng quát và phân phối thời gian:

vi
tế quốc dân
II
Chế định pháp lý của các loại hình
doanh nghiệp
Chế định pháp lý của doanh nghiệp nhà
nước
Chế định pháp lý về doanh nghiệp tập thể
(HTX)
Chế định pháp lý về Công ty
Chế định pháp lý về doanh nghiệp tư nhân
Chế định pháp lý về doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài
11
11
III
Chế định pháp lý về hợp đồng kinh tế
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hợp
đồng kinh tế
Ký kết hợp đồng kinh tế
Thực hiện hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hợp
đồng kinh tế vô hiệu
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
kinh tế
6
6
IV
Chế định pháp luật về giải quyết tranh
chấp kinh tế
Khái quát chung về tranh chấp kinh tế
trong kinh doanh
Các phương thức giải quyết tranh chấp
kinh tế ở Việt Nam hiện nay
5
5
V
Chế định pháp lý về phá sản doanh
nghiệp
Khái quát về phá sản và quy định về phá
sản
Trình tự thủ tục giải quyết phá sản doanh
nghiệp
5
5
Tổng số
30
30

1
CHƢƠNG 1. NHữNG VấN Đề LÝ LUậN CHUNG Về LUậT KINH Tế
Mã chƣơng: MH 08- 01
Giới thiệu: Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Luật kinh tế đối với hoạt
động kinh doanh của xã hội
Mục tiêu:
- Trình bày được khái niệm Luật kinh tế
- Trình bày được lịch sử hình thành và phát triển của Luật kinh tế
- Trung thực, nghiêm túc trong nghiên cứu
1. Khái quát chung về hoạt động thƣơng mại và Luật thƣơng mại
1.1 Khái niệm hoạt động thƣơng mại
Sự ra đời và phát triển của hoạt động thương mại gắn liền với nền sản xuất hàng hóa.
Thương mại xuất hiện trên cơ sở sự phân công lao động xã hội, nó tồn tại và phát triển
qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau .
Ban đầu, khái niệm thương mại được hiểu đơn thuần là hoạt động mua bán hàng hóa
nhằm mục đích kiếm lời. Sau đó, cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế - xã
hội, khái niệm thương mại dần được mở rộng hơn trên nhiều lĩnh vực của đời sống, từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ.
Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 cũng xây dựng khái niệm thương mại theo
nghĩa hẹp theo đó “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi
thương mại của thương nhân, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương
mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích sinh lợi nhuận hoặc thực
hiện các chính sách kinh tế xã hội” . Bên cạnh đó, Luật Thương mại năm 1997 còn
định nghĩa thêm hành vi thương mại, theo đó, “Hành vi thương mại là hành vi của
thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các
thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan” .
Theo Ủy ban về luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc thì “Thương mại là hoạt
Hiện nay, khái niệm thương mại ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều
được hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm các quan hệ nêu trên.
Để phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và trong quá trình từng bước hoàn thiện pháp luật
cho yêu cầu hội nhập, Luật Thương mại năm 2005 ra đời thay thế cho Luật Thương
mại năm 1997, đã xây dựng khái niệm hoạt động thương mại theo nghĩa rộng, theo đó
hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi khác .
1.2 Các đặc điểm của hoạt động thƣơng mại
1.2.1 Hoạt động thương mại là hoạt động mang tính chất nghề nghiệp do thương
nhân thực hiện
Hoạt động thương mại được khái quát là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, tuy nhiên
theo một số quan điểm thì các chủ thể pháp luật khi tiến hành các hoạt động phù hợp
với nhu cầu hoặc mục đích tồn tại của mình, và trong chừng mực nhất định, các hoạt
động đó đều được xem là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi cho bản thân chủ thể đó
và cho toàn xã hội , vì thế chúng ta cần hiểu hoạt động thương mại ở đây là hoạt động
nhằm mục đích sinh lời của thương nhân, do thương nhân thực hiện.
1.2.2 Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
Mục đích sinh lợi là mục đích tạo ra lợi nhuận. Khi thực hiện hoạt động thương mại thì
mục đích của thương nhân là muốn có lợi nhuận. Đây là điểm khác biệt với người thực

