intTypePromotion=1

Giáo trình Tổ chức hoạt động giáo dục: Phần 1 - Đỗ Công Tuất

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:17

1
832
lượt xem
159
download

Giáo trình Tổ chức hoạt động giáo dục: Phần 1 - Đỗ Công Tuất

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình Tổ chức hoạt động giáo dục nhằm trang bị cho người giáo viên tương lai những tri thức cơ bản về công tác giáo dục học sinh trong nhà trường trung học, qua đó rèn luyện ở họ những kỹ năng sử dụng các phương pháp giáo dục, biện pháp tiếp cận học sinh cũng như các tổ chức xã hội nhằm kết hợp trong công tác giáo dục. Nội dung giáo trình gồm 5 chương. Phần 1 giáo trình trình bày chương 1 - Công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Tổ chức hoạt động giáo dục: Phần 1 - Đỗ Công Tuất

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG Giáo trình TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Người biên soạn: ĐỖ CÔNG TUẤT LƯU HÀNH NỘI BỘ Tháng 8 năm 2000
  2. Lời nói đầu Để đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên khoa Sư phạm, tài liệu “TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC” được biên soạn. Mục đích của tài liệu này là trang bị cho người giáo viên tương lai những tri thức cơ bản về công tác giáo dục học sinh trong nhà trường trung học, qua đó rèn luyện ở họ những kỹ năng sử dụng các phương pháp giáo dục, biện pháp tiếp cận học sinh cũng như các tổ chức xã hội nhằm kết hợp trong công tác giáo dục. Nôị dung tài liệu gồm 5 chương, đó là: Chương 1: Công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học. Chương 2: Phương pháp làm việc với các tổ chức học sinh trong nhà trường trung học. Chương 3: Phương pháp kết hợp với gia đình và Hội phụ huynh học sinh. Chương 4: Phương pháp phối hợp với cộng đồng nơi ở của gia đình học sinh và cơ quan - nơi làm việc của cha mẹ học sinh. Chương 5: Tổ chức kết hợp với các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Trong quá trình biên soạn tài liệu, tác giả có sử dụng tư liệu của một số tài liệu Giáo dục học. Đặc biệt, trong phần câu hỏi và bài tập, có một số tình huống ứng xử sư phạm được rút ra từ cuốn “Sự thông minh trong ứng xử sư phạm”. Để tài liệu hoàn thiện hơn, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn. CHƯƠNG 0: Mục đích nội dung của học phần "Tổ chức giáo dục" Mục đích Tổ chức hoạt động giáo dục (TCHĐGD) là một trong những học phần của bộ môn Giáo dục học dùng cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng sư phạm. Học phần này nhằm mục đích cung cấp cho người sinh viên - những người làm công tác giáo dục trong một tương lai gần những hiểu biết cần thiết về các lĩnh vực: 1. Vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ các thầy giáo, cô giáo - các nhà giáo dục trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ, theo Hồ Chủ tịch - đó là việc làm rất quan trọng và rất cần thiết. Để giáo dục thế hệ trẻ trở thành những lớp người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của thế hệ cha anh, những người làm công tác giáo dục trước hết phải biết xây dựng, tập hợp, liên kết và khai thác được sức mạnh của tất cả các lực lượng trong và ngoài nhà trường vào công tác giáo dục. 2. Những tri thức cơ bản về phương pháp tổ chức, giáo dục, hình thành cho người sinh viên những kỹ năng tổ chức các lực lượng trong và ngoài nhà trường vào công tác giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt tạo cho người sinh viên - nhà giáo dục trong tương lai có khả năng ứng phó linh hoạt, sáng tạo trong công việc của mình. Sau khi nghiên cứu xong học phần này, người sinh viên sẽ nắm được hàng loạt các vấn đề, cụ thể là các vấn đề sau: + Các lực lượng trong xã hội cùng góp phần vào việc giáo dục thế hệ trẻ là những cơ quan, tổ chức nào. + Cách thức làm việc với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ ra sao. Những nội dung cần liên kết giữa nhà trường với các tổ chức xã hội ngoài nhà trường bao gồm các vấn đề gì. + Tại sao trong công tác giáo dục thế hệ trẻ cần phải tổ chức liên kết, phối hợp với các tổ chức xã hội này. Điều đặc biệt cần thiết trước mắt là giúp cho người sinh viên có khả năng vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo trong các đợt thực tế, kiến tập, thực tập sư phạm.
  3. Nội dung Học phần TCHĐ GD có 5 chương theo thứ tự sau: Chương 1: Công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học. Ở mỗi lớp học trong nhà trường trung học đều có một giáo viên phụ trách chung - chúng ta quen gọi là giáo viên chủ nhiệm lớp. Chương này nhằm trang bị cho người học các vấn đề sau: + Vị trí, chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp. + Nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm lớp. + Nội dung công tác, phương pháp tác động tới học sinh của người giáo viên chủ nhiệm lớp. + Những phẩm chất, năng lực mà người giáo viên chủ nhiệm lớp cần có. Chương 2: Phương pháp làm việc với các tổ chức học sinh trong nhà trường trung học. Trong nhà trường trung học tồn tại một số tổ chức học sinh như sau: + Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh + Hội liên hiệp thanh niên học sinh + Tổ chức câu lạc bộ. Đối với các thầy giáo, cô giáo, việc tìm hiểu, nắm vững phương pháp làm việc với các tổ chức học sinh trong nhà trường trung học là rất cần thiết. Đặc biệt đối với người giáo viên chủ nhiệm lớp điều này càng cần thiết hơn. Việc nghiên cứu nội dung chương này nhằm mục đích giúp cho người giáo sinh thấy được các tổ chức học sinh trong trường học cũng là một đối tượng cần được quan tâm, giúp đỡ của người giáo viên chủ nhiệm lớp, ngoài việc các tổ chức này là một lực lượng giáo dục tác động đến các em học sinh. Xây dựng các tập thể học sinh chính là tạo ra một môi trường giáo dục lành mạnh để các thành viên của nó tham gia tích cực vào hoạt động chung. Chương 3: Phương pháp kết hợp với gia đình và Hội phụ huynh học sinh Gia đình học sinh, Hội phụ huynh học sinh là một lực lượng giáo dục rất quan trọng. Nếu tổ chức, liên kết với cha mẹ học sinh tốt sẽ tạo ra một nhà sư phạm rất tích cực trong việc giáo dục học sinh. Mục đích của việc nghiên cứu chương này sẽ giúp cho người giáo viên tương lai có được phương pháp làm việc đúng đắn trong việc kết hợp với cha mẹ học sinh, với Hội phụ huynh học sinh trong việc giáo dục các em. Chương 4: Phương pháp phối hợp với cộng đồng nơi ở của gia đình học sinh và cơ quan - nơi làm việc của cha mẹ học sinh Khi nói tới vai trò của môi trường xã hội đối với sự hình thành và phát triển nhân cách người học sinh , chúng ta quy ước sau: môi trường xã hội được phân thành 2 loại: Môi trường xã hội vĩ mô, bao gồm xã phường, huyện thị, tỉnh thành, quốc gia, quốc tế. Môi trường xã hội vi mô, bao gồm: + Gia đình + Nhà trường + Cộng đồng nơi ở của học sinh + Tập thể mà học sinh tham gia. Có thể khẳng định cộng đồng nơi ở của các em học sinh là một xã hội thu nhỏ, nó chứa đựng các mối quan hệ xã hội đa dạng, phong phú có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Để phát huy được các mặt tích cực của xã hội, hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của nó tới sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh, một điều kiện rất quan trọng là phải xây dựng được các mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà trường - gia đình - cộng đồng nơi công tác của cha mẹ học sinh.
