intTypePromotion=3

Hiện tượng chơi chữ trong truyện cười tiếng Việt

Chia sẻ: ViHitachi2711 ViHitachi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
13
lượt xem
2
download

Hiện tượng chơi chữ trong truyện cười tiếng Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Để tạo ra tiếng cười, mỗi dân tộc có một cách thức khác nhau do có sự chi phối bởi yếu tố tâm lí và văn hóa. Ngoài cái cười tự nhiên, còn có cái cười mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Trong nhiều trường hợp, tiếng cười còn là một thứ vũ khí chống lại kẻ thù giai cấp, chống lại những cái tiêu cực trong xã hội. Có rất nhiều phương thức để gây cười. Tuy nhiên, bài viết này chỉ đề cập đến hiện tượng chơi chữ trong truyện cười của người Việt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiện tượng chơi chữ trong truyện cười tiếng Việt

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Sci., 2016, Vol. 61, No. 5, pp. 11-18<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1067.2016-0053<br /> <br /> HIỆN TƯỢNG CHƠI CHỮ TRONG TRUYỆN CƯỜI TIẾNG VIỆT<br /> Đoàn Thị Tâm<br /> Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên<br /> Tóm tắt. Để tạo ra tiếng cười, mỗi dân tộc có một cách thức khác nhau do có sự chi phối<br /> bởi yếu tố tâm lí và văn hóa. Ngoài cái cười tự nhiên, còn có cái cười mang ý nghĩa xã<br /> hội sâu sắc. Trong nhiều trường hợp, tiếng cười còn là một thứ vũ khí chống lại kẻ thù giai<br /> cấp, chống lại những cái tiêu cực trong xã hội. Có rất nhiều phương thức để gây cười. Tuy<br /> nhiên, bài báo này chỉ đề cập đến hiện tượng chơi chữ trong truyện cười của người Việt.<br /> Từ khóa: Truyện cười, chơi chữ, nói lái, đồng âm, đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Chơi chữ vừa là trò chơi trí tuệ vừa là một phương tiện để truyền tải một lượng thông tin<br /> đặc biệt. Nó nhằm thông báo những cách đánh giá hiện tượng này, sự kiện kia của xã hội. Đây là<br /> phương thức thức bao gồm các phương tiện như: nói lái, dùng từ đồng âm, đồng nghĩa, tách âm<br /> tiết trong phạm vi một từ... Tuỳ từng trường hợp, mỗi phương tiện trên lại có những cách thể hiện<br /> rất đa dạng, độc đáo [1-15].<br /> Những câu chữ được sắp xếp một cách khác thường, càng kích thích mạnh trí xét đoán thì<br /> càng trở nên sáng giá. Đôi khi chúng khiến người đọc phải "nghiền ngẫm" mới có thể tìm ra được<br /> cái nghĩa ẩn sâu dưới hình thức ngôn từ mà bên ngoài tưởng như rất bình thường đó. Bài viết của<br /> chúng tôi tìm hiểu hiện tượng chơi chữ trong truyện cười của người Việt với một số kiểu chơi chữ<br /> thường gặp.<br /> <br /> 2.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> <br /> 2.1.<br /> <br /> Khái niệm chơi chữ<br /> <br /> Chơi chữ là một phương thức tu từ bằng cách vận dụng các đơn vị của ngôn ngữ như ngữ<br /> âm, từ vựng, ngữ pháp để kích thích tình cảm và trí tuệ của con người nhằm tạo ra những liên<br /> tưởng bất ngờ, thú vị.<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Một số kiểu chơi chữ thường gặp<br /> <br /> 2.2.1. Dùng biện pháp nói lái<br /> Do âm tiết tiếng Việt có đặc điểm rất rõ là ranh giới giữa các âm tiết luôn tách bạch và cấu<br /> trúc âm tiết là cố định, hầu như về mặt lí thuyết phụ âm đầu nào cũng có thể kết hợp với bất kì<br /> Ngày nhận bài: 1/1/2016. Ngày nhận đăng: 5/5/2016<br /> Liên hệ: Đoàn Thị Tâm, e-mail: doanthitam77@gmail.com<br /> <br /> 11<br /> <br /> Đoàn Thị Tâm<br /> <br /> phần vần nào, nên trong nhiều trường hợp vẫn tạo nên những đơn vị có nghĩa.<br /> Nói lái chính là dựa vào đặc điểm trên, "người ta tráo đổi phụ âm đầu và phần vần giữa các<br /> âm tiết để tạo nên những từ ngữ khác có nội dung mới, bất ngờ, hiểm hóc" [8;180]. Mục đích của<br /> nói lái là gây tiếng cười hài hước, châm biếm, đả kích một đối tượng hay một hiện tượng xã hội<br /> nào đó.<br /> Ví dụ:<br /> Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo<br /> Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?<br /> Chày kình tiểu để suông không đấm<br /> Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo.<br /> (Chùa Quán Sứ - Hồ Xuân Hương)<br /> Đọc bài thơ trên, chúng ta đang hình dung ra cảnh tượng một ngôi chùa yên tĩnh, vắng vẻ,<br /> chỉ có sư thầy, vãi và những chú tiểu. Thế nhưng khi nói lái một số từ thì bài thơ lại có một ý nghĩa<br /> khác hẳn với ý nghĩa ban đầu, thậm chí trái ngược với ý nghĩa ban đầu: đáo nơi neo —> đ... nơi<br /> nao, suông không đấm —> đâm không xuống (phát âm giọng Bắc Bộ s —> x), đếm... đeo —> đ...<br /> đêm. Qua đó, chùa không còn là nơi uy nghiêm, thanh tịnh nữa mà cũng xô bồ như chốn trần tục.<br /> Ngoài việc nói lái để ám chỉ, công kích, chế giễu như đã nói, nói lái còn thể hiện sự nghịch<br /> ngợm, trí thông minh của người dân lao động.<br /> Xét văn bản sau:<br /> Tiếng Nghệ Tĩnh<br /> Tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, do phát âm "ruộng" thành "rọng" và "rượu" thành "riệu" nên<br /> mới có chuyện vui sau đây:<br /> "Một đoàn cán bộ về xã nọ để kiểm tra tình hình sản xuất. Đến trụ sở chẳng thấy ai, họ gặp<br /> một người nông dân và hỏi. Người ấy lắc đầu:<br /> - Ôi dào! Ban quản trị chúng tôi đang "liều với rọng", các bác không tìm thấy đâu!<br /> Nghe nói vậy, đoàn cán bộ tưởng là ban quản lí đang tập trung chỉ đạo sản xuất ngoài đồng<br /> ruộng, liền đi ra cánh đồng, nhưng cũng chẳng thấy ai. Họ quay về gặp người nông dân lúc nãy,<br /> hỏi lại, người đó cười:<br /> - "Liều với rọng" là "lòng với riệu"! Ban quản lí chúng tôi đang chè chén trong quán kia<br /> kìa!" [15;20]<br /> Lúc đầu, người nghe cứ tưởng rằng các vị trong Ban quản trị là những người mẫn cán, quan<br /> tâm sâu sát đến cuộc sống của người dân nhưng sử dụng hình thức nói lái thì thực sự lại không<br /> phải như thế. Hơn thế, nó còn trái ngược với những gì chúng ta cảm nhận ban đầu. Thì ra các vị<br /> chỉ là những người thích chè chén, chứ không lo gì cho dân cả.<br /> <br /> 2.2.2. Dùng hiện tượng đồng âm<br /> Đồng âm là một hiện tượng phổ quát của mọi ngôn ngữ, nhưng trong mỗi ngôn ngữ hiện<br /> tượng đồng âm lại có những đặc điểm riêng. Trong tiếng Việt, xuất phát từ loại hình đơn tiết, hiện<br /> tượng đồng âm rất phổ biến. Với tư cách là một phương tiện của chơi chữ, từ đồng âm được sử<br /> dụng theo nhiều cách để tạo hàm ngôn trong văn bản. Do đó, có thể dùng từ đồng âm để tạo ra<br /> những ngữ cảnh, trong đó mỗi từ sẽ cho phép ta hiểu theo kiểu nước đôi.