2
hiện hành vi dân sự chỉ để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng hàng ngày của họ.
Cần lưu ý là mục đích sinh lợi không đồng nghĩa với việc có lợi nhuận. Một người
thực hiện hành vi vì mục đích sinh lợi có thể không đạt được mục đích ấy có lợi
nhuận. Vì vậy ta cần lưu ý là mục đích sinh lợi với kết quả của lợi nhuận.
1.2.3 Hoạt động thương mại được thực hiện trên thị trường
Nơi diễn ra hành vi thương mại là thị trường ở đó các thương nhân thực hiện hoạt
động thương mại. Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động thương mại do thương nhân
thực hiện. Không có thị trường thì không thể xuất hiện hành vi thương mại và đó là lý
do giải thích tại sao nếu chỉ mới có sự trao đổi thì chưa thể có thương mại. Chỉ khi nào
sự trao đổi ấy diễn ra trên thị trường – thị trường xuất hiện – thì mới xuất hiện hoạt
động thương mại.
1.3 Phân loại hoạt động thƣơng mại
-Nhóm hoạt động mua bán hàng hóa: Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động cơ
bản, phổ biến nhất trong các hoạt động thương mại. Theo điều 3 khoản 8 Luật Thương
mại 2005 thì mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ
giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua
có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa
thuận. Tùy vào phương thức giao dịch, hoạt động mua bán hàng hóa có thể phân thành
mua bán hàng hóa thông thường và mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa. Mua
bán hàng hóa cũng có thể phân thành mua bán hàng hóa trong nước và mua bán hàng
hóa quốc tế.
- Nhóm hoạt động cung ứng dịch vụ: Theo điều 3 khoản 9 cung ứng dịch vụ là hoạt
động thương mại, theo đó một bên có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và
nhân thanh toán; bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch
vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Luật Thương mại 2005 không quy định hết tất
cả các dịch vụ mà chỉ quy định một số dịch vụ phổ biến và cơ bản như dịch vụ
logistics, dịch vụ quá cảnh hàng hóa, dịch vụ giám định.
-Nhóm hoạt động xúc tiến thương mại: Đây là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội
mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo
thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại.
- Nhóm hoạt động trung gian thương mại: Đây là các hoạt động của thương nhân để
thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định,
bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán
hàng hóa và đại lý thương mại.
-Nhóm các hoạt động thương mại khác: Đây là các hoạt động thương mại bao gồm đấu
thầu, đấu giá, gia công hàng hóa, cho thuê dịch vụ và nhượng quyền thương mại… và
tất cả các hoạt động thương mại mà thương nhân hướng đến thực hiện nhằm mục đích
sinh lợi.
1.4 Sự ra đời của luật Thƣơng mại
Khi các trình độ của nền sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định thì xã
hội xuất hiện một tầng lớp người chuyên thực hiện các hoạt động mua đi bán lại kiếm
lời, đó chính là các thương gia. Họ coi việc mua đi bán lại như là nghề nghiệp của
mình, nghề đó chính là nghề thương mại.
Sự xuất hiện của các thương gia và nghề thương mại đòi hỏi phải có một hệ thống các
quy tắc pháp lý phù hợp để xác định địa vị pháp lý của các thương gia và các hành vi
thương mại, chính vì thế mà luật thương mại ra đời. Các quy phạm pháp luật thương
mại thật ra đã là những quy tắc tồn tại lâu đời cùng với sự hình thành tầng lớp thương

3
nhân. Các quan hệ xã hội phát triển đã làm nảy sinh nhu cầu ban hành các quy định
pháp luật để điều chỉnh quy chế thương nhân và các hoạt động thương mại.
Như vậy, cơ sở kinh tế cho việc hình thành luật thương mại là sự hình thành và phát
triển của nền sản xuất hàng hóa, còn cơ sở xã hội là sự xuất hiện tầng lớp người mới
trong xã hội chuyên làm nghề thương mại .
Khi mới hình thành, luật thương mại chỉ điều chỉnh quan hệ trao đổi, mua bán hàng
hóa giữa các thương nhân. Dần dần, luật thương mại đã mở rộng phạm vi điều chỉnh
không chỉ các quan hệ mua bán mà hầu hết các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá
trình sản xuất, lưu thông hàng hóa và thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi.
Việc ra đời những chế định pháp lý đặc thù – Luật thương mại, bên cạnh Luật dân sự
được giải thích thương nhân là những chủ thể hành nghề độc lập, lấy các giao dịch
thương mại làm nghề nghiệp chính, và thực hiện chúng không phải vì mục đích tiêu
dùng, mà cơ bản nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Các giao dịch giữa các chủ thể
này mang những đặc điểm khác với các giao dịch dân sự, thể hiện ở những điểm chính
sau đây:
- Các quan hệ thương mại cần được tổ chức đơn giản, thuận tiện và linh hoạt. Để
lưu thông hàng hóa được nhanh chóng, luật pháp phải tạo điều kiện cho thương nhân
giao kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng một cách đơn giản nhất.
- Các hoạt động thương mại chỉ mang tính nghề nghiệp, cho nên liên quan đến
nhiều bên thứ ba. Vì vậy, để bảo đảm an toàn pháp lý cho các hoạt động kinh doanh,
cần thiết phải có các quy định về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại và các
quy định về đăng ký kinh doanh để hình thành tư cách thương nhân. Luật thương mại
phải góp phần bảo vệ an toàn pháp lý cho mọi giao dịch và các bên có liên quan đến
các hoạt động thương mại.
- Khác với các chủ thể luật dân sự không tham gia kinh doanh, thương nhân là
những chủ thể ý thức được các rủi ro trong kinh doanh, một mặt họ cần các quy định
pháp luật linh hoạt hơn cho các giao dịch của mình, mặt khác họ cũng phải chấp nhận
những điều kiện khắt khe hơn của Nhà nước để được hưởng một sự bảo hộ nhất định.
Nói một cách khác, sự giải phóng khỏi những thủ tục mang tính công thức để tiến
hành các hoạt động thương mại một cách đơn giản và thuận tiện được đổi lấy bởi
những điều kiện ngặt nghèo hơn khi muốn được Nhà nước bảo hộ.
- Thương nhân muốn xử lý các tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc
điểm kinh doanh của mình, ví dụ tại một cơ quan phán xét có kinh nghiệm trong lĩnh
vực thương mại, đảm bảo tính bí mật và xử lý vụ việc nhanh gọn.
Những lý do cơ bản nêu trên đã làm cho các quy định riêng về thương nhân và các
hoạt động thương mại trở nên cần thiết. Cùng với sự gia tăng của các hoạt động nội
thương cũng như ngoại thương, lĩnh vực pháp luật thương mại đã dần dần được hình
thành.
2. Khái quát chung về thƣơng nhân
2.1 Khái niệm thƣơng nhân
Pháp luật thương mại ở một chừng mực nào đó là luật điều chỉnh hoạt động của
thương nhân. Do vậy xác định chủ thể pháp luật nào được gọi là thương nhân là một
trong những nội dung đầu tiên và quan trọng của pháp luật thương mại.
Theo Luật thương mại Việt Nam 1997, “Thương nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp
tác, hộ gia đình, có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên”.