  4. Chương 5: Tổ chức kết hợp với các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Khi nói tới các lực lượng xã hội trong giáo dục thế hệ trẻ, chúng ta có thể hiểu nó bao gồm: + Các cơ quan hành pháp. + Các đoàn thể chính trị xã hội. + Các tổ chức đơn vị, kinh tế. + Các cơ quan chức năng… Mục đích nghiên cứu chương này nhằm cung cấp cho người sinh viên những hiểu biết cần thiết về các đặc điểm, chức năng của các tổ chức xã hội và những biện pháp kết hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội này trong công tác xã hội hoá giáo dục mà Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đề ra. Để tạo ra lớp người có tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn … nhà trường cần có sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ với gia đình, xã hội. Những nội dung của học phần “Tổ chức hoạt động giáo dục” nhằm giúp cho người học những điều kiện cần thiết ban đầu để làm tốt việc trên. Chương I: Công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường trung học Trong nhà trường phổ thông, ở mỗi lớp học đều có một giáo viên chủ nhiệm lớp. Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của người giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp trong việc rèn luyện nhân cách cho các em học sinh. Điều này được thể hiện ở các điểm sau: 1. GVCN quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách Trong trường phổ thông nói chung, trung học nói riêng đều bao gồm một số học sinh nhất định, số học sinh này được chia thành từng lớp với một số lượng nhất định. Theo Điều lệ trường trung học, học sinh được tổ chức theo lớp học, mỗi lớp có không quá 45 học sinh; mỗi lớp lại được chia thành nhiều tổ học sinh… Để nắm được tình hình chung của nhà trường và tiến hành tốt công việc của mình, người Hiệu trưởng phải dựa vào đội ngũ giáo viên, đặc biệt đội ngũ GVCN. Như vậy, GVCN là người thay mặt Hiệu trưởng quản lý toàn diện tập thể lớp học. Việc quản lý toàn diện lớp học của GVCN là quản lý về các mặt sau: 1.1. Có những hiểu biết về gia đình học sinh, những ảnh hưởng của gia đình tới sự phát triển nhân cách của các em . Từ sự hiểu biết về gia đình học sinh mà giáo viên chủ nhiệm mới có những biện pháp giáo dục các em phù hợp. Trong quá trình giáo dục học sinh, đã có những đáng tiếc xảy ra. Trong giờ trả tập làm văn, thầy T. nhận xét: -Đề bài: “Hãy tả người mẹ của em” kỳ này thật là dễ. Thế mà có em không chịu làm bài để giấy trắng. Nghe tới đó, H. gục đầu xuống bàn, khóc nức nở. Thầy giáo ghi điểm 2 vào sổ cho H., trong bụng thầy T. còn nghĩ : -Thế đấy, con gái thật là mau nước mắt, bị điểm kém cũng khóc lóc. Cuối giờ học, lớp trưởng lên gặp thầy và nói: -Thưa thầy, bài văn tả mẹ của em dễ thật đấy, nhưng bạn H. không làm được, vì bạn ấy mồ côi mẹ từ năm lên ba ạ! Trời ơi! Sao mình lại vô tình với các em đến thế. Tại sao mình không tìm hiểu kỹ hoàn cảnh của từng học sinh để hiểu biết và thông cảm với các em hơn. 1.2. Nắm được đặc điểm tâm - sinh lí của từng học sinh lớp chủ nhiệm. Việc tìm hiểu và nắm được đặc điểm tâm - sinh lí học sinh là một công việc vô cùng quan trọng của người giáo viên nói chung, người giáo viên chủ nhiệm nói riêng. Từ việc nắm đặc điểm tâm lí học sinh mà có những phán đoán, kết luận chính xác về bản thân các em và từ đó có những biện pháp giáo dục phù hợp.
  5. Trường hợp sau đây chứng tỏ việc nắm được đặc điểm tâm sinh lí của các em và từ đó những nhận xét chính xác về bản thân các em là một công việc không phải dễ dàng. Chị Hằng và tôi được phân công chủ nhiệm và phó chủ nhiệm lớp 9A. Chị Hằng dạy văn, tôi dạy toán. Tôi và chị Hằng thường tranh luận với nhau về hạnh kiểm hai em Minh và Cường. Minh học khá, nhất là môn khoa học tự nhiên. Em xác định rất rõ học để vào đại học. Ở ngoài lớp Minh lầm lì ít nói, nhưng trong giờ toán, em lại hăng hái phát biểu ý kiến để được nhiều điểm tốt. Minh ít chơi thân với bạn bè. Em tỏ ra ích kỷ và ganh tị với một vài bạn khá hơn mình, có tài liệu về toán học, em không cho bạn mượn. Lao động ở lớp, em tỏ ra tích cực; nhưng khi ở nhà em lại rất lười biếng. Ngược lại, Cường nghịch ngợm nổi tiếng cả khu tập thể đông dân này. Có lần em trèo lên bể nước lớn của khu tập thể, thả vào đó một cục phân trâu. Cường học trung bình các môn học. Chị Hằng và tôi đều nhận thấy em có tính cách thẳng thắn và lao động tích cực. Em thích đọc những mẫu chuyện về những người anh hùng. Một lần đến nhà em, tôi và chị Hằng thấy em đang say sưa đọc tác phẩm Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, chị Hằng hỏi: - Em thích đọc đoạn nào nhất ? Cường trả lời: - Em thích đọc đoạn đồng chí Thuận mặc chiếc quần xà lõn màu đỏ. Địch đánh mấy lần cũng không thay ra. Cuối cùng chúng đánh nát quần và da thịt của đồng chí. Tất cả những ưu, nhược điểm của Minh và Cường tôi và chị Hằng đều biết tường tận. Tôi vẫn khăng khăng một mực xếp hạnh kiểm của Minh cao hơn Cường vì Minh học giỏi, lễ phép với thầy cô, có chí về học tập. Còn tính ích kỷ, không chịu khó giúp mẹ chỉ là chuyện vặt, ra đời khi có tài năng, mọi thứ sẽ mất đi. Vả lại, còn xã hội rèn luyện em nữa chứ! Không thể xếp Minh vào dạng học sinh cá biệt như Cường được. Ngược lại, chị Hằng nhìn rất rõ bản chất của Cường. Chị đã giao việc, mở rộng hoạt động của tập thể lớp để lôi cuốn Cường vào các công việc đúng đắn. Cuối học kỳ hai Cường tiến bộ hẳn. Cả hai đều được vào phổ thông trung học. Tôi hồi hộp theo dõi bước đi của cả hai em. Giữa năm lớp 12, cả hai đều được gọi vào bộ đội. Cường chiến đấu dũng cảm, còn Minh trên đường hành quân ra trận đã đào ngũ.Cường viết thư về cho chị Hằng, báo cho chị biết em vừa được trao tặng Huân chương chiến công hạng ba. 1.3. Nắm vững mục tiêu, chương trình nội dung giáo dục cấp học, lớp học, khả năng thực hiện, kết quả dự kiến của lớp học được phân công phụ trách so với yêu cầu, mục tiêu giáo dục về mọi mặt: + Học tập + Rèn luyện đạo đức, tác phong + Tham gia hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao. + Các hoạt động khác… Chức năng quản lí toàn diện học sinh lớp mình được phân công phụ trách là nắm vững đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, nắm vững mục tiêu đào tạo, giáo dục cả về phẩm chất đạo đức và năng lực học tập của các em học sinh, đồng thời nắm vững hoàn cảnh của từng em để kết hợp trong việc giáo dục. 2. GVCN là cầu nối giữa Ban giám hiệu, các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể học sinh lớp chủ nhiệm - Với tư cách là nhà sư phạm, GVCN có trách nhiệm truyền đạt tới học sinh: + Yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường đối với tập thể, từng học sinh lớp chủ nhiệm . + Nội dung giáo dục. Trong quá trình truyền đạt tới các em học sinh lớp chủ nhiệm, phương pháp truyền đạt là: thuyết phục, cảm hoá, gương mẫu. Mục đích của các phương pháp truyền đạt trên là giúp các em học sinh chấp nhận một cách tự nguyện, tự giác các mục đích, yêu cầu , kế hoạch của nhà trường.
  6. - Mặt khác GVCN là người đứng ra tập hợp các ý kiến, yêu cầu, nguyện vọng của các em học sinh phản ánh với Ban giám hiệu, các tổ chức trong trường, với các giáo viên bộ môn. + Khi nhận thông tin từ phía học sinh phản ánh cho nhà trường, GVCN cần đảm bảo tính khách quan, tính trung thực và xử lý kịp thời chúng với tư cách là nhà sư phạm. + GVCN lớp còn có trách nhiệm bảo vệ, bênh vực quyền lợi của học sinh lớp chủ nhiệm. Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định: GVCN là người đại diện cho cả hai phía: lực lượng giáo dục trong nhà trường và học sinh lớp chủ nhiệm. 3. GVCN là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của tập thể học sinh. 3.1. Học sinh trung học nằm trong lứa tuổi thiếu niên và đầu thanh niên (tuổi từ 11-12 đến 14-15 và 14 -15 đến 17-18) Đây là một lứa tuổi có một số đặc trưng sau: + Phát triển tự ý thức, tự khẳng định mình. + Lứa tuổi giàu ước mơ. + Đã tích luỹ cho mình một số kinh nghiệm sống nhất định. + Có khả năng tự quản ... Bên cạnh những điểm mạnh trên, lứa tuổi này cũng còn một số điểm cần được sự hướng dẫn, dìu dắt của giáo viên nói riêng, người lớn nói chung như: + Những ước muốn của các em rất cao đẹp song nó cao hơn so với khả năng của chính các em. + Đây là lứa tuổi phát triển tính khẳng định mình nhưng chưa đủ kinh nghiệm sống. + Khi thành công dễ “bốc đồng”, “tự tin quá mức”..., khi gặp thất bại, các em dễ dao động, mất lòng tin ... Từ những đặc điểm trên, đòi hỏi người lớn, đặc biệt là cha mẹ, GVCN phải có những định hướng trong việc giáo dục các em. 3.2. Bản chất của chức năng cố vấn là: + Định hướng, điều chỉnh, điều khiển quá trình tự giáo dục của từng em, của cả tập thể lớp. + Phát huy vai trò chủ thể tích cực của học sinh trong giáo dục. Chức năng cố vấn của GVCN được hiểu là: + Điều khiển định hướng của GVCN với các hoạt động tự quản của các em. + GVCN không trực tiếp tham gia điều khiển công việc của lớp, không làm thay các em trong tất cả các hoạt động. Thực chất chức năng cố vấn của GVCN đối với các em và tập thể của các em học sinh lớp chủ nhiệm là: + Điều khiển, điều chỉnh tư duy, thái độ, tình cảm, hành vi, hoạt động của tập thể và cá nhân. + Vai trò cố vấn phải được quán triệt trong toàn bộ nội dung giáo dục, kế hoạch hoạt động của lớp, từng em. + Vai trò cố vấn của GVCN còn được thể hiện ngay trong quan hệ ứng xử, định hướng nghề nghiệp ... 4. GVCN lớp là người đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục cấp học. Trong công tác giáo dục học sinh, hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc rất nhiều vào sự liên kết và thống nhất tác động của các lực lượng xã hội. Sự phối hợp giữa GVCN với các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục học sinh được thể hiện: + Dựa vào đặc điểm, điều kiện của nhà trường, lớp học, gia đình, cộng đồng ... mà GVCN phối hợp với các lực lượng xã hội để tạo ra sự thống nhất tác động, đặc biệt là kết hợp với cha mẹ học sinh. + Trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, một nguyên tắc giáo dục quan trọng mà Đảng ta đã khẳng định, đó là: phải tạo ra sự thống nhất tác động giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong việc giáo dục
  7. học sinh. Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm mục đích: + Nâng cao hiệu quả giáo dục. + Thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục. + Phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục. Nguyên tắc này phải được quán triệt trong tất cả các hoạt động của nhà trường. - Sự liên kết và phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội phải được thể hiện ở cả hai mặt sau: + Mặt nhận thức + Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động - Điều cần quan tâm trong liên kết với các lực lượng xã hội trong việc giáo dục học sinh là khai thác tốt nhất về tài lực, vật lực, kinh nghiệm sống, lao động, trí tuệ của các bậc phụ huynh, quần chúng nhân dân. Nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm lớp 1. Nhiệm vụ của GVCN lớp 1.1. Là một giáo viên đứng lớp, người GVCN phải thực hiện tốt các nhiệm vụ của người giáo viên, đó là các nhiệm vụ sau: + Giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình giáo dục kế hoạch dạy học; soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ, lên lớp đúng giờ; không tuỳ tiện bỏ giờ, bỏ buổi dạy; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia hoạt động của tổ chuyên môn. + Tham gia phổ cập giáo dục THCS. + Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục. + Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh; đoàn kết, giúp đỡ các bạn đồng nghiệp. + Phối hợp với giáo viên và các GVCN khác, gia đình học sinh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh. + Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. 1.2. Với tư cách là người quản lý toàn diện lớp chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ nêu trên, GVCN còn phải thực hiện các nhiệm vụ sau: + Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp. + Cộng tác chặt chẽ với phụ huynh học sinh; chủ động phối hợp với giáo viên bộ môn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh. + Nhận xét, đánh giá, xếp loại học sinh cuối học kỳ, cuối năm học; đề nghị khen thưởng, kỷ luật học sinh; đề xuất danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải thi lại, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ của học sinh. + Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất (nếu có tình hình đặc biệt) về tình hình của lớp với hiệu trưởng. 2. Quyền hạn của GVCN lớp 2.1. Với tư cách là giáo viên bộ môn, GVCN có các quyền sau: + Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh. + Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ theo các chế độ, chính sách qui định đối với nhà giáo. + Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý nhà trường.
  8. + Được hưởng nguyên lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo qui định hiện hành. + Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục khác nếu đảm bảo thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình. + Được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật. 2.2. Ngoài các quyền hạn trên, GVCN còn có một số quyền hạn sau: + Được dự các giờ học, các hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp mình. + Được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng và Hội đồng kỷ luật khi các hội đồng này giải quyết các vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp mình. + Được dự các lớp bồi dưỡng, các hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm. + Được quyền cho phép học sinh của mình nghỉ học không quá 3 ngày, nếu có lý do chính đáng. + Được tính thêm giờ lên lớp hàng tuần khi làm công tác chủ nhiệm lớp theo quy định hiện hành. Nội dung công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp 1. Nghiên cứu, nắm vững đường lối quan điểm lý luận giáo dục để vận dụng vào công tác chủ nhiệm Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng đối với người GVCN. Với tư cách là một người cán bộ của Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, GVCN phải nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung và đường lối chính sách về công tác giáo dục và đào tạo nói riêng để vận dụng vào công tác của mình. Ngoài ra, GVCN cần nắm vững: + Phương pháp, nghệ thuật sư phạm + Tri thức lý luận giáo dục + Lý luận, thực tiễn công tác chủ nhiệm lớp + Thực tiễn giáo dục của địa phương và đất nước Trên cơ sở nắm vững tri thức lý luận mà vận dụng linh hoạt vào công tác chủ nhiệm. Đặc biệt GVCN cần nắm vững một số vấn đề lý luận sau: + Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh + Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy - trò + Nghệ thuật sư phạm: phương pháp tác động trực tiếp, phương pháp tác động song song, phương pháp bùng nổ sư phạm... + Xây dựng tập thể học sinh + Sự phối hợp với phụ huynh học sinh trong công tác giáo dục các em + Xã hội hoá giáo dục + Sự phối hợp với Đoàn, Đội trong công tác giáo dục học sinh... 2. Nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học Để vận dụng vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học. Nhằm tạo cho học sinh lớp chủ nhiệm thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thức tiến hành các hoạt động của nhà trường trong hàng tuần, hàng tháng, từng học kỳ, từng năm học. 3. Có hiểu biết sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong nhà trường, các cán bộ phụ trách các mặt hoạt động, đội ngũ giáo viên giảng dạy các môn học ở lớp chủ nhiệm, cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường. - Có những hiểu biết về cơ cấu tổ chức, phân công phụ trách của các tổ chức trong nhà trường: + Ban giám hiệu + Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Hội Liên hiệp thanh niên
  9. + Hội phụ huynh + Các tổ chức tự quản... Từ những hiểu biết trên, người GVCN tổ chức thống nhất, liên kết các lực lượng hoạt động theo những nội dung giáo dục của nhà trường... - Có những hiểu biết về đội ngũ giáo viên nhà trường, đặc biệt là những giáo viên giảng dạy trực tiếp lớp mình phụ trách để: + Thường xuyên nắm vững tình hình giảng dạy và học tập của lớp. + Tổ chức các hoạt động dạy - học cho tập thể lớp học. - Nắm được chức năng, nhiệm vụ, năng lực, tình cảm, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong trường để có phương pháp ứng xử thích hợp, lôi cuốn mọi người cùng tham gia vào hoạt động giáo dục học sinh. - Nắm vững cơ sở vật chất kỹ thuật, những trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy học của nhà trường để khai thác những cơ sở vật chất kỹ thuật đó một cách hợp lý và hiệu quả nhất, phục vụ cho công tác của mình. 4. Nghiên cứu đặc điểm gia đình học sinh Gia đình là tế bào xã hội, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ. Việc nắm vững đặc điểm gia đình học sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất cứ người giáo viên nào, nhất là người GVCN. Từ việc nắm được đặc điểm gia đình học sinh sẽ giúp cho người GVCN có kế hoạch liên kết, phối hợp cùng gia đình trong quá trình giáo dục học sinh. Thật đáng tiếc, trong thực tế có những gia đình với cách nuôi dạy con cái không đúng mức, đồng thời chưa có sự kết hợp với nhà trường nên dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Trong “Sách dành cho các bậc làm cha mẹ” của A.X. Macrencô, ông đã dành một chương để nói về vấn đề giáo dục. Câu chuyện như sau: Pitơ - Kêtốp đặt nhiệm vụ dạy đứa con trai duy nhất của mình là Victo trở thành một con người kiệt xuất nhờ một loại “bức xạ” đặc biệt, đó là tình yêu vô bờ bến và tha thiết của người mẹ, nỗi lòng của người cha thường xuyên và bền bỉ đào tạo mong cậu con trai trở thành một con người đặc biệt và hướng cả gia đình vào một nhiệm vụ duy nhất là phát triển trí tuệ và tài năng của cậu bé. Cái “bức xạ” tâm lí ấy đã mang lại hiệu quả. Một mặt, Victo tiến bộ rất nhanh chóng, vượt lên trên tất cả các bạn bè cùng lứa tuổi. Năm tuổi, Victo đã nói đúng tiếng Nga và tiếng Đức. Lên mười tuổi nó đã làm quen với các tác giả cổ điển. Mười hai tuổi đọc Sile bằng nguyên bản, nhảy qua học lớp 9. Mười bảy tuổi thi vào Đại học tổng hợp Toán và làm các giáo sư sửng sốt vì sự tài năng và sự uyên bác của nó. Tóm lại nó đã đi đúng con đường điển hình cho các trẻ em có năng khiếu đặc biệt. Mặt khác, nó cũng trở thành con người ích kỷ vô cùng, một kẻ trơ trẽn, lạnh lùng, chà đạp lên tất cả để có được sự thành công và thoả mãn cho riêng bản thân mình. Kết thúc câu chuyện về cậu bé Victo như sau: người mẹ từ nhà bếp chạy ra theo nó, nói với nó bằng một cái giọng mệt mỏi và run run: - Vichia, con có thể đến hiệu thuốc lấy thuốc cho bố được không? Thuốc đã pha chế xong và trả tiền rồi ... bố đã bảo ...nhất thiết ... Dụi cái đầu bù xù vào cái gối, ông Pitơ nhìn con và gắng gượng mỉm cười. Nét mặt đứa con trai thiên tài đã trưởng thành cứ nhởn nhơ ngay trong cơn đau dạ dày quằn quại của bố. Victo nhìn mẹ và cũng cười: -Không! Con không đi được đâu, người ta đang đợi con! Con mang chìa khoá theo đây. Những gia đình quan tâm quá mức và không đúng cách trong giáo dục con cái sẽ mang lại những hậu quả mà họ không hề mong muốn. Khi tìm hiểu gia đình học sinh, người GVCN cần tìm hiểu các điểm sau: + Trình độ văn hoá của cha mẹ học sinh + Đặc điểm tâm lí của họ + Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình + Điều kiện sinh sống, lao động, học tập cũng như thu nhập của gia đình Trong các nội dung mà GVCN tìm hiểu gia đình học sinh, vấn đề quan trọng nhất, cần quan tâm là:
  10. + Sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, sự quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình + Phương pháp giáo dục của cha mẹ với các con cái trong gia đình + Việc thực hiện các nghĩa vụ của người công dân đối với Tổ quốc Quan hệ của gia đình với láng giềng... Có thể khẳng định việc tìm hiểu gia đình học sinh nhằm mục đích: + Kết hợp gia đình và nhà trường trong công việc giáo dục trẻ em, tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” + Nắm được các yếu tố tác động đến học sinh, từ đó có những giải pháp phù hợp. 5. Nắm được đặc điểm của học sinh Có nhà giáo dục đã khẳng định một điều rất đúng là: muốn giáo dục con người về mọi mặt phải hiểu con người về mọi mặt. Liên hệ với công tác chủ nhiệm lớp, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, người GVCN phải nắm được đặc điểm chung của cả lớp và của từng học sinh. 5.1. Nội dung tìm hiểu học sinh của GVCN bao gồm các vấn đề sau: + Sức khoẻ + Đạo đức + Năng lực học tập + Động cơ, thái độ học tập + Quan hệ của học sinh với cha mẹ, ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường học với bạn bè, thầy cô và ngoài xã hội, cộng đồng... 5.2. Phương pháp tìm hiểu học sinh Vào đầu năm học, mỗi GVCN nên có bản trích ngang những thông tin cần thiết về cả lớp và từng em học sinh. Đó là: - Họ tên ................................................nam/nữ - Ngày ...... tháng ...... năm sinh ....... - Nơi sinh sống hiện nay - Công việc của cha mẹ - Học lực - ... - Đặc điểm về nhân cách (trí tuệ, tính cách, đạo đức, khả năng giao tiếp, xu hướng nghề nghiệp, nguyện vọng...) Để hiểu biết về tâm lí học sinh, GVCN cần theo dõi các em qua các hoạt động hàng ngày, trong học tập, lao động, sinh hoạt tập thể, quan hệ bạn bè ... Việc tìm hiểu để nắm được đặc điểm của học sinh về mọi mặt là rất cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải thấy được nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. Ví dụ, cùng một hiện tượng ngủ gật trong giờ học, nhưng có những cách xử sự khác nhau do những nguyên nhân khác nhau: em bị giáo viên đuổi ra khỏi lớp do tối trước quá mê xem ca nhạc, có em được giáo viên cho ngủ đến hết giờ mới đánh thức em dậy, rồi ôm đầu cậu trong hai tay mình, hôn vào tóc cậu và nói: thầy không la đâu, thầy biết là trước khi đến trường con đã phải làm lụng quá nhiều (cậu học trò tên là Côrétty vác củi từ năm giờ sáng cho mẹ, vào lớp quá mệt nên ngủ thiếp đi; còn người thầy giáo là Pécbôni, trong tác phẩm “Những tấm lòng cao cả” - D.Amixi) Trên cơ sở những hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý học sinh, nguyên nhân dẫn đến các đặc điểm đó mà GVCN có những tác động giáo dục phù hợp. 6. Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác giáo dục 6.1. GVCN cần nắm được tình hình địa phương nơi trường đóng, cụ thể một số mặt sau: + Địa bàn
  11. + Dân số + Tình hình kinh tế + Tình hình trật tự xã hội + Các ngành nghề + Truyền thống địa phương Mục đích của việc này là liên kết, phối hợp có hiệu quả giữa nhà trường, đại diện là GVCN với địa phương trong công tác giáo dục. 6.2. GVCN cần thiết phải nắm được tình hình thời sự trong nước, ngoài nước, đặc biệt về các vấn đề khoa học kỹ thuật, công nghệ, giáo dục, đào tạo, văn hoá xã hội để bổ sung cho những hiểu biết của mình thêm phong phú. 7. Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, GVCN lớp phải tự hoàn thiện mình Với đặc trưng về lao động nghề nghiệp, đặc biệt về công cụ lao động sư phạm, nó đòi hỏi người giáo viên nói chung, GVCN nói riêng phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình. Cụ thể phải rèn luyện các mặt sau: + Đạo đức tác phong + Quan hệ đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng tốt đẹp + Có tầm hiểu biết sâu rộng, đặc biệt môn học mình phụ trách + Luôn luôn nâng cao trình độ nghề nghiệp, nắm vững kỹ thuật giảng dạy + Quan tâm đến công việc của đồng nghiệp, của nhà trường, quan tâm đến các em học sinh ... Phương pháp tác động của giáo viên chủ nhiệm lớp Ngoài việc nắm được các phương pháp giáo dục học sinh của người làm công tác giáo dục, GVCN cần phải nắm được các phương pháp tác động tới học sinh. Đó là các phương pháp: + Phương pháp tác động trực tiếp + Phương pháp tác động gián tiếp + Phương pháp “bùng nổ sư phạm” + Phương pháp giáo dục bằng “viễn cảnh” Phương pháp tác động trực tiếp 1.1. Được gọi là phương pháp tác động trực tiếp vì có sự tác động trực tiếp, đối diện giữa GVCN và học sinh. Cụ thể là nhà giáo dục nói chung, GVCN nói riêng tác động trực tiếp tới đối tượng bằng cách sau: + Chăm lo, săn sóc + Khen thưởng, kỷ luật + Ra các yêu cầu, các mệnh lệnh buộc học sinh phải thực hiện ngay các yêu cầu của nhà giáo dục. Ví dụ 1: Trong lớp học có 2 học sinh, một nam, một nữ, học tập rất khá, được GVCN tin tưởng. Nhưng gần đây GVCN nhận thấy sức học của hai em đều giảm sút. Ở hai em có tình cảm yêu mến nhau. Trước tình hình đó, GVCN gọi riêng từng em phân tích đúng sai, lợi hại của việc yêu đương quá sớm ... Sau đó GVCN tiếp tục lưu tâm và nếu cần có thể phối hợp cùng gia đình giúp đỡ các em. Ví dụ 2: Ở lớp 10 C, khi giáo viên dạy môn sinh vật bước vào lớp, cả lớp đều đứng dậy chào cô, nhưng duy nhất có một học sinh không đứng dậy, em vẫn bình thản ngồi im tại chỗ nhìn cô giáo bộ môn. Để ý mấy lần, cô giáo đều thấy hiện tượng như vậy. Giáo viên bộ môn phản ánh với GVCN về hiện tượng này. GVCN gọi em lên phòng họp giáo viên và nhắc nhở em này, hỏi rõ lý do. Những tác động tới học sinh khi các em có những biểu hiện không phù hợp với yêu cầu giáo dục của GVCN trong hai ví dụ trên được gọi là tác động trực tiếp. Phương pháp tác động trực tiếp còn được
  12. gọi là phương pháp giáo dục cá biệt nhưng không có nghĩa là giáo dục những học sinh cá biệt. Tính cá biệt ở đây được hiểu là những tác động tới học sinh một cách chuyên biệt để đảm bảo sao cho phù hợp với từng em về yêu cầu, cường độ, mức độ tác động, hình thức đa dạng. Ví dụ: Cùng với biểu hiện là ngủ gục trong giờ học nhưng đối với từng em cụ thể, giáo viên có cách xử lý riêng: hoặc đuổi ra khỏi lớp, hoặc yêu cầu đi rửa mặt và tiếp tục học bài, hoặc báo cáo với gia đình để cùng giáo dục... Có giáo viên để học sinh đó ngủ đến hết giờ vì biết rằng mỗi sáng sớm trước khi đến trường học, em đã dậy từ 4 giờ sáng mang hàng ra chợ cho mẹ. Phương pháp tác động trực tiếp sẽ giúp người giáo viên có được hiệu quả giáo dục tức thời. Chẳng hạn, học sinh đang ồn ào trong lớp học sẽ phải ngưng mất trật tự; học sinh vi phạm quy định thì phải ngừng ngay các hành động phạm lỗi... Tính hiệu quả giáo dục tức thời của phương pháp tác động trực tiếp có được là nhờ uy tín và vị thế của người GVCN. Đây là phương pháp giáo dục truyền thống, được nhiều nhà giáo dục nói chung, GVCN nói riêng sử dụng khi cần tác động đến đối tượng giáo dục. 1.2. Khi sử dụng phương pháp tác động trực tiếp, GVCN cần lưu ý mấy điểm sau: + Tác động kịp thời + Tác động phù hợp với mức độ, tính chất của các hành vi phạm lỗi do học sinh gây ra + Tác động phải phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý học sinh và nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm lỗi đó Phương pháp tác động gián tiếp 2.1. Người có công lớn trong việc tạo ra phương pháp tác động gián tiếp là A.X.Macarencô (1888 - 1939) - nhà giáo dục Xô viết nổi tiếng. Phương pháp tác động gián tiếp, được Macarencô đặt tên là phương pháp tác động song song hay còn được gọi là phương pháp giáo dục trong tập thể và bằng tập thể. Tác động song song được Macarencô giải thích như sau: chỉ tiếp xúc với tập thể, không tiếp xúc với cá nhân riêng lẻ, đó là cách biểu hiện chính thức, còn thực chất là hình thức tác động tới chính cá nhân đó. nhưng biểu hiện thì lại diễn ra song song với thực chất. Phương pháp tác động song song, về bản chất của nó được hiểu là: + Xây dựng tập thể học sinh thành môi trường giáo dục lành mạnh. + Xây dựng được các mối quan hệ trong tập thể thành những tác động, chi phối nhận thức, tình cảm, hành động của từng cá nhân trong tập thể đó. Nói một cách khác đi, mỗi cá nhân trong tập thể phải tự điều chỉnh hành vi của mình dựa vào tập thể mà mình là một thành viên. Như vậy, về thực chất, phương pháp tác động gián tiếp là giáo viên không tác động tới từng cá nhân mà thông qua tập thể, qua các thành viên khác để các thành viên này tác động, nhắc nhở bạn mình. A.X.Macarencô thường sử dụng phương pháp tác động gián tiếp trong ba trường hợp sau: Một là: Thông qua đội ngũ lãnh đạo tập thể. Ông lấy ví dụ sau để dẫn chứng: Petrencô đi làm không đúng giờ, Ông gặp đội trưởng đội 1 và nói: “Đội có một người đi làm chậm” để đội trưởng họp đội rút kinh nghiệm, nhắc Petrencô đi làm cho đúng giờ. Hai là: Tác động tới cả tập thể và cá nhân Hôm sau Petrencô lại đi làm trễ giờ lần thứ hai, Ông triệu tập cả đội 1, tuyên bố: “Ở đội các em có Petrencô đi làm muộn lần thứ hai”. Đội hứa sẽ không để xảy ra nữa. Sau đó đội đã họp bàn kế hoạch giúp đỡ Petrencô. Như vậy, Macarencô đã tác động tới cả đội - tập thể cơ sở. Khi tác động lần thứ hai, Ông đã kết hợp giữa tác động song song và tác động trực tiếp. Hiệu quả tác động vào toàn đội sẽ mạnh hơn hiệu quả tác động vào đội trưởng hay đội ngũ tự quản. Ba là, khi Petrencô đi làm trễ giờ, Macarencô mời cả đội lên phòng ông uống trà, Ông nói về một điều gì đó mà không ám chỉ một ai hoặc một đội nào cả, nhưng các em tự liên hệ và đoán ra Macarencô định nói gì và nói về ai.
  13. Trường hợp thứ ba xảy ra khi tập thể các em có đội ngũ tự quản vững vàng, có dư luận lành mạnh, các thành viên trong tập thể có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc chung. Vì vậy, vấn đề nhà giáo dục đưa ra không phải là yêu cầu trực tiếp với tập thể mà chỉ là một mong muốn, một nguyện vọng, một đề xuất đối với phong trào chung của tập thể. Mục đích của nhà giáo dục là tạo ra được một hệ thống dư luận ngẫu nhiên trong tập thể, từ đó mà mỗi cá nhân cũng như tập thể tự tìm ra các biện pháp tốt trong việc xây dựng tập thể và chính bản thân từng cá nhân để đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra. 2.2. Cơ sở khoa học của phương pháp tác động song song là: + Dùng dư luận xã hội (tập thể) để điều chỉnh hành vi từng cá nhân. + Phát huy tính tích cực hoạt động của từng thành viên trong tập thể. + Phát huy vai trò tự quản, khả năng tự điều chỉnh của chủ thể trong quá trình tự giáo dục thông qua hoạt động của tập thể. 2.3. Để phát huy tác dụng của phương pháp này cần đảm bảo một số yêu cầu sau: + GVCN phải là người có uy tín, có trách nhiệm, nắm vững đặc điểm tâm - sinh lý học sinh. + Tập thể học sinh phải là tập thể mạnh, đoàn kết, có dư luận đúng đắn. Đó là tập thể học sinh có các đặc điểm sau: + Có mục tiêu phấn đấu rõ ràng: tập thể phải có mục tiêu phấn đấu cụ thể, đó là đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của từng thành viên trong tập thể. + Có hoạt động chung: Nhà giáo dục phải giúp tập thể tổ chức được các hoạt động chung, đa dạng. Từ đó tăng cường được các mối liên hệ giữa các thành viên với nhau, giữa tập thể này và tập thể khác, giữa các tổ chức trong nhà trường. + Xây dựng được đội ngũ tự quản có uy tín với các thành viên trong lớp, có trách nhiệm, có bản lĩnh, có năng lực , đủ sức lãnh đạo tập thể lớp tiến lên. + Tập thể học sinh phải xây dựng được một số nội quy, kỷ luật chặt chẽ. Những nội quy này phải được mọi người trong tập thể tôn trọng và tự giác chấp hành. + Xây dựng được dư luận tập thể lành mạnh và hướng dẫn được dư luận đó theo chiều hướng mong muốn của nhà giáo dục. Bởi vì chính dư luận tập thể phản ánh sức mạnh, bản lĩnh của tập thể và các thành viên của tập thể. Tóm lại, phương pháp tác động song song được hiểu là phương pháp giáo dục mà nhà giáo dục sử dụng sức mạnh của dư luận tập thể nhằm điều chỉnh những suy nghĩ, những hành động của cá nhân, một nhóm theo yêu cầu của nhà giáo dục . Như vậy, cùng một tác động giáo dục, cả tập thể và cá nhân học sinh đều chịu ảnh hưởng. Phương pháp “bùng nổ sư phạm” 3.1. Nếu phương pháp tác động trực tiếp là phương pháp giáo dục có tính chất truyền thống, nó nảy sinh cùng với sự nảy sinh của hiện tượng giáo dục, thì phương pháp tác động song song và “bùng nổ sư phạm” xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ XX. Người xây dựng và áp dụng thành công trong công tác giáo dục trẻ em là A.X.Macarencô (1888 - 1939) - nhà giáo dục Xô viết nổi tiếng. Để hiểu rõ về phương pháp “bùng nổ sư phạm” của ông, chúng ta hãy nghe chính ông giải thích: “Tôi nói “bùng nổ’ không có nghĩa là đặt một gói bộc phá dưới chân một người nào đó, châm ngòi rồi bỏ chạy, để cho người đó nổ tung ra. Tôi muốn nói tới một tác động bất thần làm đảo lộn hoàn toàn mọi ước muốn của con người, mọi nguyện vọng của họ.” Theo kinh nghiệm giáo dục của Macarencô, chúng ta có thể hiểu “bùng nổ sư phạm” là phương pháp mà giáo viên dùng những tác động mạnh đặc biệt, bất thần tới đối tượng giáo dục, nhằm tạo ra ở họ những chuyển biến về mặt tâm lí , suy nghĩ, nhằm điều chỉnh quá trình hưng phấn và ức chế để phá vỡ những suy nghĩ, thói quen, hành vi xấu, tạo ra những suy nghĩ, những tình cảm, những hành vi mới theo yêu cầu giáo dục.
  14. 3.2. Trong quá trình giáo dục, Macarencô đã nhiều lần sử dụng thành công. Sau đây là một vài ví dụ: - Ví dụ 1: Trong trại giáo huấn của ông có một cô gái mắc tính hay cắp vặt. Ngay ngày đầu tiên vào trại, ông đã thấy tận mắt thấy cô gái lấy chiếc đồng hồ của bạn. Mọi người trong trại ai cũng nghi ngờ cô ta là thủ phạm nhưng chẳng ai nắm được bằng chứng cụ thể. Trong cuộc họp kiểm điểm, cô ta ấp a ấp úng tưởng chừng như không thể nào chối cãi được trước những câu chất vấn dồn dập. Macarencô bước vào. Những người điều khiển cuộc họp báo cáo tình hình với vẻ khinh bỉ cô gái, còn cô gái thì run sợ ngồi co rúm ở góc phòng. Macarencô nhìn khắp lượt rồi nghiêm khắc nói: “Tại sao các anh, các chị lại lên án cô ấy. Tôi chắc chắn là cô ấy không lấy đồng hồ của bạn. Nào, ai có bằng chứng gì cụ thể thì nói ra ngay đi”. Không ai nêu ra được bằng chứng nào nhưng tất cả đều lên tiếng phản đối ông. Ông vẫn lên tiếng bênh vực cô gái. Thoạt đầu cô ta vô cùng cảm động vì chỉ có ông ấy là người duy nhất bảo cô không ăn cắp và cuối cùng mọi người đã phải chấp nhận ý kiến của ông. Nhưng rồi cô ta nghiêm nghị nhìn ông với đôi mắt buồn bã. Rõ ràng cô ta không phải là đứa ngốc. Trong nỗi buồn của cô ta có chút nghi ngờ. Liệu ông ta có tin mình thật hay không hay chỉ là thủ đoạn, cô tự hỏi mình. Sau cuộc họp, Macarencô đã giao cho cô gái cả những công việc có liên quan tới tiền bạc với một lòng tin thực sự. Ông đã hành động liên tiếp nhiều tuần. Cô gái đã không chịu đựng được nữa, tìm đến Ông khóc lóc thảm thiết và nói: -Con xin cảm ơn thầy ví thầy là người duy nhất độ lượng và vẫn tin yêu con. Macarencô liền đáp và khẳng định một cách tự nhiên: -Chính con đã ăn cắp. Ta biết rõ. Chính con là thủ phạm. Nhưng từ đây ta tin là con không ăn cắp nữa. Ta hiểu như vậy nên không nói với ai và vẫn coi con như không hề phạm lỗi. Quả thật, sau đó cô gái không tái phạm một lần nào nữa. - Ví dụ 2: Trong việc tiếp nhận trại viên mới của trại Goócki, Macarencô cùng nhà trường tổ chức đón nhận rất long trọng, tổ chức đốt hết quần áo cũ của các em ... - Ví dụ 3: Ông đã trao cho Karabanốp, một kẻ có tiền án, tiền sự, một trại viên của trại đi lãnh tiền cho trại với những bùng nổ liên tiếp: + Trao giấy giới thiệu + Trao ngân phiếu + Trao ngựa + Trao súng Khi nhận tiền của em trao lại, ông không đếm và lại còn tuyên bố: -Từ nay, em là người đi lãnh tiền ở ngân hàng cho trại Goócki (Gorki) Nhờ những tác động liên tục, bất thần, cường độ mạnh đó đã làm mất đi ở em cái mặc cảm ở trại giam không ai tin em vì thấy em hay quậy phá. Sau những “pha” bùng nổ liên tiếp của Macarencô thể hiện lòng tin của ông đối với các em đã làm cho các em suy nghĩ và hành động để không làm phụ lòng tin của ông và niềm tin của tập thể đối với các em. Khi sử dụng phương pháp “bùng nổ sư phạm”, vấn đề cần đặc biệt chú ý là: - Chọn thời cơ chính xác, đúng lúc. Phải biết chớp thời cơ và phải biết tạo ra thời cơ tác động đến học sinh. - Phải xây dựng nội dung bùng nổ một cách có hệ thống, liên tiếp, cường Phương pháp giáo dục bằng "viễn cảnh” Theo Macarencô, phương pháp giáo dục bằng “viễn cảnh” là dựa trên yêu cầu của quá trình giáo dục, căn cứ vào nhu cầu của tập thể và cá nhân, xuất phát từ đặc điểm tập thể và của đối tượng giáo dục mà nhà giáo dục (trong công tác chủ nhiệm là GVCN) giúp cho tập thể xây dựng một hệ thống mục tiêu, một chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục. tổ chức thực hiện để đạt tới các dự định đã
  15. đặt ra. Hệ thống viễn cảnh bao gồm: viễn cảnh gần, viễn cảnh trung bình và viễn cảnh xa. 4.1. Viễn cảnh gần: Đó là những mục tiêu đơn giản, thời gian thực hiện ngắn, thoả mãn nhu cầu cá nhân, thậm chí đó là những nhu cầu vật chất như “một bữa ăn ngon hoặc một buổi xem xiếc, nhưng phải luôn luôn gợi ra và mở rộng từng bước những triển vọng của cả tập thể” và giới hạn những tham vọng vật chất và quyền lợi cá nhân. Vấn đề quan trọng là nhà sư phạm phải làm sao để giải quyết tốt nhất mâu thuẫn giữa viễn cảnh cá nhân và viễn cảnh tập thể, phải loại trừ dần những khát khao vật chất, những thói quen tầm thường, sự vui thích vì cá nhân. Khi nói về điều này, Macarencô đã khẳng định: “Chỉ xây dựng những viễn cảnh gần trên nguyên tắc thích thú thì sẽ là một sai lầm nặng, dù ở đây có những yếu tố ích lợi. Theo cách đó chúng ta sẽ tập cho trẻ em quen với chủ nghĩa hưởng lạc, hoàn toàn không thể chấp nhận được”. Khi một tập thể đã trở thành một gia đình hoà thuận thì mọi hình thức hoạt động tập thể đều được thừa nhận như một viễn cảnh gần vui thích. Một trong những nhiệm vụ của nhà giáo dục là phải tổ chức được những viễn cảnh như vậy, nghĩa là luôn luôn mơ ước đến ngày mai tràn đầy cố gắng và thắng lợi của tập thể. Với ý nghĩa đó, cuộc sống của tập thể sẽ chan chứa niềm vui - một niềm vui không phải của sự giải trí, của sự thoả mãn chốc lát của từng cá nhân, mà là niềm vui của sự cố gắng lao động căng thẳng và tin tưởng vào thắng lợi , thành công của tập thể và bản thân trong tương lai. Hệ thống viễn cảnh phải đạt các yêu cầu sau: + Đa dạng + Có nhiều hình thức thực hiện + Thực hiện phải có hiệu quả. Bản thân những thành công trong việc thực hiện những viễn cảnh đó sẽ là nguồn kích thích mạnh mẽ con người trong cuộc sống và hoạt động. 4.2. Viễn cảnh trung bình: Đó là những dự án, những kế hoạch của tập thể mà thời gian hoàn thành nó so với thời gian hoàn thành các viễn cảnh gần thì nó dài hơn một chút, đòi hỏi sự cố gắng chung nhiều hơn. Ví du: + Kỷ niệm một ngày lễ lớn + Ngày truyền thống của trường hàng năm ... Khi tiến hành xây dựng hệ thống mục tiêu, kế hoạch cho viễn cảnh trung bình, cần dựa vào: + Quyền lợi chung của tập thể + Lấy các kích thích về mặt tinh thần là chủ yếu, như danh hiệu, cuộc sống văn hoá... + Giảm dần những kích thích về vật chất ngay cả đối với học sinh lứa tuổi nhỏ + Nên quan tâm đến các mục tiêu xã hội, danh dự của lớp, của ngành ... 4.3. Viễn cảnh xa: Viễn cảnh xa là tương lai, là tiền đề cho sự phát triển của tập thể lớn, nói rộng ra là tương lai của trường, ngành, dân tộc mà tương lai của cá nhân nằm trong đó. Viễn cảnh xa đòi hỏi mỗi cá nhân phải có nhiều cố gắng hơn, phải có ý thức trách nhiệm cao hơn để góp phần xây dựng đất nước, biến những dự kiến thành hiện thực. Để giáo dục học sinh bằng những viễn cảnh xa, nhà giáo dục cần phải: + Tác động vào mặt nhận thức của từng cá nhân + Giúp học sinh có tinh thần tích cực, chủ động trong việc xây dựng cho mình những phương hướng trong cuộc sống, học tập, lao động ... Tất cả những mặt trên phải được xây dựng dựa trên các yêu cầu của xã hội. Tóm lại, phương pháp giáo dục học sinh bằng hệ thống viễn cảnh là giúp cho tập thể, mỗi cá nhân
  16. xây dựng cho mình một hệ thống mục tiêu (gần, trung bình, xa) và đặc biệt là chủ động thực hiện các dự án với tư cách là người chủ tích cực của quá trình giáo dục. Cơ sở khoa học của phương pháp giáo dục bằng hệ thống viễn cảnh dựa trên đặc điểm của con người là luôn luôn muốn vươn lên và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn, dù cho đó là những con người “tồi tàn” nhất, nhưng nếu biết khơi dậy trong lòng họ vẫn còn những mong muốn có một ngày mai tốt đẹp hơn những ngày đã qua. Trên đây là một số phương pháp giáo dục mà người GVCN có thể sử dụng trong công tác giáo dục học sinh. Khi sử dụng các phương pháp giáo dục này, cần lưu ý một số điểm sau: + Không có phương pháp giáo dục nào là vạn năng, không có nhà giáo dục đủ tài để đào tạo thành công những con người theo yêu cầu của chính mình và xã hội. Điều đó cần phải có sự phối hợp, vận dụng tổng hợp tất cả các phương pháp giáo dục. + Về mục đích, việc giáo dục học sinh nhằm cung cấp cho đất nước những con người mới xã hội chủ nghĩa, có đủ phẩm chất và năng lực tham gia cải tạo và xây dựng đất nước trong tương lai ; nhưng về cách thức tiến hành nên thông qua tập thể lớp, tập thể trường, xã hội ... - Đối với việc sử dụng bất cứ phương pháp giáo dục nào, vai trò của nhà giáo dục là vô cùng quan trọng. Điều này đòi hỏi nhà giáo dục : + Phải có nhân cách mẫu mực. + Có uy tín trong tập thể sư phạm và tập thể học sinh, đặc biệt đối với tập thể lớp mà mình là chủ nhiệm. + Phải có bản lĩnh vững vàng. + Nắm vững lý luận và giàu kinh nghiệm. + Phải có nhạy cảm sư phạm, linh hoạt, lạc quan, nhân đạo ... Những yêu cầu đối với người GVCN lớp. Điều 61, Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 2/12/1998, đã khẳng định: nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo phải có đủ các tiêu chuẩn sau: + Phẩm chất, đạo đức , tư tưởng tốt. + Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ. + Đủ sức khoẻ theo yêu cầu của nghề nghiệp. + Lý lịch bản thân rõ ràng. 1. Những phẩm chất chủ yếu của người GVCN lớp Là một nhà giáo dục, người GVCN lớp phải có các tiêu chuẩn như đối với nhà giáo đã nêu ở trên. Cụ thể là: 1.1. Phẩm chất chính trị, đạo đức của người GVCN Đây là một yêu cầu rất quan trọng đối với người GVCN. Chính nó tạo nên sự thành công trong công tác giáo dục thế hệ trẻ của người GVCN lớp. Đảng ta đã khẳng định giáo dục là công cụ của chuyên chính vô sản, người giáo viên là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Điều này đòi hỏi GVCN phải là người của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể phải có các phẩm chất đạo đức sau: + Có niềm tin sâu sắc vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. + Tin tưởng vào sự đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. + Những niềm tin của người GVCN phải có cơ sở vững chắc, phải dựa trên sự hiểu biết những quy luật của tự nhiên và xã hội. + Trong đạo đức của người GVCN, phải có sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm, hành vi; những phẩm chất đạo đức mà người GVCN có được phải phù hợp với các chuẩn mực xã hội hiện đại, có sự
  17. kế thừa, phát huy những truyền thống đạo đức của dân tộc. Đó là các phẩm chất đạo đức sau: + Lòng yêu thương con người, đặc biệt yêu thương trẻ em - đối tượng trực tiếp của mình. + Hăng say với công việc dạy học và giáo dục. + Quan tâm tới công việc của nhà trường và đồng nghiệp. + Có trách nhiệm đối với công việc được giao (giáo dục, giảng dạy, chủ nhiệm lớp...) + Làm chủ được bản thân trong công việc và cuộc sống. + Mẫu mực trong gia đình, trong quan hệ với người khác... + Biết giữ đúng lời hứa với mọi người, đặc biệt là đối với học sinh 2. Người GVCN lớp đồng thời là người giáo viên đứng lớp nên phải đảm bảo được trình độ chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ: + Tốt nghiệp cao đẳng sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở; + Tốt nghiệp đại học sư phạm đối với giáo viên trung học phổ thông. Nếu giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn được nhà trường tạo điều kiện để học tập, bồi dưỡng đạt trình độ chuẩn. Giáo viên có trình độ trên chuẩn được nhà trường, cơ quan giáo dục tạo điều kiện phát huy tác dụng của mình trong giáo dục và giảng dạy. 3. GVCN là người có hiểu biết rộng và có năng lực sư phạm: - Có hiểu biết chung, sâu, rộng, đặc biệt trong các lĩnh vực sau: + Khoa học kỹ thuật - công nghệ + Chính trị, xã hội + Văn học nghệ thuật + Thể dục thể thao + Những tiến bộ, thông tin mới trong nước và quốc tế. - Không ngừng học tập lý luận và tìm ra cách thức ứng dụng vào thực tiễn, đặc biệt là ứng dụng lý luận sư phạm vào công tác giảng dạy và giáo dục nói chung, công tác chủ nhiệm lớp nói riêng. - Học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp, biến nó trở thành của chính mình. - Có những hiểu biết sâu sắc, vững chắc, hiện đại về bộ môn được phân công giảng dạy. - Biết trình bày bài giảng rõ ràng, hấp dẫn cho học sinh tiếp thu. - GVCN phải có một số kỹ năng sau: + Có khả năng tiếp cận các đối tượng (học sinh, phụ huynh học sinh và các đối tượng giao tiếp khác...) và có phương pháp đối xử cá biệt. + Có khả năng phán đoán về đối tượng, về công việc và hiệu quả của công việc mà mình đang tiến hành. + Biết xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch trong công tác giảng dạy và giáo dục nói chung, công tác chủ nhiệm lớp nói riêng. + Có khả năng cảm hoá, thuyết phục học sinh + Có uy tín đối với các em + Biết bộc lộ, hoặc kiềm chế tình cảm, thái độ của mình trong những hoàn cảnh khác nhau. - GVCN cần có một số năng lực sư phạm sau: + Năng lực tổ chức hoạt động dạy học + Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục + Năng lực ngôn ngữ Năng lực sáng tạo trong công tác sư phạm + Năng lực tự học, tự nghiên cứu 4. Người GVCN cần phải có lý lịch rõ ràng, chính xác. 5. Người GVCN phải có sức khoẻ đáp ứng được những yêu cầu của nghề nghiệp.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2