<br /> Ví dụ:<br /> <br /> 12<br /> <br /> Hiện tượng chơi chữ trong truyện cười tiếng Việt<br /> <br /> Bà già đi chợ cầu Đông<br /> Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng<br /> Thầy bói gieo quẻ nói rằng<br /> Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn.<br /> (Ca dao)<br /> Rõ ràng là khi đọc hai câu thơ đầu, chúng ta đều hiểu dụng ý của bà lão là muốn biết việc<br /> lấy chồng ở vào cái tuổi của bà bây giờ có "lợi" gì không. Như vậy, "lợi" ở đây là "lợi ích". Thế<br /> nhưng khi nghe câu trả lời của thầy bói thì bà già (và có lẽ cả chúng ta nữa) đều bị bất ngờ. Nhờ sự<br /> đan xen của hai ngữ cảnh có tác dụng xác nhận nghĩa khác nhau mà một từ "lợi" có hai nghĩa khác<br /> nhau: "lợi" trong "lấy chồng lợi chăng" là lợi ích, còn "lợi" trong "lợi thì có lợi nhưng răng chẳng<br /> còn" là "bộ phận cắm răng". Như vậy, từ "lợi" này đã được hiểu nước đôi và ông thầy bói đã hàm<br /> ý nói với bà cụ rằng: bà già quá rồi (đến nỗi đã rụng hết cả răng) thì không nên lấy chồng làm gì<br /> nữa, sẽ chẳng có "lợi" chút nào đâu.<br /> Hay:<br /> Bạn vàng chơi với bạn vàng<br /> Đừng chơi bạn vện, ra đàng cắn nhau.<br /> (Ca dao)<br /> Trong tiếng Việt có một cụm từ "bạn vàng", tức là bạn quý và thân. Nhưng khi xuất hiện từ<br /> "bạn vện" (chó vện), bạn vàng có thể hiểu là chó (lông) vàng. Như vậy, người đọc đang hiểu theo<br /> cách này thì bắt buộc lại phải hiểu theo cách khác.<br /> Câu chuyện lí thú sau đây cũng đề cập đến vấn đề này.<br /> "Có hai ông thông gia ngồi ăn cơm với nhau. Ông bố vợ là chủ nhà có đãi ông sui món thịt<br /> luộc. Ông bố chồng thấy món thịt ngon nên cứ gắp hai miếng một lần. Ông kia bèn nói:<br /> - Anh sui, con gái tôi về làm dâu bên anh, có gì không phải thì anh đừng có "chấp" nhé!<br /> Ông bố chồng thủng thẳng:<br /> - "Thái quá" thì phải "chấp" chứ sao!"<br /> Cả hai ông đều dùng hiện tượng đồng âm để diễn đạt cho cái ý tưởng của mình. Từ "chấp"<br /> có hai nghĩa: 1) để bụng những chuyện vặt, những chuyện nhỏ nhặt (cố chấp) và 2) gộp những<br /> chung lại với nhau cho được nhiều, đây là biến âm của từ "chập". Và trong hoàn cảnh này thì ý của<br /> câu nói thuộc cái nghĩa 2). Thế nhưng, ông sui đằng trai cũng mẫn tiệp không kém khi sử dụng<br /> một từ đồng âm khác (thái quá) cũng có hai nghĩa: 1) thái mỏng quá và 2) quá mức. Như vậy, câu<br /> trả lời của ông sui nhà trai có thể được hiểu theo hai nghĩa:<br /> - Thịt thái mỏng qúa nên tôi phải chấp hai miếng lại mà gắp.<br /> - Nếu con gái anh quá đáng (có những hành vi không chấp nhận được) thì tôi cũng không<br /> thể bỏ qua (phải chấp).<br /> <br /> 2.2.3. Dùng hiện tượng đồng nghĩa và trái nghĩa<br /> Trong một ngữ huống cụ thể, có khả năng xảy ra trường hợp một nét nghĩa nào đó của một<br /> từ được sử dụng trong mối quan hệ đồng nghĩa hay trái nghĩa dựa trên cấu trúc bề mặt, nhưng<br /> những nét nghĩa khác lại được hiểu ở tầng bên dưới. Hoặc giả trong một số trường hợp, nếu đột<br /> nhiên xuất hiện một mối quan hệ ngữ nghĩa không bình thường trên cấu trúc bề mặt thì con đường<br /> đồng nghĩa hoặc trái nghĩa thường đưa ta đến với nghĩa hàm ngôn.<br /> * Từ đồng nghĩa là những từ có vỏ ngữ âm khác nhau nhưng có ý nghĩa tương tự hoặc giống<br /> 13<br /> <br /> Đoàn Thị Tâm<br /> <br /> nhau và có thể thay thế cho nhau trong cùng một ngữ cảnh mà không làm biến đổi hoặc biến đổi<br /> không đáng kể nội dung, ý nghĩa của câu. Cũng chính vì đặc điểm này mà người ta có thể dễ dàng<br /> thay đổi lẫn nhau giữa các từ vừa để tránh gây sáo mòn, nhàm chán vừa nhằm thể hiện dụng ý của<br /> mình.<br /> "Một người nghe nói bạn mình bị bệnh nhãn khoa, bèn đến thăm. Vừa vào, thấy người bệnh<br /> hai mắt sưng húp vội kêu lên:<br /> - Đã đau nhãn khoa lại còn bị bệnh mắt nữa à? Thật "hoạ vô đơn chí" [15;31].<br /> Tác giả sử dụng hiện tượng đồng nghĩa giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt để chế giễu anh<br /> chàng nọ không phân biệt được thế nào là "đau mắt", thế nào là "bệnh nhãn khoa"!.<br /> Lại có những trường hợp đồng nghĩa ngữ cảnh. Xét ví dụ sau:<br /> "Sư phụ xơi vụng thịt cầy trong phòng. Chú tiểu trông thấy hỏi, sư phụ nói là đang ăn đậu<br /> phụ.<br /> Vừa lúc ấy có tiếng chó sủa ngoài cổng chùa, sư phụ hỏi: "Cái gì ầm ĩ ở ngoài cổng thế?".<br /> Chú tiểu đáp: "Bạch cụ, đậu phụ làng cắn nhau với đậu phụ chùa đấy ạ!".<br /> Sư phụ ăn vụng thịt cầy là sự vi phạm luật giới nhà Phật. Từ cái sai đó, sư phụ phạm tiếp<br /> một cái sai khác là nói dối. Ở đây, chó (cầy) đồng nghĩa văn cảnh với đậu phụ. Nghĩa hàm ngôn<br /> nằm ở cặp từ đồng nghĩa: chó - đậu phụ, nhằm lật tẩy việc làm mờ ám và thói quen nói dối của sư<br /> phụ, đồng thời cho thấy sự thông minh của chú tiểu (lực lượng quần chúng) biết sử dụng "Gậy ông<br /> đập lưng ông".<br /> * Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa đối lập nhau và phải nằm trong mối quan hệ tương liên<br /> (cùng trường nghĩa).<br /> Trong tác phẩm "Sống mòn", Nam Cao viết: "Rồi y sẽ chết mà chưa làm được gì cả, chết<br /> mà chưa sống. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã". Ở đây, chúng ta thấy có cặp từ trái<br /> nghĩa: sống - chết. Nhưng ngoài nghĩa hiển ngôn, chúng còn mang một ý nghĩa hàm ẩn: những con<br /> người sống vô ích, sống không có hoài bão thì coi như đã chết, chết về mặt tinh thần, mặc dù thể<br /> xác vẫn tồn tại. Từ chết ở câu thứ tư chính là sự đối lập với tên truyện Sống mòn, là cặp trái nghĩa<br /> mang ý nghĩa hàm ẩn.<br /> Trong hiện tượng trái nghĩa, có những trường hợp trái nghĩa lâm thời. Có thể lợi dụng hiện<br /> tượng này để tạo những lối nói hàm ngôn khá độc đáo.<br /> Chẳng hạn, chúng ta đã từng nghe: "Miệng hùm gan sứa". Bình thường thì hùm và sứa,<br /> miệng và gan vốn không trái nghĩa với nhau. Nhưng đây là một thành ngữ, mà thành ngữ thì mang<br /> tính cố định nên ở đây "hùm" - "sứa", "miệng"- "gan" có thể coi là trái nghĩa lâm thời. "Hùm"<br /> tượng trưng cho cái dũng mãnh còn "sứa" là cái mềm yếu; "miệng" tượng trưng cho lời nói, cho<br /> cái bên ngoài, "gan" là ý chí, là cái bên trong. Như vậy, những ai bên ngoài nói mạnh, khoác lác<br /> thì thực chất bên trong lại không phải như thế, thậm chí còn khác hẳn cái thể hiện bên ngoài.<br /> Xét truyện vui:<br /> Gan sứa<br /> "Chồng nghi vợ ngoại tình. Một bữa nọ, ông đi làm thình lình về sớm. Vừa về đến nhà là<br /> ông đâm bổ đi kiếm gã nhân tình.<br /> Ngó xuống gầm giường:<br /> - Không có hắn ở đây.<br /> Nhìn vào tủ váy vợ:<br /> - Không có hắn ở trong này.<br /> 14<br /> <br /> Hiện tượng chơi chữ trong truyện cười tiếng Việt<br /> <br /> Sau đó, ông mở tủ và nhìn thấy một gã khổng lồ, cao phải tới hai mét, bắp thịt cuồn cuộn.<br /> Đứng lặng người một lúc suy tính, ông đóng sầm cửa tủ lại lắp bắp:<br /> - Hắn cũng không có ở đây nốt" [4;51].<br /> Tiếng cười như bật ra khi chúng ta đọc đến phát ngôn cuối cùng của văn bản. Hoá ra anh<br /> chàng chỉ là: "Miệng hùm gan sứa", hùng hổ thế thôi nhưng lại là kẻ nhát gan.<br /> <br /> 2.2.4. Dùng hiện tượng đa nghĩa<br /> Trong từ đa nghĩa thường có các loại nghĩa: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh (nghĩa chuyển).<br /> Nghĩa phái sinh là nghĩa dựa trên cơ sở nghĩa gốc mà có. Nó có thể là nghĩa cố định của một từ đa<br /> nghĩa nhưng cũng có thể là nghĩa tạm thời do văn cảnh tạo ra. Khi sử dụng trong chơi chữ, nghĩa<br /> phái sinh thể hiện dưới các dạng sau đây:<br /> Dạng hiện: tức là hiện rõ ra và người đọc có thể nhận thấy sự đối lập giữa nghĩa phái sinh<br /> và nghĩa gốc. Thường đây là nghĩa phái sinh thật.<br /> Ví dụ:<br /> Em vì tình, mang ba lô đằng trước<br /> Anh vì nước, mang ba lô đằng sau.<br /> (Ca dao hiện đại)<br /> Không ai mang ba lô đằng trước bao giờ, hơn nữa lại đeo ba lô vì "tình"! Cho nên, nghĩa<br /> phái sinh của "ba lô" là "bụng chửa".<br /> Dạng ẩn: tức là lối nói úp mở, mơ hồ. Nghĩa phái sinh có thể là thật cũng có thể là giả.<br /> Xét chuyện cười sau:<br /> "Một cặp tình nhân dẫn nhau vào nhà hàng ăn1 trưa. Nhưng cả hai cứ ngồi nhìn nhau sau<br /> đắm, không thèm gọi đồ ăn. Cuối cùng, chàng lên tiếng:<br /> - Ôi, nhìn em ngon lành làm sao! Anh muốn ăn2 em!<br /> - Em cũng thế! Em muốn ăn3 anh!<br /> Người phục vụ nãy giờ đứng chờ nghe thế liền hỏi:<br /> - Dạ thưa, thế anh chị uống gì ạ?" [4;101].<br /> Từ ăn1 là nghĩa gốc (ăn trưa, đồ ăn), còn từ ăn2 và ăn3 là nghĩa phái sinh. Truyện đáng cười<br /> ở chỗ, người phục vụ đã đặt hai từ "ăn" có nghĩa phái sinh trong thế tương đồng với từ "uống"<br /> mang nghĩa gốc. Hàm ý của truyện có thể có nhiều cách: vào chỗ công cộng thì không nên có<br /> những cử chỉ, lời nói đáng ra chỉ nên nói với nhau ở chỗ riêng tư; hoặc nên tế nhị, tôn trọng người<br /> khác (vì người phục vụ đã chờ rất lâu rồi).<br /> Đôi khi, có những trường hợp dùng nghĩa phái sinh văn cảnh. Ví dụ:<br /> Mẹ chồng, nàng dâu cùng cảnh goá bụa. Mẹ chồng an ủi nàng dâu:<br /> "- Số mẹ con ta không may như vậy, thôi hãy cắn răng mà chịu đựng con ạ.<br /> ít lâu sau, bà mẹ chồng có ông hàng xóm hay qua lại. Cô con dâu trách mẹ:<br /> - Sao mẹ nói phải cắn răng mà chịu?<br /> - Con còn răng mới cắn được, chứ mẹ còn răng đâu."<br /> Hoá ra, cũng là "cắn răng" nhưng nghĩa trong hai phát ngôn hoàn toàn khác nhau. Tiếng<br /> cười bật ra khi người đọc nghe cách lập luận trong phát ngôn của mẹ chồng.<br /> <br /> 15<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản