intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp giảm nghèo tại thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk

Chia sẻ: Kiệm Kiệm | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:79

0
125
lượt xem
52
download

Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp giảm nghèo tại thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp giảm nghèo tại thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk là nhằm đánh giá thưc trạng giảm nghèo tại thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo tại thị trấn; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảm nghèo tại thị trấn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp giảm nghèo tại thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk

  1. LỜI CẢM ƠN Để  hoàn thành khóa luận tốt nghiệp  “Thực trạng và giải pháp giảm  nghèo tại thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk” tôi xin chân thành  gửi lời cảm ơn đến: Toàn thể  các thầy, cô giáo Trường Đại học Tây Nguyên nói chung,  thầy cô giáo Khoa Kinh tế  nói riêng đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt   những kiến thức cơ sở lý luận rất quý giá giúp cho tôi nâng cao được nhận  thức trong quá trình thực tập cũng như quá trình nghiên cứu. Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn Cn. Nguyễn Đức Quyền đã tận tình  hướng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành  đề tài này. Tôi xin cảm  ơn các bác, cô, chú, anh, chị   ở  UBND thị  trấn Ea Súp và   bà con trong thị trấn đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu và áp  dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn. Đắk   Lắk,   tháng   06   năm  2016 Sinh viên                                                                                     Lê Công Kiệm 1
  2. MỤC LỤC 2
  3. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VIẾT TẮT NGUYÊN NGHĨA ANQP An ninh quốc phòng BHYT Bảo hiểm y tế BQ Bình quân CNH Công nghiệp hóa DTTS Dân tộc thiểu số                         ĐV Đơn vị tính ĐVT Đơn vị tính GDVH Gia đình văn hóa HĐH Hiện đại hóa HĐND Hội đồng nhân dân KHHGĐ Kế hoách hóa gia đình           KHKT Khoa học kỹ thuật NHTG Ngân hàng thế giới NNNT Nông nghiệp nông thôn NTM Nông thôn mới PTNN Phát triển nông thôn PTSX Phương tiện sản xuất QCHQS Ban chỉ huy quân sự TB&XH Thương và binh xã hội TCTK Tổng cục thống kê UBND Ủy ban nhân dân         XĐGN Xóa đói giảm nghèo 3
  4. DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
  5. PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài      Trong 30 năm qua, từ  năm 1986 Việt Nam là một trong những nước   thành công về quá trình phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Việt Nam   từ  một trong những quốc gia nghèo nhất thế  giới với thu nhập bình quân  đầu người dưới 100 đô la Mỹ đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình  thấp, với thu nhập đầu người 1.200 đô la Mỹ như hiện nay.  Để giảm tỷ lệ nghèo xuống mức thấp nhất, không còn tình trạng tái  nghèo của người dân thì công tác giảm nghèo luôn luôn là mối quan tâm  hàng đầu của nước ta, bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự  hưng thịnh của   một quốc gia. Xóa đói giảm nghèo luôn là một trong những mục tiêu trọng   tâm trong mối quan tâm của đảng, nhà nước, nhân dân việt nam đặc biệt là  xóa đói giảm nghèo  ở  khu vực miền núi nông thôn. Trong thực tế, hoạt  động giảm nghèo đã đạt được những tiến bộ  đáng kể  nhưng còn không ít  khó khăn, thách thức cần vượt qua để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của  Liên Hợp Quốc mà việt nam đã cam kết. Thị trấn Ea Súp có Tổng diện tích  tự  nhiên 1.365 ha. Tổng số  nhân khẩu trên địa bàn thị  trấn: 12.492 khẩu   với 2.833 hộ, dân tộc thiểu số: 668 hộ/3.338 kh ẩu, chi ếm 28,55% s ố dân  trong toàn thị  trấn gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Ê Đê, Mườ ng, Chăm,…  đượ c phân bố  trên 5 tổ  dân phố, 10 thôn, 5 buôn. Người dân  ở  đây sống  chủ yếu là nhờ  sản xuất nông nghiệp, cây trồng chủ  yếu là cây lúa, ngô, …và các loại cây lương thực, hoa màu. Các ngành nghề  thương mại và  dịch vụ chiếm tỷ lệ không đáng kể  làm cho đời sống ngườ i dân còn gặp   nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (UBND thị trấn Ea Súp). Trong những năm qua thị  trấn đã thực hiện nhiều chương trình mục   tiêu xóa đói, giảm nghèo như: vay vốn NH chính sách xã hội cho người   nghèo, các chương trình khuyến nông, hỗ  trợ nhà ở cho người nghèo,…Đã  đạt được nhiều kết quả  lớn, số  hộ  nghèo đã giảm qua các năm, tỷ  lệ  hộ  5
  6. nghèo bình quân mỗi năm giảm 8% tính đến 2015 toàn thị  trấn còn 194 hộ  nghèo, chiếm tỷ  lệ  là 11,96%. Số  hộ  nghèo đã giảm từ  256 hộ  vào năm  2013 xuống còn 194 hộ  vào năm 2015; tỷ  lệ  hộ  nghèo giảm từ  24,2% vào  năm 2013 xuống còn 11,96% vào năm 2015 (UBND thị  trấn Ea Súp).   Tuy  nhiên, bên cạnh những kết quả  đạt được vẫn còn một số  khó khăn, hạn  chế   như một  bộ  phận  người  nghèo chưa  tiếp cận  được  với  dịch  vụ   y  tế, nhất là đối với những truờng hợp đi làm ăn xa và già yếu không tự đi lại  được; tỷ  lệ  đối tượng cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế  chưa cao; mức  cho   vay   còn   thấp đã   hạn   chế   phần   nào   về   quy   mô   sản   xuất   của   hộ  nghèo; công tác tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức về  công tác   giảm nghèo  ở  một số  địa phương còn hạn chế, chưa được thường xuyên;  một bộ  phận hộ  nghèo  và cận nghèo còn mang tính  ỷ  lại, không tự  lực   vươn lên để thoát nghèo…  Xuất phát từ  tình hình thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề  tài:  “Thực trạng và giải pháp giảm nghèo tại thị  trấn Ea Súp, huyện Ea   Súp, tỉnh Đắk Lắk” 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ­ Đánh giá thưc trạng giảm nghèo tại thị  trấn Ea Súp, huyện Ea Súp,  tỉnh Đắk Lắk. ­ Xác định các yếu tố  ảnh hưởng đến giảm nghèo tại thị trấn Ea Súp,  huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. ­ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảm nghèo tại thị  trấn Ea Súp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. 6
  7. PHẦN HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Cơ sở lý luận 2.1.1. Một số khái niệm cơ bản 2.1.1.1. Nghèo đói Thực tế, thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ  mà không dùng   khái niệm đói nghèo như   ở  Việt Nam và nhận định nghèo khổ  theo bốn  khía cạnh là thời gian, không gian, giới và môi trường (Trần thị Hằng). Về  thời gian: Phần lớn người nghèo khổ  là những người có mức  sống dưới mức "chuẩn" trong một thời gian dài, cũng có một số  người  nghèo khổ tình thế như những người thất nghiệp, những người mới nghèo  do suy thoái kinh tế hoặc thiên tai địch họa, tệ nạn thị trấn hội, rủi ro…  Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi có phần  lớn dân số sinh sống. Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết   ở các nước đang phát triển cũng có xu hướng gia tăng.  Về  giới: Người nghèo là phụ  nữ  đông hơn nam giới, nhiều hộ  gia   đình nghèo nhất do nữ giới là chủ  hộ. Trong các hộ  nghèo đói do đàn ông   làm chủ thì người phụ nữ vẫn khổ hơn nam giới.  Về  môi trường: Phần lớn người thuộc diện đói, nghèo đều sống  ở  những vùng khắc nghiệt mà  ở  đó tình trạng đói nghèo và xuống cấp của  môi trường đều đang ngày càng trầm trọng thêm. Khi đánh giá nước giàu, nghèo trên thế giới, giới hạn đói nghèo được  biểu hiện bằng chỉ  tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân đầu người  (GDP). Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng chỉ căn cứ vào thu nhập   thì chưa đủ  căn cứ  để  đánh giá, vì vậy bên cạnh chỉ  tiêu này tổ  chức hội   đồng phát  triển Hải  ngoại (ODC)  đưa ra chỉ  số  chất lượng cuộc sống   (PQLI) để đánh giá, bao gồm 3 chỉ tiêu cơ  bản sau: ­ Tuổi thọ ­ Tỷ lệ xoá  mù chữ ­ Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh. 7
