
KHAI THÁC BÀI ĐỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH
CỦA SINH VIÊN CẦU ĐƯỜNG ANH VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
ThS. NGUYỄN THỊ HỒNG TUYẾN
Bộ môn Anh văn
Khoa Khoa học Cơ bản
Trường Đại học Giao thông Vận tải
Tóm tắt: Bài báo đề cập đến quy trình dạy bài đọc tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên
Cầu Đường Anh với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Do bản chất của bài học dài và khó,
thời gian hạn chế, và yêu cầu cao đối với sinh viên, quy trình này đã được thiết kế và áp dụng
nhằm tạo hứng thú học tập cho sinh viên, tiết kiệm thời gian, khuyến khích sinh viên chủ động
tham gia và cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy và học.
Summary: The article is concerned with the ESP teaching procedures with IT support,
which apply to road and bridge English students. Due to the nature of the difficult and long
lesson, time limit, and high requirements, the procedures have been designed and applied so
as to ignite students’ interests, save time, encourage their active participation, and finally,
achieve higher teaching-learning quality.
CNTT_C
B
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cũng như nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới, Việt Nam đã và đang thúc đẩy việc
sử dụng công nghệ thông tin (CNTT)vào giáo dục. Gần đây còn có những chương trình đào tạo
giúp cho giáo viên phổ thông trung học và trung học dạy nghề ứng dụng CNTT vào giảng dạy.
Như vậy, giáo viên đại học đương nhiên phải là đội ngũ tiên phong trong việc ứng dụng CNTT
vào giảng dạy. Mặc dù điều kiện chưa cho phép và còn có một số bất tiện nhưng nếu như biết
cách khai thác thì sử dụng CNTT để dạy học có vô vàn những tiện ích, ví dụ như: giáo viên chủ
động về bài giảng, không phải chuẩn bị bài nhiều lần, có thể điều chỉnh lại bài giảng khi cần
thiết, hình ảnh và màu sắc sống động, có thể trình chiếu những lập luận hoặc hình ảnh phức tạp
để minh họa cho bài giảng, có thể tiến hành nhiều hoạt động hữu ích mà không tốn nhiều thời
gian trên lớp, v.v… Đối với bộ môn Anh văn - Trường ĐH GTVT thì khối Cầu Đường Anh
(CĐA) là đối tượng được ưu tiên nhiều nhất, đồng thời cũng là đối tượng sinh viên được đào tạo
tiếng Anh một cách bài bản nhất. Nhu cầu học tập ngoại ngữ cũng như ứng dụng CNTT vào học
ngoại ngữ của sinh viên CĐA là rất cao, đặc biệt là khi học các bài đọc chuyên ngành. Các bài
đọc vừa dài, vừa khó, hơn nữa yêu cầu đối với sinh viên CĐA là không chỉ đọc hiểu mà còn
phải nói, nghe, dịch, và viết về các chủ đề chuyên ngành nên trong các giờ học giáo viên không
đơn thuần chỉ giảng giải kiến thức cho sinh viên mà còn phải tạo ra các hoạt động phong phú,
hữu ích, tạo hứng thú để họ chủ động, tích cực tham gia và nhờ đó các em lĩnh hội và thể hiện
được kiến thức chuyên ngành bằng tiếng Anh.

II. CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA PHÒNG HỌC CĐA VÀ ĐỐI TƯỢNG SINH VIÊN
Khối CĐA được ưu tiên trang bị một phòng học riêng, có đài, video, máy chiếu và màn
hình. Trong phòng học bàn ghế có thể được bố trí cho sinh viên ngồi theo nhiều cách khác nhau
để có thể tổ chức cá hoạt động theo nhón, từng đôi, hoặc cả lớp. Sinh viên CĐA nhìn chung là
thông minh và năng động, chính vì vậy mà các em dễ chán nản khi phải nghe giảng đều đều với
các hoạt động đơn điệu, không tạo điều kiện để các em được thể hiện khả năng của mình. Để
gây được cảm hứng học tập của sinh viên thì bên cạnh kiến thức vững vàng, giáo viên cần có
những sáng tạo trong phương pháp giảng dạy để đạt hiệu quả cao.
Hơn nữa, khi bảo vệ tốt nghiệp sinh viên CĐA phải sử dụng phần mềm thuyết trình và nói
bằng tiếng Anh nên những giờ học trên lớp thực sự là bước tập duyệt hữu ích để các em thể hiện
thành công khi bảo vệ đồ án sau này.
III. ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU CỦA BÀI ĐỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH
Bài đọc tiếng Anh chuyên ngành (TACN) dài trung bình khoảng 5-6 trang về các vấn đề
xây dựng công trình nói chung và xây dựng cầu đường nói riêng. Những vấn đề chuyên môn
viết bằng tiếng Anh vốn đã khó hiểu lại càng trở nên khó hiểu khi sinh viên chưa được học qua
bằng tiếng Việt. Trong các cuốn giáo trình chưa có nhiều tranh ảnh để minh họa cho các bài
đọc, nếu có thì các tranh ảnh thiếu màu sắc và khó nhìn. Bên cạnh các bài đọc dài, còn có rất
nhiều các nhiệm vụ mà sinh viên phải thực hiện, ví dụ học từ mới, làm bài tập ngữ pháp, trả lời
câu hỏi đọc hiểu, nói và viết bài luận về những chủ đề đã học. Thời gian dành cho học TACN ở
trên lớp là 7 tiết 1 bài. Cuối kỳ sinh viên phải thi nói và thi viết TACN cùng với các kỹ năng
khác của tiếng Anh cơ bản.
CNTT-
CB
Như vây, yêu cầu đối với một bài đọc TACN là sinh viên CĐA không những phải hiểu và
trả lời được các câu hỏi của bài đọc như sinh viên thông thường mà còn phải học thuộc, phát âm
chuẩn và biết cách sử dụng đúng một lượng thuật ngữ chuyên ngành lớn. Cao hơn nữa, sinh
viên còn phải nói và viết lại những vấn đề đã học, đọc thêm tài liệu về các vần đề đó rồi thuyết
trình trước lớp. Có như vậy thì nội dung bài giảng bằng tiếng Anh mới ngấm và thực sự trở
thành kiến thức của sinh viên.
IV. QUY TRÌNH DẠY – HỌC BÀI ĐỌC TACN VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CNTT
Với cơ sở vật chất vốn có, xác định rõ yêu cầu, mục đích, thời gian giảng dạy và qua nhiều
năm tiến hành dạy tiếng Anh cho sinh viên CĐA với không ít trăn trở, chúng tôi thiết nghĩ cần
phải sáng tạo hơn nữa, phát huy khả năng tự học tập, nghiên cứu của sinh viên ở nhà, tạo ra
nhiều hoạt động phong phú trong thời gian có hạn trên lớp để biến những giờ học TACN thành
những bài giảng thực sự bổ ích và hứng thú. Chúng tôi đã chia giờ học thành các bước với nhiều
hoạt động như sau:
1. Cả lớp đọc đồng thanh từ mới: Yêu cầu đọc đúng phiên âm và trọng âm

Sinh viên trường kỹ thuật có yếu điểm là phát âm tiếng Anh rất kém. Nếu không dạy cho
họ cách phát âm chuẩn ngay từ đầu thì sau này rất khó sửa và gặp nhiều khó khăn trong giao
tiếp. Hiện tượng đọc sai dấu phiên âm và nhấn nhầm trọng âm là điều hết sức phổ biến đối với
sinh viên CĐA. Chính vì vậy, chúng tôi quan tâm đến việc luyện âm cho sinh viên trong các bài
đọc TACN. Trong giáo trình cũng có liệt kê và giải nghĩa từ mới nhưng thiếu mục từ loại và dấu
phiên âm nên chúng tôi đã lập bảng từ mới kèm từ loại, phiên âm và giải nghĩa để chiếu lên màn
hình cho SV đọc đồng thanh theo giáo viên. Thời gian dành cho hoạt động này chỉ mất khoảng
5 dến 10 phút nhưng có tác dụng rất lớn vì sinh viên được nhìn dấu phiên âm chuẩn quốc tế,
nhớ cách đọc chuẩn và luôn ý thức được tầm quan trọng của phát âm chuẩn.
Mặt khác phần lớn các từ mới đều là thuật ngữ chuyên ngành nên có nghĩa đặc biệt. Nhiều
khi trong từ điển không có cụm từ đó hoặc không liệt kê nét nghĩa đó. Trong bài 6: Bidges của
giáo trình English for Civil Engineering dùng để dạy học phần A5+ A6 cho sinh viên CĐA có
tới khoảng 100 thuật ngữ mà sinh viên chưa chắc chắn về ngữ nghĩa, dấu phiên âm và trọng âm.
Sau đây là trích dẫn bảng thuật ngữ và từ mới của bài đọc này. Đọc từ mới thường được tiến
hành vào cuối giờ học để cho sinh viên có thể chuẩn bị bài ở nhà và đọc lại vào đầu giờ học sau:
STT Tiếng Anh Từ loại Phiên âm Tiếng Việt
1 spectacular adj /spek'tổkjulə/ đẹp
2 civil enginering n /'sivl/ /,endʤi'niəriɳ/ xây dựng dân dụng
3 survive v /sə'vaivə/ còn tồn tại
4 imposing adj /im'pouziɳ/ ấn tượng
5 arch n /ɑ:tʃ/ vòm
6 masonry n/adj /'meisnri/ khối xây
7 brick n/adj /brik/ gạch
8 historian n /his'tɔ:riən/ nhà sử học
9 pier n /piə/ trụ cầu
10 bedrock n /'bed'rɔk/ nền đá
11 extend v /iks'tend/ kéo dài
12 pontoon n /pɔn'tu:n/ phao
13 hollow adj /'hɔlou/ rỗng
14 suspension bridge n /səs'penʃn'bridʤ/ cầu treo
15 fibre n/adj /'faibə/ sợi
16 gorge n /gɔ:dʤ/ hẻm núi, đèo
17 mountainous adj /'mauntinəs/ thuộc miền núi
18 expansion n /iks'pổnʃn/ phát triển
19 enormously adv /i'nɔ:məsli/ lớn mạnh
20 transportation n /,trổnspɔ:'teiʃn/ giao thông vận tải
21 railroad n /'reilroud/ đường sắt
22 exert v /ig'zə:t/ tác động (lực)
23 available adj /ə'veiləbl/ có sẵn
24 ability n /ə'biliti/ khả năng
25 distance n /'distəns/ khoảng cách
CNTT_C
B

26 eliminate v /i'limineit/ loại bỏ
2. Sinh viên phải chuẩn bị bài trước ở nhà
Vì bài đọc khó, yêu cầu lại cao nên sinh viên cần phải có khá nhiều thời gian để đọc trước
ở nhà. Trước hết là nắm được các thuật ngữ và hiểu nội dụng của bài đọc và sau đó là tập nói lại
viết lại và dịch bài đọc. Nếu không có sự chuẩn bị trước ở nhà thì đến lớp SV khó có thể hiểu
bài chứ chưa nói gì đến tham gia có hiệu quả vào các hoạt động trong giờ học.
3. Chia bài đọc và chia nhóm sinh viên
Thông thường ở học phần A5 chỉ còn lại một lớp CĐA với số lượng sinh viên giao động
trong khoảng 40-50 sinh viên. Những sinh viên này có ý thức học tập khá tốt và trình độ tiếng
Anh cũng đã tương đối. Tuy nhiên số lượng sinh viên tham gia học TACN không phải lúc nào
cũng đầy đủ do rất nhiều lý do khác nhau. Nếu tổng số sinh viên có mặt là 30 thì lớp sẽ được
chia thành 5 nhóm, mỗi nhóm có 6 em. Thời gian thảo luận của nhóm thường kéo dài trong
vòng khoảng 20-25 phút. Trong các giờ học TACN, việc chia nhóm thường xuyên được áp
dụng nên có một số em có trình độ tiếng Anh khá tốt sẽ thường xuyên làm nhóm trưởng. Nhóm
trưởng phải quán xuyến, chỉ đạo nhóm thực hiện các hoạt động, đồng thời phân công các thành
viên trình bày trước lớp.
Trong khi thảo luận, tất cả các thành viên đều có quyền lợi và trách nhiệm tham gia. Trước
giờ học, bàn ghế đã được kê lại thành từng nhóm do đó rất tiện lợi để thảo luận. Khi hoạt động
theo nhóm nhỏ, sinh viên cảm thấy tự tin hơn và bày tỏ quan điểm thoải mái hơn. Thời gian
dành cho họ nói cũng nhiều hơn và đặc biệt là mọi người trong nhóm đều chú ý và đánh giá họ
nên họ phát huy được tính tích cực và chủ động của mình. Hơn nữa, nếu không học tích cực thì
sẽ không hoàn thành nhiệm vụ. Một nhóm chỉ có khoảng 5-6 người và các nhiệm vụ phải tiến
hành trước lớp còn lớn hơn số thành viên nên ai cũng phải phụ trách ít nhất là một nhiệm vụ.
Tất cả các thành viên tất nhiên là phải chuẩn bị toàn bộ bài đọc ở nhà. Thời gian thảo luận là để
cho họ diễn tập chuyên sâu về một đoạn để trình bày, giải thích bằng tiếng Anh trước lớp sao
cho cả lớp hiểu bài sâu sắc hơn. Nếu một nhóm đã thực hiện trước lớp tất cả các nhiệm vụ mà
phần lớn sinh viên vẫn chưa hiểu bài hoặc không hiểu ý họ muốn nói gì thì có nghĩa là nhóm đó
thất bại còn nếu cả lớp hài lòng vì hiểu rõ vấn đề thì họ thành công.
CNTT-
CB
4. Nhiệm vụ của nhóm về đoạn đã được phân công.
4.1. Đọc trước lớp
Sau khi thảo luận xong, nhóm có thể cử một hoặc hai thành viên đọc to đoạn được giao.
Hoạt động này giúp sinh viên luyện phát âm và nối âm. Yêu cầu phải đọc nhanh, phát âm chuẩn
và có nối âm. Nếu sinh viên đọc kém thì rất mất thời gian và làm cho các bạn khác khó chịu
nên ai được giao nhiệm vụ đọc phải có khả năng phát âm chuẩn, đọc nhanh, lưu loát. Tất nhiên
đây chỉ là bước thể hiện trước lớp chứ tất cả các SV đã có thời gian luyện đọc ở nhà và theo
nhóm rồi.
4.2. Kiểm tra từ mới

Để chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo thì buộc sinh viên phải nắm được toàn bộ lượng từ
mới và cách đọc. Sau khi đã học ở nhà và cùng học theo nhóm, một sinh vên sẽ đứng trước lớp
để nói nhanh từ mới. Giáo viên nói tiếng Anh thì sinh viên đó nói tiếng Việt và ngược lại. giáo
viên không chỉ kiểm tra từ đơn lẻ mà còn kiểm tra các cụm từ và cấu trúc phức tạp. Ví dụ, đối
với nhóm được phân công đoạn một của bài 6 thì sẽ phải chuyển dịch nhanh các từ hoặc cụm từ
sau đây:
STT Giáo viên nói: Sinh viên nói: Kết quả
1 Pontoon Cầu phao
2 Expansion Phát triển
3 Masonry arch bridge Cầu vòm đá
4 To eliminate Loại bỏ
5 Transportation system Hệ thống giao thông
6 Hiệu ứng như đập Damlike effect
7 Vượt khẩu độ lớn hơn To span greater distances
8 Cầu treo Suspension bridge
9 Lực tác động lên kết cấu the forces exerted on the structures
Khi SV đọc thì giáo viên tích nhanh vào các phương án đúng. Sau khi sinh viên đã thực
hiện xong nhiệm vụ thì trên màn hình sẽ hiện lên bảng từ và cụm từ vừa kiểm tra. Như vậy phần
thực hiện của SV này có thể được cả lớp đánh giá khách quan, công khai.
4.3. Trả lời câu hỏi của giáo viên
CNTT_C
B
Trong giáo trình TACN A5, sau mỗi bài đọc có khoảng 20 câu hỏi rất phù hợp cho phần
luyện tập này. Tuy vậy trong các giáo trình TACN khác áp dụng cho khối CĐA số lượng câu
hỏi được thiết kế dưới dạng khác, ví dụ trắc nghiệm (multiple choice) hoặc đúng – sai (true or
false). Số lượng câu hỏi ít và dễ. Như vậy giáo viên sẽ phải đặt thêm nhiều câu hỏi cho phần
này. Đối với đoạn 1 bài 6 giáo trình ECE, ta có thể hỏi nững câu hỏi sau:
STT Câu hỏi Trả lời Kết quả của SV
1 How were the bridge that
have survived from ancient
times constructed?
They were constructed with arch
structures of heavy masonry,
usually stone or brick.
2 What two Rome bridges
still exist?
The Fabricius Bridge and the
Sant’ Angelo Bridge.
3 What other kind of bridges
do ancient sources
mention?
They mention pontoon bridges.
4 What is a pontoon? It is a hollow drum that can float.
5 How can pontoon make a
bridge?
A series of pontoons anchored to
a riverbed can support a roadway.
6 What kind of bridges did
the Incas of Pre-Columbian
Peru build?
They built remarkable suspension
bridges supported by cables of
natural fibers.
7 Why were these bridges
built?
They were built to cross many
deep gorges in their mountainous