  8. Quan điểm về  nghèo hay nhận dạng nghèo của từng quốc gia hay   từng vùng, từng nhóm dân cư  nhìn chung không có sự  khác biệt đáng kể,   tiêu chí chung nhất để  xác định nghèo vẫn là mức thu nhập hay mức chi   tiêu để  thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ng ười về ăn,  ở, mặc, y  tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp thị trấn hội. ­ Nghèo  là tình trạng một bộ  phận dân cư  chỉ  có những điều kiện  thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức   sống thấp hơn mức sống của cộng đồng trên mọi phương diện (Trần thị  Hằng). + Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ  phận dân cư  có mức sống   dưới ngưỡng quy định của sự  nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc  vào đặc điểm cụ  thể  của từng địa phương, từng thời kỳ  cụ  thể  hay từng  giai đoạn phát triển kinh tế  thị  trấn hội cụ  thể  của từng địa phương hay   từng quốc gia. ­ Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đưa ra: + Nghèo tuyệt đối: là việc không thỏa mãn nhu cầu tối thiểu  để  nhằm duy trì cuộc sống của con người. + Nghèo tương đối: là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu   tại mộ thời điểm nào đó. 2.1.1.2. Hộ nghèo ­ Khái niệm về  hộ nghèo: Hộ  nghèo là tình trạng của một số hộ gia  đình chỉ  thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc s ống và có mức  sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phươ ng  diện (Trần thị Hằng).  Khái niệm về thị trấn nghèo và vùng nghèo: ­ Thị trấn nghèo là thị trấn có đặc trưng như sau: + Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của thị trấn. 8
  9. + Không có hoặc thiếu rất nhiều những công trình cơ  sở  hạ  tầng  như: Điện sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm y tế và nước sinh   hoạt. + Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao. ­ Khái niệm vùng nghèo: là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một  số  thị  trấn liền kề  nhau hoặc một vùng dân cư  nằm  ở  vị  trí rất khó khăn  hiểm trở, giao thông không thuận lợi (Trần thị Hằng). 2.1.1.3. Hộ tái nghèo, hộ thoát nghèo ­ Hộ  thoát nghèo là hộ  nghèo trong năm trước năm báo cáo nhưng   không còn là hộ nghèo trong năm báo cáo theo chuẩn nghèo cho một thời kỳ  nhất định (thường là 1 năm) trong đó có năm báo cáo.  ­ Hộ tái nghèo là hộ  đã thoát nghèo nhưng trong năm báo cáo lại rơi   vào hộ nghèo theo chuẩn nghèo cho một thời kỳ nhất định (thường là một   năm), trong đó có năm báo cáo. 2.1.1.4. Chính sách giảm nghèo ­ Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện  nào đó củ chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được   và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự  phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế  ­ văn hóa ­ thị  trấn hội ­ môi  trường. ­ Chính sách giảm nghèo là tổng thể  các quan điểm, tư  tưởng, các   giải pháp và công cụ  mà Nhà nước sử  dụng để  tác động lên các chủ  thể  kinh tế thị trấn hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo, thực hiện mục tiêu xoá   giảm nghèo, từ đó xây dựng một thị trấn hội giàu đẹp (Trần thị Hằng). 2.1.2.Các quan điểm đánh giá nghèo Sẽ  không có chuẩn nghèo nào chung cho tất cả  các nước, vì nó phục  thuộc vào sự phát triển kinh tế ­ xã hội của từng vùng từng quốc gia. 9
  10. ­ Phương pháp thông dụng để đánh giá mức độ nghèo là xác định mức  thu nhập có thể  đáp  ứng nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của con người,   sau đó xác định xem ở trong nước hay vùng có bao nhiêu người có  mức thu  nhập ở mức đó. Tuy nhiên phương pháp lượng hóa nhu cầu tối thiểu ở mỗi   nước để biểu hiện đường ranh giới đói nghèo cũng khác nhau. ­ Trên thế  giới, các nước thường đưa ra những chỉ  số  thu nhập khác  nhau của mình. Tuy nhiên thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ là một  trong những căn cứ để đo mức độ phát triển chung của một số nước so với   các nước khác. Chỉ số thu nhập có tính chất tương đối và có hạn chế nhất  định, không phải chỉ số  trung bình cao về thu nhập quốc dân (GDP) là hết  đói nghèo. Thực tế trên thế giới không thiếu gì những quốc gia tư bản chủ  nghĩa có trình độ  phát triển cao, phải có thu nhập bình quân đầu người rất   cao song cũng chính ở đó đang diễn ra cảnh đói nghèo và mất công bằng xã   hội gay gắt. Cho đến nay, tiêu chuẩn thu nhập quốc dân bình quân đầu  người đang được sử  dụng ngày càng phổ  biến để  đánh giá trình độ  phát  triển của một quốc gia. XĐGN là tìm con đường phát triển tốt nhất, là làm   tăng lên không ngừng mức sống và chất lượng cuộc sống của dân cư  theo  mục tiêu công bằng xã hội. Để  phân tích nước nghèo, nước giàu của quốc   gia bằng  mức  thu nhập bình quân đầu người trên năm để  đánh giá thực  trạng giàu­ nghèo của các nước ở cấp độ sau: Nước cực giàu: Từ 20.000­ 25000 USD/người/năm.  Nước khá giàu: Từ 10.000­ 20.000 USD/người/năm. Nước trung bình: Từ 2.500­ 10.000USD/người/năm. Nước cực nghèo: Từ 500USD/người/năm. Ở Việt Nam, Bộ Lao động thương binh và xã hội (LĐ­ TB&XH) là cơ  quan thường trực thực hiện XĐGN. Cơ  quan này đã đưa ra  mức xác định  khác nhau về nghèo đói tùy theo từng thời kỳ phát triển của đất nước. 10
  11.   +   Theo   chuẩn   nghèo,   cận   nghèo   quy   định   tại   Quyết   định   số  09/2011/QĐ­TTg ngày 30 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng chính phủ  ban  hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015: Bảng 2.1 : Tiêu chí phân loại hộ Thành thị Nông thôn Mức chuẩn nghèo
  12. vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương theo thời điểm nhất định.  Ở  thị  trấn Ea Súp nói riêng và tỉnh Đắk Lắk nói chung đều lấy chuẩn   nghèo theo quy định chung của bộ LĐ­ TB&XH đã quy định. 2.1.3. Nguyên nhân đói nghèo  Theo đánh giá của Liên hợp quốc về nguyên nhân nghèo ở Việt Nam (Documents). Đặc trưng của hộ nghèo: + Sử dụng 70% thu nhập chi phí cho ăn uống. + Thu nhập bình quân 
  13. chất và khoa học kỹ thuật hoặc có đầu tư nhưng mang tính được đến đâu   hay đến đó, không có đánh giá tổng kết hiệu quả đầu tư nên dẫn đến một  bộ  phận nhân dân có thái độ  trông chờ,  ỷ  lại, dẫn đến tình trạng nghèo   càng nhiều hơn. Ngoài ra còn do chính sách đầu tư  giữa các vùng – miền   không đúng mức đã dẫn đến sự  chênh lệch giàu ­ nghèo giữa thành thị  và   nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi, giữa dân tộc này với dân tộc khác. ­ Nhìn chung, các nguyên nhân nghèo không tồn tại độc lập, riêng rẽ  mà chúng đan xen lẫn nhau. Vì vậy, nghèo phải được nhìn nhận theo quan  điểm hệ  thống. Trợ giúp cho đối tượng nghèo chỉ  là giải pháp trước mắt,   tạm thời. Muốn giảm nghèo bền vững cần phải có giải pháp đúng đắn. Nhóm 3. Các nguyên nhân kết hợp Do các hộ  nghèo thường là đông con, thiếu việc làm, thiếu ruộng  đất, thu nhập thấp, họ muốn đi làm thuê nhưng lại có những băn khoăn: Sợ  không có người thuê, sợ  không có bảo hiểm, sợ  mang tiếng phải đi làm  thuê, sợ  không được trả  công thoả  đáng.... Hoặc là do trình độ  hiểu biết  thấp nên không biết làm ăn, sản xuất không có hiệu quả  nhưng lại không   thể  tham gia các hoạt động giáo dục đào tạo của cộng đồng để  nâng cao  trình độ mà luôn mặc cảm, tự ty,.... Điều này khiến cho người nghèo không  thể thoát nghèo được, nó thể hiện như một cái vòng luẩn quẩn mà người ta  còn gọi là “Vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói”. Nhóm 4. Do thị trường không ổn định Do thị trường không ổn định giá cả các mặt hàng nông sản tăng giá trượt giá và trượt giá liên tục đầu vào, sản phẩm nông nghiệp chưa có thị  trường tiêu thụ ổn định, bấp bênh và thường  không có sức cạnh tranh trên  thị trường dẫn đến họ nhiều thiệt thòi. Nhóm 5. Những tình huống đột xuất Đa số dân tộc ít người sinh sống trong các vùng sâu, vùng xa bị cô lập   về mặt địa lý, văn hoá, thiếu điều kiện phát triển về hạ tầng cơ sở và các   dịch vụ xã hội nên dẫn đến nghèo với họ và khó có thể giảm nghèo. 13
  14. Do bệnh thành tích, một số  địa phương đã khống chế  tỷ  lệ  nghèo  thấp hơn so với thực tế dẫn đến trong thực tế vẫn còn một bộ phận người  nghèo chưa được tiếp cận được các chính sách, dự  án dành cho người   nghèo, điều này gây ra những nhận thức sai lệch về chủ trương của Đảng  và chính sách của Nhà nước. 2.1.4. Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong công   tác giảm nghèo    Một là, xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là  nhiệm vụ trọng tâm trước mắt. Tính lâu dài của xóa đói giảm nghèo là do: Thứ  nhất, xóa đói giảm nghèo là nội dung và nhiệm vụ  cần thực   hiện để  bảo đảm công bằng xã hội. thực tiễn cho thấy, có những nguyên   nhân nảy sinh đói nghèo không phải do môi trường xã hội, không do điều  kiện kinh tế,  địa lý mà do hoàn cảnh và đặc điểm của từng cá nhân, từng  hộ gia đình. Những trường hợp này luôn có khả năng xuất hiện và việc xóa  đói giảm nghèo mang tính thường trực. Thứ hai, chủ trương của Đảng ta phát triển kinh tế nhiều thành phần là  một định hướng chiến lược. Nền kinh tế  vận hành theo cơ  chế  thị  trường  luôn có xu hướng phân hóa hai cực giàu nghèo. Vì vậy, cùng với việc tăng  cường sự  quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ  nghĩa thường  xuyên, liên tục và lâu dài thì nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo cũng là vấn đè liên  tục và lâu dài mới giải quyết được. Thứ  ba, dân giàu nước mạnh là mục tiêu cơ  bản của chủ  nghĩa xã  hội. Thực hiện mục tiêu này là một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ. Xóa đói giảm nghèo vừa có tính cơ bản và cần thực hiện liên tục, lâu  dài, lại là một công việc cần làm trước mắt, bởi vì sự nghiệp cách mạng và   công cuộc đổi mới luôn đặt ra nhiệm vụ: mỗi bước phát triển kinh tế ­ xã  hội là một bước cải thiện đời sống của nhân dân, bởi vì đây không chỉ  là   14
  15. việc thực hiện truyền thống, đạo lý của dân tộc “thương người như  thể  thương thân” mà còn là nhiệm vụ  để  bảo đảm  ổn định xã hội, củng cố  khối đại đoàn kết dân tộc. Hai là, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo nhưng  đây là hai nhiệm vụ có tính độc lập tương đối. Có người cho rằng, muốn xóa đói giảm nghèo trước hết phải đầu tư  phát triển sản xuất để  tăng trưởng kinh tế. Chỉ  đến khi kinh tế  đã phát  triển đến giai đoạn nhất định sẽ  hết đói nghèo, vì thế  không nên đặt vấn  đề  xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ  lâu dài và trọng yếu. Thực ra tăng  trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến việc giả quyết vấn đề  nghèo đói, bởi vì  nguyên nhân chính yếu của đói nghèo nói chung là kinh tế  chưa phát triển.  Tuy nhiên, đói nghèo lại do nhiều nguyên nhân khác mang tính đặc thù,   trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay chúng ta chấp nhận kinh tế nhiều   thành phần cùng vận động, phát triển cũng là phải chấp nhận tình trạng  giàu nghèo tương đối. Vì vậy, xóa đói giảm nghèo không những là công   việc cần thiết mà là nhiệm vụ  cấp bách và quan trọng. Chúng ta xác định  sự phân hóa giàu nghèo không thể tránh khỏi, nên cũng quyết tâm không để  xảy ra tình trạng làm giàu vô tội vạ  trên lưng người khác, cũng như  tình   trạng “ kẻ ăn không hết, người lần không ra”, không để người nghèo bị bỏ  rơi trước con mắt của công đồng. Ba là, xóa đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội không có  nghĩa là kìm hãm sự phát triển kinh tế, không mang tính chất cào bằng. Kinh nghiệm của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu trước  đây đã cho thấy, nếu đặt công bằng xã hội lên trên hết và tách rời với phát   triển kinh tế thì trước hết dẫn tới sự triệt tiêu các động lực phát triển. Tuy   nhiên, nếu đặt hiệu quả  kinh tế  là mục tiêu duy nhất thì sẽ  làm tăng tình   trạng phân hóa hai cực, làm tăng sự khốn đốn với không ít quần chúng nhân  dân. Bởi vậy trong khi thực hiện bài toán phát triển đất nước, làm sao phải   15
  16. tạo mọi điều kiện và tăng nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời hạn chế  mặt   tiêu  cực   của   nó,  đặt  vấn   đề   xóa   đói  giảm   nghèo  thành   công   việc  thường xuyên, liên tục. Bốn là, xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội. Cần khẳng định một cách mạnh mẽ  rằng, xóa đói giảm nghèo không  dừng lại  ở  việc thực hiện chính sách xã hôi, không phải việc của riêng  ngành lao động ­ xã hội hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ  chính trị,   kinh tế, văn hóa, mà là nhiệm vụ  chung của toàn Đảng, toàn dân. Muốn   thực hiện thành công việc xóa đói giảm nghèo, tất cả  mọi cán bộ  Đảng,  chính quyền phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện giải pháp một cách  đồng bộ và phải có sự tham gia của toàn thể cộng đồng. 2.2. Cơ sở thực tiễn 2.2.1. Hoạt động xóa đói giảm nghèo trên thế giới Đói nghèo là vấn đề đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới, nó trở  thành vấn nạn trên toàn cầu. Trong lịch sử có nhiều nạn đói chết hàng triệu  người dân châu Á, châu Phi. Thực trạng đói nghèo trên thế  giới đang diễn   ra theo chiều hướng rất đáng báo động. Theo một nghiên cứu của WB,   nguy cơ đối với người nghèo đang gia tăng trên quy mô toàn cầu và tốc độ  tăng trưởng kinh tế  suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người  nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130­ 155 triệu người năm  2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao. Ngày 15/5/2012, Tổ  chức Lao động quốc tế  (ILO) đưa ra nghiên cứu  năm 2012 về thị trường lao động, nhấm mạnh từ những năm qua, tình trạng  nghèo khổ gia tăng không còn là vấn đề đáng lo ngại ở các nước phát triển.   Từ  khi khủng hoảng kinh tế  toàn cầu bùng nổ, tỷ  lệ  nghèo khổ  đã giảm  mạnh ở  75% các nước đang phát triển, nhưng lại đang tăng lên ở 25 nước  trong 36 nước phát triển. Đói nghèo đã trở  thành thách thức lớn, đe dọa đến sự  sống còn,  ổn  16
  17. định và phát triển của thế giới và nhân loại. Sở dĩ như vậy bởi vì thế  giới  là một chỉnh thể  thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ  thể  trong chính  thể  thống nhất.Toàn cầu hóa đã trở  thành cầu nối liên kết giữa các quốc   gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, sự  ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc  đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác. Nghèo đói đe dọa đến  sự  sống của loài người bởi. “Nghèo đói đã trở  thành một vấn đề  toàn cầu  có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng  nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo  động và chiến tranh không chỉ  trong phạm vi một quốc gia mà là cả  thế  giới. Bởi những bất công và  nghèo  đói  thực  sự  đã  trở  thành  những  mâu  thuẫn  gay  gắt  trong  quan  hệ quốc tế, và nếu những mâu thuẫn này không  được giải quyết một cách thỏa đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu   sẽ xảy ra chiến tranh. 2.2.2. Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước trên thế giới 2.2.2.1. Giải quyết đói nghèo ở Hàn Quốc Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Chính phủ  Hàn Quốc không chú ý  đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở  các vùng đô thị, xây dựng vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa  số là tá điền, ruộng đất tập các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố  lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu trung vào sở hữu của giai  cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng. Từ đó gây ra làn   sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để  kiếm việc làm, Chính phủ  không thể  kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất  ổn định chính trị  ­xã hội.   Để ổn định tình hình chính trị ­ xã hội, Chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem   xét lại các chính sách kinh tế  ­ xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý   đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế ­ xã hội ở khu vực  17
  18. nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra  đời gồm 4 nội dung cơ bản: ­ Mở  rộng hệ  thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số  tiền cho hộ  nông dân vay. ­ Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao. ­ Thay giống lúa mới có năng suất cao. ­ Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành  lập các hợp tác xã sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá,   cầu cống và nâng cấp nhà ở. Với những nội dung này, Chính phủ  Hàn Quốc đã phần nào giúp  nhân  dân có việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân ra các thành  phố  lớn để  kiếm việc làm. Chính sách này đã được thể hiện thông qua kế  hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông  thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền  kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông  thôn. Tóm lại: Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng   Chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển   kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng  ở  khu vực nông thôn, có như  vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo   thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế (Documents). 2.2.2.2. Giải quyết đói nghèo ở Đài Loan Đài Loan là một trong những nước công nghiệp mới (NIES), nhưng là 1  nước thành công nhất về  mô hình kết hợp chặt trẽ  giữa phát triển công  nghiệp với phát triển kinh tế  nông nghiệp nông thôn đó là Chính phủ  Đài  Loan đã áp dụng thành công một số chính sách về phát triển kinh tế ­xã hội  như: 18
  19. ­ Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại  gia đình với quy mô nhỏ, chủ yếu đi vào sản xuất nông phẩm theo hướng sản   xuất hàng hoá. ­ Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá nông nghiệp  nông thôn, mở  mang thêm những nghành sản xuất kinh doanh ngoài nông  nghiệp cũng được phát triển nhanh chóng, số  trang trại vừa sản xuất nông  nghiệp, vừa kinh doanh ngoài nông nghiệp chiếm 91% số  trang trại sản   xuất thuần nông chiếm 90%. Việc tăng sản lượng và tăng năng suất lao  động trong nông nghiệp đến lượt nó lại tạo điều kiện cho các nghành công   nghiệp phát triển. ­ Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển  nông thôn. Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông  thôn cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ. Trong nhiều thập kỷ  qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao  thông nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điện  khí hoá nông thôn góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh   hoạt ở nông thôn. Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất   công nghiệp ngay ở vùng nông thôn để thu hút những lao đông nhàn rỗi của   khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập cho những người nông dân nghèo, góp  phần cho họ   ổn định cuộc sống. Đài Loan áp dụng chế  độ  giáo dục bắt  buộc đối với những người trong độ  tuổi, do đó trình độ  học vấn của nhân  dân nông thôn được nâng lên đáng kể, cùng với trình độ  dân trí được nâng  lên   và   điều   kiện   sống   được   cải   thiện,   Tỷ   lệ   tăng   dân   số   đã   giảm   từ  3,2%/năm (1950) xuống còn 1,5%/năm (1985). Hệ thống y tế , chăm sóc sức  khoẻ ban đầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng. Ngoài Hàn Quốc, Đài Loan còn 1 số  nước ASEAN cũng có những  chương   trình   phát   triển   kinh   tế   ­xã   hội   bằng   con   đường   kết   hợp   giữa   những ngành công nghiệp mũi nhọn với việc phát triển kinh tế  nông thôn  19
  20. với mục đích xoá đói giảm nghèo trong dân chúng nông thôn. Điều đặc   trưng quan trọng của các nước ASEAN là  ở  chỗ  những nước này đều có  nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bước vào công nghiệp hoá có nghĩa là  vào lúc khởi đầu của quá trình công nghiệp hoá. Tất cả  các nước ASEAN  (trừ  Singapore) đều phải dựa vào sản xuất nông nghiệp, lấy phát triển  nông nghiệp là một trong những nguồn vốn cho phát triển công nghiệp,   điển hình là những nước như Thái Lan, Indonesia, Philippines và Malaysia.  Tất cả  những nước này phần lớn dân cư  sống  ở  khu vực nông thôn, đời  sống   kinh   tế   nghèo   nàn   lạc   hậu,   thu   nhập   chủ   yếu   từ   sản   xuất   nông  nghiệp. Chính vì vậy mà Chính phủ  các nước này trong quá trình hoạch   định các chính sách kinh tế ­xã hội họ đều rất chú trọng đến các chính sách  nhằm phát triển kinh tế  nông nghiệp nông thôn , giành cho nông nghiệp  nông thôn những  ưu tiên cần thiết về  vốn đầu tư  để  tiến hành cuộc cách   mạng xanh trong nông nghiệp. Tuy nhiên khi bước vào giai đoạn 2 của quá  trình công nghiệp hoá, tất cả các nước ASEAN đều nhận thấy rằng không  thể đi lên chỉ bằng con đường nông nghiệp mà phải đầu tư  cho các ngành  công nghiệp, dịch vụ. Chính vì lẽ đó mà các chính sách về  phát triển nông  nghiệp nông thôn cũng như  các chương trình phát triển khác như  chương  trình xoá đói giảm nghèo không được chú trọng như   ở  giai đoạn đầu của  quá trình công nghiệp hoá. Do vậy khoảng cách về  thu nhập của những   người giàu với những người nghèo là rất lớn. Sự phân tầng xã hội là rõ rệt  gây mất  ổn định về tình hình chính trị xã hội, từ đó làm mất ổn định trong   phát triển kinh tế . Sự  phồn vinh của Bangkok, Manila được xây dựng trên nghèo khổ  của các vùng nông thôn như ở vùng Đông bắc Thái Lan, ở miền trung đảo  Ludon. Cho đến nay sự bất bình đẳng về thu nhập ở Thái Lan vẫn tiếp tục  gia tăng, các thành phố  lớn, các khu cônh nghiệp vẫn có tỷ  lệ  tăng trưởng   cao, năm 1981 Bangkok đóng góp 42% GDP, đến năm 1989 lên tới 48% cho  GDP trong khi đó phần đóng góp cho GDP ở các vùng khác lại giảm xuống   20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản