intTypePromotion=1
ADSENSE

Làng nghề ở huyện đảo Phú Quốc – tỉnh Kiên Giang: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc khai thác phục vụ phát triển du lịch

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

12
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Làng nghề ở huyện đảo Phú Quốc – tỉnh Kiên Giang: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc khai thác phục vụ phát triển du lịch đánh giá thực trạng việc phát triển du lịch làng nghề ở Kiên Giang mà cụ thể là ở huyện đảo Phú Quốc hiện nay để rồi từ đó có một vài hướng giải quyết như một ý kiến đóng góp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Làng nghề ở huyện đảo Phú Quốc – tỉnh Kiên Giang: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc khai thác phục vụ phát triển du lịch

  1. LÀNG NGHỀ Ở HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC KHAI THÁC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Trần Thi Ca(*) Nguyễn Như Bình(*) VILLAGES IN PHU QUOC ISLAND - KIEN GIANG PROVINCE: REALITY AND ISSUES IN ORDER TO EXPLOIT FOR TOURISM DEVELOPMENT Abstract Tourism village, especially in the traditional villages, has become the new trend of the world. Before this trend, Vietnam has also been put in using tourism village. But the fact that only some traditional villages have been beginning to exploit the potential of tourism village, but in general the tourism village has not obtained certain results yet. Without the marketing methods, promotion of depth to attract tourists, spontaneous fragmentation should untap potential success of the product as well as the traditional cultural, social values which connect closely with tourism village. Facing this situation, this article mainly tries to recognize and assess the status of the development of tourism village in Kien Giang, specifically in Phu Quoc Island now and then with some solutions like a comment. * 1. Đặt vấn đề Việt Nam là một đất nước có nhiều ngành nghề thủ công, nó không chỉ có vai trò tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tạo ra các sản phẩm tiêu dùng, các giá trị văn hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn với hệ thống bảo tàng, các cơ quan nghiên cứu liên ngành và các trường đại học. Đồng thời, nghề và làng nghề thủ công truyền thống còn là nơi gặp gỡ của kỹ thuật và công nghệ. Như vậy, nghề và làng nghề thủ công là nơi lưu giữ và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc một cách tinh tế và đậm nét, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Theo kết quả điều tra của Tổ chức JICA (Nhật Bản) hiện nay Việt Nam có 2.017 làng nghề, trong đó miền Bắc có 1594 làng nghề (79%), miền Trung có 312 làng nghề (15,5%) và miền Nam có 111 làng nghề (5,5%), nhưng theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề thì cả nước có 2.790 làng nghề, nhiều làng nghề có bề dày lịch sử hàng trăm, hàng ngàn năm như làng Gốm Bát Tràng có lịch sử hình thành cách nay hơn 6 thế kỷ, làng Giấy Yên Thái (Bưởi) có cách đây 800 năm, làng Kim hoàn Định Công có cách đây 1400 năm, làng Dệt lụa Vạn Phúc có hơn 1700 năm... Đây là một nguồn tài nguyên du lịch vô cùng quý giá, phong phú và rất thích hợp để Việt Nam khai thác, phát triển du lịch. Du lịch làng nghề phát triển sẽ giúp các làng nghề khôi phục và phát triển các giá trị văn hóa dân gian, tạo dựng môi trường du lịch văn hóa đồng thời giúp cải thiện tốt hơn các cơ sở hạ tầng đi kèm với việc bảo vệ môi trường tại làng nghề. Ở Phú Quốc có một số nghề và làng nghề như làng chài Hàm Ninh, làng nghề sản xuất nước mắm, nghề nuôi chó, nghề nuôi và sản xuất ngọc trai, nghề làm rượu sim, nghề trồng hồ tiêu… Sự xuất hiện và tồn tại của các nghề, làng nghề đã mang đến nhiều lợi ích cho cuộc sống của người dân nơi đây. Tuy nhiên, dưới sự tác động của quá trình phát triển đô thị, trong đó có cả sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các nghề và làng nghề hiện nay đang có nguy cơ mất dần hoặc biến tướng, làm thay đổi lợi ích truyền thống của làng nghề, ảnh hưởng đến lối sống, sinh hoạt của người dân làng nghề. Từ nhận định trên, (*) HVCH, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. (*) CN., Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh.
  2. chúng tôi đã đặt mục tiêu là cố gắng tìm hiểu những lợi ích tồn tại của các nghề, làng nghề đã đem đến cho người dân; phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự mai một hoặc biến đổi của một số nghề, làng nghề để từ đó có cơ sở đề ra vài định hướng ban đầu cho việc bảo tồn và phát triển nghề và các làng nghề đó nhằm phục vụ phát triển du lịch. Trong quá trình thực hiện bài viết, chúng tôi có tổng hợp, trích dẫn, sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, tác giả để chứng minh những quan điểm, luận điểm, luận cứ… cho phần viết. Tuy nhiên, dù đã có rất nhiều cố gắng, nỗ lực, song do những hạn chế về mặt khách quan cũng như chủ quan nhất định cho nên bài viết không thể nào tránh khỏi những thiếu sót, cần sửa đổi, bổ sung. Chúng tôi rất mong nhận được sự lượng thứ và ý kiến đóng góp từ nhiều phía để bài viết được tốt hơn. 2. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ 2.1. Khái niệm làng nghề Khái niệm Làng nghề thường xuất hiện khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng từ địa phương cho đến Trung ương, thế nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau và chưa có một định nghĩa thống nhất mà chỉ được chấp nhận như một phạm trù trong văn hoá. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng cắt nghĩa về khái niệm Làng nghề theo nhiều góc độ, khía cạnh. Những khái niệm này tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ khác song vẫn có những đặc điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là xét từ góc độ văn hoá, chúng ta có thể tìm hiểu một số khái niệm sau: Theo tác giả Lê Thị Minh Lý thì: “Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian” [Lê Thị Minh Lý, 2003]. Trần Minh Yến khẳng định: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế – xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa” [Trần Minh Yến, 2004]. Còn Bùi Văn Vượng lại cho rằng: “Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất thiết tất cả các dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại quê mình” [Bùi Văn Vượng, 1998]. Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT–BNN ngày 18/12/2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống. Theo đó: Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính chất riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một hoặc thất truyền. Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Làng nghề truyền thống phải có đủ các tiêu chí của làng nghề, đồng thời phải có ít nhất một nghề truyền thống.
  3. Làng nghề có thể chia ra làm 14 nhóm: Mây tre đan, kể cả các sản phẩm đan lát, bện thủ công (kể cả bàn ghế, nón lá); Cói; Gốm sứ; Sơn mài, khảm trai; Thêu ren; Dệt (vải, khăn tay, áo, khăn quàng, kể cả dệt thổ cẩm; Đồ gỗ (đồ mộc dân dụng, gỗ mỹ nghệ, điêu khắc gỗ, làm trống); Đá mỹ nghệ; Giấy thủ công; Tranh nghệ thuật (bằng hoa khô, tre hun khói, lá khô, ốc…), hoa các loại bằng vải, lụa, giấy; Trò chơi dân gian (sản xuất và biểu diễn và biểu diễn rỗi cạn, rối nước, tò he); Sản phẩm kim khí (đồ đồng, sắt, nhôm…); Chế biến nông sản và thực phẩm (các loại nước chấm, bún bánh, miến dong, rượu, trà, mạch nha, mật…); Cây cảnh (trồng và kinh doanh). Việc phân nhóm trên chỉ là quy ước bởi cho đến nay chưa có nghiên cứu đầy đủ về phương pháp luận phân nhóm làng nghề. Sản phẩm làng nghề theo Hiệp hội Làng nghề, được chia ra làm 16 nhóm như sau: Mây tre đan; Gốm, sứ, pha lê; Dâu tằm; Thêu, dệt, lụa; Đánh bắt, chế biến hải sản; Đúc đồng, chạm bạc; Đóng, sửa chữa tàu thuyền; Sản xuất hàng dân dụng; Hoa, cây cảnh; Làm chiếu; Thủ công mỹ nghệ; Điêu khắc, chạm khắc gỗ; Sơn mài; Làm giấy; Làm trống; Chế biến thực phẩm. 2.2. Du lịch làng nghề Du lịch làng nghề truyền thống là loại hình du lịch văn hoá tổng hợp của du khách diễn ra tại các làng nghề còn đang hoạt động sản xuất các sản phẩm truyền thống nhằm mục tiêu tìm hiểu, chiêm ngưỡng, thưởng thức các giá trị văn hoá về làng nghề và quá trình sản xuất sản phẩm truyền thống. Theo một cách hiểu khác thì Du lịch làng nghề là một hoạt động kinh doanh tại các làng nghề có lợi ích về nhiều mặt: Nâng cao hiểu biết của khách du lịch về lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề góp phần tăng thêm tình yêu quê hương đất nước; mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội. Khi tham gia Tour du lịch làng nghề, du khách sẽ được dịp khám phá, tìm hiểu quy trình kỹ thuật của nghề truyền thống, thâm nhập cuộc sống cộng đồng với những phong tục, tập quán và các nghi thức phường, hội riêng của các làng nghề truyền thống… 2.3. Ý nghĩa và tác dụng của việc phát triển du lịch làng nghề trong tình hình hiện nay Một điều dễ dàng nhận thấy khi bàn về ý nghĩa và tác dụng của làng nghề trong bối cảnh hiện nay đó là tạo việc làm cho một bộ phận không nhỏ cho lao động, nhất là lao động nông thôn. Theo một thống kê chưa đầy đủ, các làng nghề trong cả nước hiện đang giải quyết việc làm thường xuyên cho hơn 11 triệu lao động tại các hộ gia đình, hợp tác xã, các công ty và doanh nghiệp tư nhân… Ngoài ra, làng nghề còn kéo theo sự phát triển của các dịch vụ khác qua đó tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới và tăng kim ngạch xuất khẩu tăng nguồn thu nhập cho đất nước. Hàng xuất khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam hiện có mặt hơn 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Giá trị xuất khẩu tăng lên hàng năm: Năm 2000 đạt 273.7 triệu USD, năm 2007 đạt 750 triệu USD, năm 2008 đạt 800 triệu USD… Phát huy các giá trị văn hóa địa phương. Mỗi làng nghề đều có một lịch sử hình thành, phát triển và mặt hàng sản phẩm vật thể và phi vật thể riêng của mình do đó những tinh hoa văn hóa của vùng, miền, dân tộc luôn luôn hiện diện trên từng sản phẩm, đây là yếu tố thu hút khách hàng trong và ngoài nước. Các nghệ nhân làng nghề được tôn vinh là Báu vật nhân văn sống là người nắm giữ những giá trị văn hóa của sản phẩm và cũng là người giữ vai trò quyết định trong việc truyền dạy nghề cho những thế hệ sau này. Các làng nghề cũng có những lễ hội, cúng giỗ Tổ nghề thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn của cha ông. Đây là một sinh hoạt văn hóa đặc sắc của làng nghề.
  4. Phát triển du lịch, phát triển xã hội. Ngày nay, nắm bắt được nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, nhiều tổ chức, làng nghề, đơn vị, công ty đã chú trọng khai thác du lịch làng nghề với nhiều hình thức khác nhau. Và trên thực tế, đã có nhiều chương trình du lịch làng nghề thu được nhiều thành công, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận lao động, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. 3. NHẬN DIỆN LÀNG NGHỀ Ở HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC 3.1. Làng chài Hàm Ninh Sự hình thành của làng chài có lẽ cũng không ai biết rõ tường tận, chỉ biết là làng chài đã hàng trăm năm tuổi, nhiều người chỉ còn nhớ mang máng rằng khi đảo còn hoang vắng, một số cư dân từ xa đến đây khai thác hải sản, rồi lập làng sinh sống. Trong sử ghi chép, cũng chỉ tóm lược lại về sự chuyển đổi trong quản lý mặt hành chính, không có nhiều thông tin chính xác về việc làng chài đã hình thành cụ thể thế nào. Theo đó, thời Minh Mạng, Hàm Ninh là thôn thuộc tổng Phú Quốc, huyện Hà Châu, phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên. Trải qua thời Thiệu Trị, Tự Đức, đến đầu thời Pháp thuộc, Hàm Ninh thuộc hạt Kiên Giang, rồi Rạch Giá, đến Hà Tiên. Từ ngày 25/05/1874, Hàm Ninh thuộc hạt Phú Quốc. Từ ngày 16/06/1875, Hàm Ninh thuộc hạt Hà Tiên. Từ ngày 05/01/1876, gọi là làng thuộc hạt Hà Tiên. Từ ngày 20/08/1888, đổi thuộc hạt Châu Đốc. Từ ngày 27/12/1892, lại thuộc hạt Hà Tiên. Làng chài Hàm Ninh nằm trên bờ biển phía Ðông đảo Phú Quốc, có đủ phong cảnh hữu tình, sau lưng là núi rừng với ngọn núi Hàm Ninh 300m cao ngất, đá chồng đá, dựng đứng rêu phong tạo nên một vùng mây khói hòa giữa màu xanh của núi rừng và biển trời mênh mông Phú Quốc, trước mặt là biển Hàm Ninh xanh rộng đến tận đường chân trời. Ðứng trên bãi Hàm Ninh, nhìn ra xa có thể thấy quần đảo Hải Tặc, chệch về Ðông Nam, hòn Nghệ mờ mờ trên làn nước biếc, phía Nam là mũi Ông Ðội – mũi đất cuối cùng của đảo. Ngoài quang cảnh còn nguyên vẻ hoang sơ của thiên nhiên cùng với cuộc sống mộc mạc với nhà tranh vách tre của những người dân nơi đây, làng chài Hàm Ninh còn được biết đến là nơi có nghề đánh bắt hải sản, ngọc trai được ngư dân gắn bó rất mật thiết, mang tính cha truyền con nối qua nhiều năm chẳng thay đổi, thế nên quanh năm Hàm Ninh được xem là một trong những nơi cung cấp nguồn hải sản Phú Quốc giá rẻ, nhất là ghẹ tươi ngon có thịt rất chắc ngọt, mà hầu như du khách nào cũng háo hức tìm tới để thưởng thức món ghẹ luộc thơm ngon nổi tiếng mỗi khi có dịp đến thăm đảo ngọc. Làng chài Hàm Ninh ngày nay còn lưu giữ truyền thuyết về ông Đạo Đụn thành tiên và còn được biết đến với cầu cảng Bãi Vòng [Hà Anh, 2013]. 3.2. Nghề trồng Hồ tiêu Tiêu Phú Quốc là một đặc sản địa phương và là món quà độc đáo với khách du lịch gần xa. Các vườn tiêu luôn được đưa vào danh mục điểm đến trong các tuor du lịch Phú Quốc. Tiêu Phú Quốc nổi tiếng vì vỏ mẩy, hạt chắc, cay và thơm nồng không nơi nào sánh kịp. Người dân Phú Quốc bảo tồn nghề trồng tiêu không những vì mục đích kinh tế mà còn có giá trị lớn về văn hóa, du lịch. Nhằm để gia tăng lợi nhuận cho nông dân, nhà nước khuyến khích bà con trồng hồ tiêu kết hợp với khai thác du lịch. Nghĩa là, các vườn tiêu được trồng phải vừa mang tính kinh tế vừa mang tính thẩm mỹ để thu hút khách đến tham quan. Hiện đang có vài chục hộ trên đảo đang kết hợp làm điều này, lợi nhuận thu được từ việc bán sản phẩm cho du khách cũng rất khá. Cây Hồ tiêu được trồng ở Phú Quốc hàng trăm năm với diện tích trung bình là 471ha tập trung ở 3 xã Cửa Dương, Cửa Cạn và Dương Tơ. Giống trồng chủ yếu là 2 giống Hà Tiên và Phú Quốc. Hai nhóm giống này có thới gian thu hoạch gần tương đương nhau từ tháng 11 âm lịch kéo dài hết tháng 2 âm lịch. Giống Hà Tiên có năng suất cao hơn nhóm Phú Quốc nhưng tuổi thọ và kháng sâu bệnh kém hơn.
  5. Tiêu được người dân Phú Quốc thu hoạch từng đợt chín và chủ yếu là bằng thủ công, chọn lựa những quả chín phơi riêng gọi là tiêu chín (tiêu đỏ), những quả còn xanh sau khi phơi khô được gọi là tiêu cội (tiêu đen). Do nhu cầu của thị trường, người dân đã dùng tiêu đen tẩy bỏ vỏ chỉ còn lại phần lõi hạt gọi là tiêu sọ, trong các loại tiêu thì tiêu chín là ngon nhất và đắt tiền nhất. Mỗi năm du khách đến Phú Quốc ngày càng đông và nhu cầu đến mua hồ tiêu trực tiếp tại các vườn tiêu ngày càng tăng, do vậy mà sự đầu tư trồng tiêu có kết hợp với khai thác du lịch là hướng đi đúng đắn mang lại lợi nhuận thiết thực cho bà con nơi đây. Nhằm phát huy lợi thế này của huyện đảo, với sự phối hợp hỗ trợ của Trường Đại Học Cần Thơ, Sở Khoa học và công nghệ Kiên Giang, Phòng Kinh tế huyện Phú Quốc và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu DOMESCO đã đầu tư triển khai mô hình trồng tiêu theo chuẩn Global Gap tại xã Cửa Dương với diện tích 4ha. Theo dự kiến, nếu dự án này thành công sẽ mở rộng thêm diện tích gấp nhiều lần để bà con trên đảo có cơ hội phát triển cây trồng truyền thống của họ một cách bền vững hơn [Thúy Hằng, 2012]. 3.3. Làng nghề nuôi ngọc trai Phú Quốc là địa danh nổi tiếng với nhiều đặc sản quý hiếm từ biển, trong đó nổi bật nhất là ngọc trai. Khi đi du lịch đến Phú Quốc, mọi người thường mua ngọc trai về làm kỷ niệm, tặng người thân thì không gì giá trị bằng. Theo những nghệ nhân ngọc trai lão làng, thiên nhiên ban tặng cho đảo Phú Quốc những vùng biển lặng sóng, có độ mặn lý tưởng cho nghề nuôi cấy trai lấy ngọc. Hơn 10 năm qua, nhờ áp dụng kỹ thuật nuôi cấy tiên tiến từ các quốc gia như Úc, Nhật… và các điều kiện thiên nhiên phù hợp ấy, nghề nuôi trai lấy ngọc ở Phú Quốc đã thực sự lớn mạnh. Huyện đảo Phú Quốc có đầy đủ các viên ngọc chất lượng cao với nhiều màu sắc, kích thước và hình dáng khác nhau với hàng ngàn sản phẩm làm từ ngọc trai như chuỗi ngọc màu trắng sữa hoặc đen tuyền, rất sang trọng, những đôi bông tai lấp lánh, những chiếc nhẫn có đính ngọc trai trông rất quý phái, mặt dây chuyền, bộ ngọc... đa dạng về kiểu dáng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu chữa bệnh, cân bằng huyết áp và đặc biệt góp phần tôn vinh vẻ đẹp rạng ngời của phái đẹp. Ngoài ra, Những nghệ nhân khéo tay xứ đảo còn tận dụng vỏ ngọc trai để chế tác thành các món đồ trang trí sặc sỡ, hoặc làm những mặt dây chuyền hình trái tim, hình cây thánh giá... là món hàng thời trang ưa thích của tuổi thanh, thiếu niên. Ngọc trai Phú Quốc có giá khá cao, tùy theo chất lượng, màu sắc, hình dạng, giá từng viên có thể từ vài chục đến vài ngàn USD. Quý nhất là loại ngọc có màu đen, giá trên 1.000 USD/viên (kích cỡ 10 – 12 ly), ngọc màu hường nhạt từ 40 USD trở lên cho viên 6 – 8 ly. Thấp hạng nhất là loại ngọc trắng ngà, thời gian nuôi cấy ngắn hơn (khoảng 9 – 12 tháng) cũng đã có giá vài chục USD/viên, nhưng sản lượng nuôi cấy không nhiều. Ngọc trai được trưng bày rất nhiều ở các gian hàng bán quà lưu niệm ở Dương Đông, chợ đêm Dinh Cậu, Cảng An Thới, Cảng Bãi Vòng – Hàm Ninh… Hiện tại ở Phú Quốc có các cơ sở nuôi cấy ngọc trai lớn như: Ngọc Hiền, Quốc An, cơ sở nuôi cấy ngọc trai của người Nhật và cơ sở nuôi cấy ngọc trai người Úc… [Trần Huy – Chung Chung, 2014]. 3.4. Làng nghề làm nước mắm Nước mắm Phú Quốc là một trong các loại nước mắm không những nổi tiếng ở Việt Nam mà còn được biết ở nhiều nước trên khắp thế giới. Nghề làm nước mắm ở Phú Quốc có lịch sử trên 200 năm, từ cuối thể kỷ XIX người dân trên đảo đã bán nước mắm sang Campuchia và Thái Lan. Tuy nhiên, nước mắm Phú Quốc chỉ nổi tiếng từ những năm 1950 và đạt cực thịnh vào những năm 1965 – 1975. Thời kỳ này, Phú Quốc có khoảng 20 nhà thùng sản xuất nước mắm, trong đó nhà thùng lớn nhất là Hồng Đại và Hưng Thành, các nhà thùng tập trung chủ yếu xung quanh thị trấn, thường cặp sát mé sông Dương Đông để thuận tiện cho ghe tàu lên xuống hàng hoá. Tất cả đều là những doanh nghiệp gia đình cha truyền con nối hay quan hệ bà con ruột thịt. Trong thời kỳ bao cấp 1975 – 1986, nước mắm Phú Quốc mất dần thị phần, nhiều nhà thùng đóng cửa, chuyển nghề. Tuy nhiên, kể từ khi nền
  6. kinh tế dần chuyển sang cơ chế thị trường thì nghề làm nước mắm ở Phú Quốc lại dần dần hồi phục. Trước năm 1945, các nhà thùng làm nước mắm, chủ yếu tập trung ở Dương Đông và Cửa Cạn, trong thời gian chiến tranh, các nhà thùng ở Cửa Cạn bị tàn phá, nên các nhà thùng dần chuyển qua Dương Ðông và An Thới như hiện nay, có cũng có thể nói rằng Dương Ðông và An Thới là hai địa phương tập trung nhiều xơ sở sản xuất nước mắm nhất đảo. Hiện tại, Phú Quốc có khoảng 100 cơ sở sản xuất nước mắm, ước tính sản lượng trên 10 triệu lít/năm. Có những gia đình làm nghề nước mắm cha truyền con nối và giữ vững tiếng tăm từ đời này sang đời khác. Một số cơ sở sản xuất nước mắm Phú Quốc nổi tiếng như Hồng Đại, Sáng Tươi, Hải Sơn, Khải Hoàn, Thành Khoa, Anh Duyệt, Hưng Thành… Bởi vùng biển Phú Quốc có nhiều rong biển và phù du nên thu hút hàng đàn cá cơm về quần tụ, khi vào mùa vụ, từ tháng 4 – 11, cá cơm đi từng đàn trông đỏ cả những vùng biển gần bờ, ngoi lên đớp móng như cơm sôi và người làm nghề bắt đầu mùa “săn cá”. Nước mắm Phú Quốc không thể nhầm lẫn với các sản phẩm nước mắm khác là màu cánh gián đậm, trong và mùi thơm nhẹ rất riêng, vị mặn, vị ngọt có cả, vị béo của đạm đã tạo mùi vị đặc trưng của nước mắm Phú Quốc. Và chỉ có sản xuất ngay tại trên hòn đảo này, mới cho ra loại nước mắm ngon như thế, dù cùng loại cá cơm, nguồn nước, tay nghề đó nhưng khi mang vào đất liền hoặc vùng biển khác sản xuất, chất lượng kém xa so với sản xuất tại đảo. Năm 2001, Cục Sở hữu Công nghiệp đã công nhận tên gọi xuất xứ nước mắm Phú Quốc. 3.5. Nghề nuôi chó Phú Quốc Chó xoáy Phú Quốc đã được từ điển Larousse của Pháp liệt vào loại chó quý hiếm và nằm trong số những giống chó tinh khôn nhất thế giới. Chó Phú Quốc là một trong ba dòng chó có xoáy lông trên lưng của thế giới. Hai loại chó lông xoáy ở lưng còn lại là chó lông xoáy Rhodesia và chó lông xoáy Thái. Đã có những tranh cãi trên các diễn đàn giữa các nhà “khuyển học” về nguồn gốc và các tiêu chí chó Phú Quốc. Có ý kiến cho rằng, chó lông xoáy Phú Quốc bắt nguồn từ Pháp, khi người Pháp sang Việt Nam đã mang theo giống chó này và phát triển nhanh trên đảo. Trong khi đó, một nguồn ý kiến khác cho rằng, chó Phú Quốc bây giờ có nguồn gốc từ miền Đông của Thái Lan, do ngư dân và những nhà buôn của nước này mang tới đảo. Nhưng thực ra, chó Phú Quốc là một loại chó riêng của đảo Phú Quốc, nổi tiếng là loại cho giống khôn, nhanh nhẹn và đẹp so với các loại cho ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Chó Phú Quốc biết đào hang để đẻ và có biệt tài săn thú, bơi dưới nước giỏi như rái cá nhờ chân có màng như chân vịt và bộ lông mượt sát (1 – 2cm) rất ngắn nên khi ướt chó Phú Quốc chỉ cần lắc mình vài lượt nước sẽ bắn đi, do đó sẽ chóng khô. Theo một thống kê chưa đầy đủ của địa phương, toàn đảo Phú Quốc hiện chỉ còn khoảng 9.100 con chó xoáy và đang có nguy cơ giảm dần vì tuổi thọ cũng như tình trạng xẻ thịt hiện nay. Theo các sách “Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đồ” – một cuốn sách gia truyền ghi chép và lý giải tất cả những chuyện liên quan đến hoàng tộc (hiện vẫn còn lưu giữ trong gia đình ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, cháu gọi vua Minh Mệnh bằng ông cố), sách “Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính” và “Nguyễn Phúc tộc y gia truyền thế thường hành” (cũng là các cuốn sách gia truyền của hoàng tộc nhà Nguyễn) đã giới thiệu khá kỹ về chó Phú Quốc: Thứ nhất, chó Phú Quốc khi xác định được lãnh địa thì làm chủ hoàn toàn lãnh địa của mình. Thứ hai, chó Phú Quốc là giống chó săn tài ba, chúng có khả năng truy tìm đến cùng dấu vết con mồi và rất ít khi bỏ cuộc. Chúng lại có khả năng tuân thủ mệnh lệnh một cách chính xác mà không tốn nhiều công huấn luyện. Thứ ba, bảo vệ chủ và tự vệ tốt. Thứ tư, chó Phú Quốc là một nhà phong thủy đại tài. Thứ năm, chó Phú Quốc có khả năng phát hiện bệnh tật của chủ và tìm cây lá về cho chủ ăn để chữa bệnh. Vua Gia Long có nuôi 4 con chó Phú Quốc (2 đực, 2 cái), 4 con chó này đã theo ông trong suốt những năm bôn tẩu, từ miền biển lên miền núi, từ nơi bình an đến chốn hiểm nghèo. Sau khi lên ngôi, khi bình công phong thưởng cho tướng sĩ, ông đã sắc phong cho 4 con chó Phú Quốc danh hiệu: “Cứu khổn phò nguy Tá quốc huân thần Thần khuyển đại tướng quân”, sau khi 4 con chó qua đời, ông đã cho an táng và lập
  7. miếu thờ trọng thể. Không chỉ vua Gia Long nuôi chó Phú Quốc để phò tá cho mình, quân đội nhà Nguyễn còn dùng chó Phú Quốc làm quân khuyển, vô cùng lợi hại… Vì thế mà không quá ngạc nhiên khi chó xoáy Phú Quốc trở thành “thương hiệu” có giá trị kinh tế và là niềm tự hào của người dân xứ đảo nơi cực Nam đất. Ngày nay, ở Phú Quốc có nhiều trang trại nuôi cho Phú Quốc lớn nhất Việt Nam. Những trang trại nuôi chó Phú Quốc này được coi là thu hút du khách và bán được nhiều chó nhất trên đảo. Việc bán chó cũng công phu, khách du lịch đến đảo Phú Quốc, thích con nào thì chụp hình, đặt tiền cọc hoặc trả tiền luôn và cho địa chỉ, sau đó trang trại cho người đánh số đưa vào đất liền nuôi dưỡng, chích thuốc khoảng 10 ngày, sau thấy chó không có biểu hiện gì khác thường mới chuyển cho chủ mới. Ngoài ra, nhiều Việt kiều còn mang chó Phú Quốc thuần dưỡng về Mỹ bán với giá 2.000 – 3.000 USD/con, tương đương hoặc cao hơn giá thị trường chó xoáy hiện nay trên thế giới. Chó Phú Quốc hiện nay không chỉ được nuôi tập trung ở một số nơi tại đảo Phú Quốc mà còn được nuôi ở các địa phương phía Nam khác [Vu Quy, 2013]. 3.6. Nghề làm rượu sim Đến Phú Quốc, du khách không thể nào không biết đến một đặc sản ẩm thực nổi tiếng: Rượu sim hay còn gọi là “vang sim” đặc biệt thơm và ngon dược liệt vào hàng “danh tửu”. Theo người dân ở nơi đây, ở Phú Quốc khi trước sim rất nhiều, hầu như các đồi tháp, trảng trống trên đảo đều phủ kín một màu sim tím, dân cư trên đảo hái sim trên rừng về từng gánh sim đỏ mọng bán chẳng có ai mua và mọi chuyện bắt đầu tư khi một cán bộ từ Tây Nguyên đến Phú Quốc công tác, thấy sim chín bán rẻ như bèo, họ mua ngay về khách sạn ngâm rượu. Từ đấy, dân đảo Phú Quốc bắt đầu biết cách chế biến mà theo lời của các vị cán bộ Tây Nguyên này. Tương truyền thì rượu sim được đồng bào dân tộc sử dụng để tạo sự dẻo dai cần thiết đi rừng, leo núi. Còn tại Phú Quốc, vị chua ngọt, chát của rượu sim cũng được dùng trong việc giảm đầy hơi, giúp tiêu hóa tốt. Riêng những nhà hàng có tiếng ở đảo, thứ rượu này được sánh ngang những loại rượu vang, giá khá đắt, từ 80.000 đồng đến hơn 100.000 đồng/lít. Tuy nhiên, nghề làm rượu sim thực sự đi vào sản xuất đại trà và được mọi người biết đến như một thương hiệu nổi tiếng phải đến thời ông Bảy Gáo (tức Mạc Văn Nghiêm – Nguyên Chủ Tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc huyện Phú Quốc – 1997). Và người tiếp theo đưa rượu sim vào dự án bảo tồn và phát triển cây sim và rượu sim nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ du lịch, độc đáo chỉ có ở Phú Quốc phải kể đến ông Trịnh Công Phát. Đề án “Bảo tồn và nghiên cứu phát triển cây sim Phú Quốc” được ông triển khai vào năm 2008 với kinh phí 6 tỷ đồng ở ấp Rạch Hàm, xã Hàm Ninh. Đề án này có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học nổi tiếng trong và ngoài nước như: GS.TS Võ Tòng Xuân, TS. thực vật học Nguyễn Thanh Bình (Đại Học Cần Thơ), TS. Jefiery T.Burkhart (Đại Học La Veme, Hoa Kỳ)… Nghề làm rượu sim ở Phú Quốc nổi tiếng với một số cơ sở sản xuất như Bảy Gáo, Sim Sơn… Những thương hiệu này đã được Sở Y tế, Y tế dự phòng tỉnh Kiên Giang công nhận là đạt tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện nay, thương hiệu rượu sim Phú Quốc đã có mặt khắp các vùng miền trong cả nước và sang tận Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Nhật… 4. TIỀM NĂNG VÀ MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA LÀNG NGHỀ KHI KHAI THÁC VÀ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 4.1. Tiềm năng và một số đặc trưng của các nghề và làng nghề được khai thác để phục vụ du lịch Các nghề và làng nghề ở huyện đảo Phú Quốc nằm gần vùng nguyên liệu, nằm trên trục đường giao thông, cả đường sông lẫn đường bộ, không chỉ tạo điều kiện lưu thông hàng hóa mà còn thuận tiện cho việc xây dựng tuor du lịch, tuyến du lịch. Khi tham gia tuyến, tour du lịch làng nghề, du khách không chỉ được ngắm phong cảnh du lịch làng quê mà còn được
  8. thăm nơi sản xuất, thậm chí có thể tham gia vào một phần quá trình tạo ra sản phẩm, có thể ký tên vào sản phẩm mà mình trực tiếp thực hiện như là một cách ghi lại kỷ niệm đáng nhớ trong hành trình du lịch của mình. Đồng thời còn được chính tay mình lựa chọn những món hàng được sản xuất tại lò, tại cơ sở sản xuất… Bên cạnh đó, khi đến tham quan du khách còn được gặp gỡ, giao lưu với các nghệ nhân, tìm hiểu quá trình học tập, sáng tạo cũng những đóng góp của họ cho sự phát triển làng nghề. Chẳng hạn như đối với làng nghề làm rượu sim, du khách có thể tham gia trực tiếp vào các công đoạn, khâu trồng sim, hái sim, thu mua sim, chế biến và hoàn thành sản phẩm rượu sim ở các hộ gia đình (Lựa nguyên liệu, lên men, ủ, pha chế rượu theo từng nồng độ, đóng chai, dãn nhãn…). Đối với làng nghề trồng hồ tiêu, khách du lịch có thể tham gia vào trồng, thu hoạch tiêu, xử lý, chế biến tiêu sau thu hoạch… Còn đối với làng nghề nuôi ngọc trai, khách du lịch không chỉ tham quan xưởng chế tạo ngọc trai mà cũng có thể tham gia vào công tác cho trai ăn, cách chọn các loại giống ngọc trai, phân biệt ngọc trai theo dạng màu, xác định chất lượng của các viên ngọc trai, cách chế tác ngọc, cách bào chế vỏ trai… Đến làng nghề nước mắm, khách cũng có thể hòa mình vào quy trình chọn cá, số lượng cá và muối cho mỗi lần ướp, cách pha chế nước mắm theo từng nồng độ đạm, quy trình đóng chai… Làng nghề ngoài yếu tố sản xuất còn mang rất đậm yếu tố văn hoá và phần nào còn có những yếu tố tâm linh phù hợp. Bởi làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản xuất và khái niệm đơn vị hành chính còn có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng cư trú, cộng đồng lợi ích và cộng cảm rất cao, do đó khi tham gia tuyến du lịch làng nghề còn được tham gia sinh hoạt văn hoá tinh thần của làng nghề và gắn liền với lễ hội cùng với các hoạt động văn hoá dân gian khác. Hàng năm, bằng những hoạt động tín ngưỡng tôn nghiêm, sôi nổi, hào hứng này cùng với các lễ hội đã làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch làng nghề. Chính những điều này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của làng nghề. Một điều quan trọng hơn đó là nắm bắt được nhu cầu thị trường, một số đơn vị cơ sở nghề truyền thống đã bắt đầu chú ý đến việc thu hút khách du lịch đến xem, mua sản phẩm bằng những ý tưởng độc đáo, mới lạ kết hợp giữa cơ sở làm nghề và trưng bày sản phẩm, từ việc thiết kế sản phẩm có sự phân biệt giữa hàng xuất khẩu và hàng lưu niệm tại chỗ cho khách tham quan… Ngoài những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hoá đặc sắc, các làng nghề truyền thống còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hoá hay một hệ thống di tích, một hệ thống đền chùa, miếu độc đáo, có những nét tiêu biểu của kiến trúc, điêu khắc truyền thống… Các làng nghề truyền thống và du lịch làng nghề còn được sự quan tâm, hỗ trợ của các cơ quan ban ngành chính quyền địa phương và trung ương, các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận… trong việc xây dựng, khôi phục làng nghề cũng như và phát triển các tuyến, tour du lịch. 4.2. Một số hạn chế và yếu kém của du lịch làng nghề Hiện chúng ta thiếu kế hoạch đồng bộ, dài hơi về làng nghề. Sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể liên quan trong xây dựng, quy hoạch làng nghề còn rời rạc, thiếu sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc. Một số địa phương có quy hoạch làng nghề với du lịch nhưng quy hoạch thiếu thực tiễn và không được thực hiện nghiêm chỉnh. Việc quản lý làng nghề còn chồng chéo, không thống nhất dẫn đến không có người chịu trách nhiệm cụ thể. Các tour du lịch làng nghề hiện nay nếu có sự quy hoạch đi chăng nữa thì lại chưa được khai thác triệt để cả về nội dung và hình thức, mới chỉ dừng lại ở tham quan và tới xem làng. Việc khai thác du lịch làng nghề mới chỉ dừng lại ở khía cạnh là nơi sản xuất ra các sản phẩm nổi tiếng được biết đến trên thị trường mà chưa được khai thác ở khía cạnh không gian văn hóa. Khách du lịch chưa chọn đến thăm làng nghề như một tour thực sự. Lý do là vì những người làm du lịch chưa tổ chức được một hệ thống du lịch tổng hợp để khai thác cho
  9. xứng tầm với tiềm năng của nó, chức năng sản xuất hàng hoá phục vụ du lịch vẫn còn chưa được khai thác một cách thực sự hiệu quả. Mặc dù có làng nghề trên thực tế đã thu hút một lượng du khách đáng kể nhưng vẫn chỉ là những nỗ lực tự phát, manh mún chưa hình thành được cách làm chuyên nghiệp và chưa xứng tầm với tiềm năng. Các cửa hàng bày bán đồ thủ công mỹ nghệ trong làng nghề không có sự phân biệt rạch ròi giữa hàng bán cho du khách và hàng bán ra thị trường tiêu dùng. Hầu hết các làng nghề lại quá chú trọng vào thị trường tiêu dùng cao cấp mà không quan tâm tới thị trường đồ lưu niệm bình dân khi mà thị trường này đang rất sôi động và mang lại nguồn thu lớn. Ngay cả làng nghề được coi là biết làm du lịch, mẫu mã, chủng loại sản phẩm cũng quá đơn điệu và không hợp với nhu cầu của thị trường. Người thợ mới chỉ để ý đến kỹ thuật, sản xuất theo ý thích bản thân hoặc rập khuôn theo truyền thống mà chưa có sự sáng tạo và tìm hiểu thị hiếu của khách du lịch. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do vốn sống bó hẹp trong môi trường nông thôn địa phương, ít nhạy cảm với thị trường và không có nhiều cơ hội giao thương với nước ngoài mà chỉ xuất hàng thông qua những doanh nghiệp. Các làng nghề, các doanh nghiệp không có điều kiện làm “design”. Đội ngũ thợ chỉ giỏi tay nghề kỹ thuật mà thẩm mỹ yếu và bị bó khuôn. Sự biến động về thị trường, khó khăn trong cạnh tranh, tiêu thụ hàng hóa, nguồn vốn sản xuất nhỏ bé, eo hẹp… khiến làng nghề ở Phú Quốc phải hoạt động cầm chừng, không tạo được môi trường du lịch có sức hút. Một điểm hạn chế nữa đáng quan tâm đó là khó khăn về cơ sở hạ tầng nghèo nàn, chưa đạt chất lượng, giao thông yếu kém gây khó khăn trong việc đi lại, hệ thống nhà hàng, khách sạn, nơi lưu trú, các dịch vụ vui chơi, giải trí ở một số làng nghề còn đơn điệu, chưa phát triển. Phong cách phục vụ du lịch của người dân làng nghề không chu đáo, thiếu sự chuyên nghiệp. Phát triển du lịch tại các làng nghề là một hình thức mới mẻ đối với ngươi dân, hơn nữa thời gian qua, các cấp, các ngành cũng chưa quan tâm đến việc đào tạo, hướng dẫn các kỹ năng làm du lịch cho người dân. Từ đó xuất hiện các tệ nạn “chặt chém” trong khi chất lượng phục vụ thấp, chèo kéo khách du lịch tới cửa hàng… gây ức chế cho du khách khi đến tham quan làng nghề. Ngoài ra, đội ngũ thuyết trình viên tại các làng nghề vừa thiếu lại yếu. Đó là chưa kể việc chèo kéo khách, ô nhiễm môi trường tại làng nghề khiến khó hấp dẫn du khách. 5. BẢO TỒN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY GIÁ TRỊ LÀNG NGHỀ Ở PHÚ QUỐC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 5.1. Đổi mới và tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch làng nghề Công tác đổi mới và quản lý của nhà nước là một bước đi vô cùng quan trọng trong việc xây dựng, phát triển làng nghề và du lịch làng nghề. Cần có một ban ngành riêng để chuyên quản lý hệ thống làng nghề trên hai phương diện kinh tế và du lịch. Từ đó có những chỉ đạo sâu sát, cụ thể và hoạch định những chiến lược lâu dài mang tính hiệu quả, thực tiễn cao. Việc đầu tiên là cần tổ chức một cuộc khảo sát, điều tra toàn diện về thực trạng làng nghề để có một cái nhìn bao quát, tổng hợp nhất. Kết quả khảo sát và điều tra cho thấy chỗ mạnh, yếu, tình hình đời sống người lao động, nghệ nhân… để từ đó công tác quản lý mới có được hướng đi đúng đắn, chuẩn xác trong việc bảo tồn và phát triển du lịch làng nghề. Để bảo tồn những làng nghề truyền thống có lịch sử phát triển lâu dài mang giá trị văn hóa của địa phương, vùng miền, công tác đổi mới cần phải nhận thức rõ ràng rằng khi phát triển du lịch làng nghề cần phải quan tâm trước hết đến giá trị về kinh tế và giá trị về văn hóa của làng nghề, không nên tập trung phát triển về kinh tế mà bỏ quên giá trị văn hóa và ngược lại.
  10. Tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các làng nghề và hoạt động du lịch làng nghề trong việc bảo tồn và phát triển như bảo tồn tục thờ tổ nghề và các lễ hội gắn liền với các sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tinh thần của các làng nghề; thị trường, mẫu mã, vốn, trình độ quản lý, ô nhiễm môi trường… Tập trung, nhanh chóng tiếp cận thông tin, công nghệ… cho làng nghề, đảm bảo cho họ tiếp cận nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó cần có một chiến lược lâu dài nhằm tăng cường nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại nhằm quảng bá thương hiệu làng nghề của địa phương mình cho du khách cũng như cho các nhà đầu tư bằng cách xây dựng các cổng thông tin truyền thông đại chúng (Sách, báo, tạp chí, Internet, ti vi, đài phát thanh, băng rôn, tờ rời…) liên quan đến làng nghề như quá trình hình thành và phát triển, các truyền thuyết liên quan đến làng nghề, các sản phẩm và dịch vụ của làng nghề, hướng phát triển trong tương lai... Hàng năm, nên chọn một ngày nào đó nhất định để tổ chức “Ngày hội làng nghề”, để giới thiệu sản phẩm, tôn vinh nghệ nhân đồng thời học hỏi và trao đổi kinh nghiệm. Phát huy vai trò của các tổ chức kinh tế, xã hội… trên địa bàn cũng như trong nước và ngoài nước trong việc bảo tồn và khai thác các giá trị làng nghề, thu hút nguồn vốn, nguồn nhân lực... Liên kết, tổ chức hài hòa giữa du lịch chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp giữa làng nghề với các đơn vị, công ty du lịch giúp cho du lịch làng nghề thêm chuyên nghiệp, bài bản. Bên cạnh đó, một việc làm cũng hết sức cần thiết và không kém phần quan trọng đó là việc tôn vinh các nghệ nhân của các làng nghề. Có thể thẳng thắn thừa nhận rằng việc này còn là một thiếu sót. Việc tôn vinh nghệ nhân không đơn thuần chỉ là đánh giá công lao và tỏ lòng kính trọng, mà hơn thế, đây là một hoạt động, một phương pháp, một nội dung để bảo tồn được các giá trị văn hoá phi vật thể của nghề truyền thống và làng nghề. 5.2. Thực hiện công tác quy hoạch làng nghề Công tác quy hoạch, phát triển làng nghề chủ yếu là để đa dạng hóa lịch trình, tạo ra những tour, tuyến du lịch hấp dẫn có sức cạnh tranh cao. Từ thực tế cho thấy việc thực hiện công tác quy hoạch làng nghề phải gắn với việc quy hoạch giao thông, quy hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch nông thôn, khu dân cư, nhất là thực hiện các giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề… ở từng địa phương. Các quy hoạch này phải đồng bộ, phối hợp nhịp nhàng và lâu dài, tránh trường hợp dục tốc bất đạt, cái quy hoạch trước, cái quy hoạch sau nhìn nham nhở, rối ren. Bản thân các làng nghề cũng nên xây dựng các phòng truyền thống, các bảo tàng để lưu trữ và giới thiệu quá trình hình thành, phát triển và các sản phẩm đặc trưng cho văn hóa làng nghề của mình. Các làng nghề cũng cần phải quy hoạch chi tiết các khu vực bãi đậu xe, khu ăn uống, khu vệ sinh công cộng, khu trưng bày và bán hàng lưu niệm… làm sao cho phù hợp để tạo nên một chu trình du lịch trọn gói và các dịch vụ du lịch liên hoàn. 5.3. Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Quy hoạch, bảo tồn và phát triển làng nghề, du lịch làng nghề ở mỗi địa phương đều không giống nhau. Thế nhưng có một điều mà các làng nghề đều cần phải tập trung xây dựng đó là việc phải đa dạng hóa các sản phẩm du lịch khi tham gia vào mạng lưới du lịch làng nghề. Các sản phẩm du lịch cần phải được đa dạng để đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu, đòi hỏi tiêu dùng của du khách từ các địa phương, các vùng miền trong nước và các nước trên thế giới. Sản phẩm chủ lực vẫn là mặt hàng lưu niệm. Để tránh cho các mặt hàng lưu niệm cứ nhang nhác giống nhau thì nghệ nhân cần phải đẩy mạnh đổi mới công tác nghiên cứu, cải tiến các mẫu mã, thiết kế sản phẩm sao cho vừa tinh gọn, nhỏ nhẹ hơn so với mặt hàng xuất
  11. khẩu, lưu thông trên thị trường lại vừa không mất đi nét văn hóa đặc trưng của sản phẩm truyền thống. Quy hoạch du lịch làng nghề gắn với du lịch sinh thái, du lịch di tích lịch sử, gắn với ẩm thực dân gian, với các khu vui chơi, lưu trú, giải trí khác như một số tỉnh như Bình Định, Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh… đã từng làm. Tạo không gian lễ hội không chỉ vào những ngày giỗ tổ làng nghề mà các làng nghề còn nên tham gia vào các hoạt động văn hóa khác trong địa phương để tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc. Một hoạt động nữa nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch làng nghề đó là việc giao lưu trực tiếp giữa du khách với nghệ nhân. Đây có lẽ là một hoạt động mà du khách trông đợi nhiều nhất khi được trực tiếp mắt thấy, tai nghe, tự mình thực hiện… 5.4. Mở rộng các hoạt động du lịch Mở rộng các hoạt động du lịch thực chất là mở rộng các hoạt động dịch vụ ăn theo trong tuyến du lịch làng nghề nhằm giới thiệu, quảng cáo địa điểm du lịch làng nghề, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách, thu hút du khách và tăng tính hấp dẫn cho điểm du lịch đồng thời tăng thêm thu nhập cho làng nghề. Một số hoạt động du lịch tại chỗ như phương tiện di chuyển, ăn uống, mua sắm, thư giãn, vui chơi, giải trí… nếu gần các khu du lịch tâm linh thì sản phẩm du lịch sẽ đa dạng hơn với nhiều mặt hàng tùy thuộc vào sự linh hoạt của người kinh doanh và quản lý. Các hoạt động du lịch khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng chẳng hạn như trưng bày và bán hàng qua mạng. Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý kỹ rằng phải triệt để không xảy ra các tình trạng chặt chém, chèo kéo khách du lịch, gây mất cảnh quan, thẩm mỹ làng nghề tạo ấn tượng không tốt đối với khách tham quan khiến họ cảm thấy không được tôn trọng và chỉ đến một lần, không đến lần thứ hai. 5.5. Xây dựng đội ngũ nhân lực Tại Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ II về Đào tạo nhân lực ngành du lịch theo nhu cầu xã hội được tổ chức ngày 17/08/2010, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã cung cấp số liệu về nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của ngành Du lịch, theo đó đến năm 2015 cần 620.000 lao động du lịch trực tiếp, tăng trung bình mỗi năm 8%; đến năm 2020 cần 870.000 lao động, tăng bình quân mỗi năm khoảng 7%. Do đó, đội ngũ nhân lực phục vụ cho hoạt động du lịch làng nghề nói riêng và các hoạt động du lịch khác nói chung đóng một vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng và cần phải được xây dựng một cách chuyên nghiệp, bài bản, có trình độ, có kiến thức và khả năng giao tiếp, ứng xử tốt. Đầu tiên, đội ngũ quản lý phải là những người luôn nắm vững những tri thức mới, kiến thức nghề nghiệp, có tầm nhìn sâu sắc về giá trị kinh tế của làng nghề cũng như giá trị văn hóa đặc trưng tiêu biểu. Kỹ năng chuyên sâu, biết áp dụng thành thục các ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ công việc, biết phát huy cá tính, nét riêng biệt của bản thân và hiểu biết sâu sắc về du khách đồng thời phải đạt được tính nghệ thuật trong công việc và bản thân, lòng say mê công việc, không ngừng phấn đấu học hỏi, đổi mới tư duy, sáng tạo, chiếm lĩnh cái hay, loại bỏ cái không tốt, cái lạc hậu… Đối với đội ngũ này cần phải có sự đào tạo bài bản từ các trung tâm, các tổ chức, các trường Đại học, Cao đẳng trong những khoảng thời gian nhất định và sau đó phải được thử thách trong môi trường thực tế để chọn lọc những cá nhân xuất sắc. Đối với đội ngũ hướng dẫn viên, thực trạng hiên nay cho thấy rằng đội ngũ này vừa yếu và vừa thiếu một cách trầm trọng. Do đó, đội ngũ hướng dẫn viên cũng cần có sự tuyển chọn kỹ lưỡng, rõ ràng, tránh tình trạng làm ăn qua loa, nửa vời, đem con bỏ chợ. Đội ngũ
  12. hướng dẫn viên cần phải được đào tạo bài bản, có trình độ ngoại ngữ và khả năng giao tiếp tốt, hiểu biết sâu sắc về kiến thức làng nghề, yêu công việc. Trong việc quy hoạch và xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên, chúng ta cần chú trọng vào đội ngũ các con em làng nghề bởi họ xuất thân từ môi trường làng nghề, ít nhiều kiến thức về nghề cũng đã ăn sâu vào máu thịt họ, ông bà ta có câu con nhà nông không giống lông cũng giống cánh chính là thế. Ngoài ra, đối với người lao động chúng ta cũng phải tổ chức đào tạo nghề cho họ. Về vấn đề nay, ông Lưu Duy Dần, Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã khẳng định rằng, đào tạo lao động làng nghề là một trong những việc làm quan trọng nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề. Đây là một hình thức để nâng cao thu nhập của người nông dân, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đào tạo một triệu lao động mỗi năm theo Đề án đào tạo nghề lao động nông thôn đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1956. Đây là hoạt động để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của người lao động; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trên thực tế, hiện nay việc truyền nghề chủ yếu bằng phương pháp hướng dẫn, chỉ bảo... trực tiếp bởi các nghệ nhân cao tuổi. Phương pháp này tuy tốn ít kinh phí, dễ học, dễ dạy nhưng có nhiều nhược điểm như thiếu chuẩn xác, thiếu sự đóng góp hoàn thiện của tập thể bởi mỗi nghệ nhân truyền một kiểu, do đó, nếu công việc không ổn định có thể bị thất truyền. Thực tế, các làng nghề hiện rất thiếu nguồn nhân lực khi số lao động tại các làng nghề có khuynh hướng để làm các công việc khác mà không tha thiết đến nghề truyền thống của cha ông, vấn đề nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, xuất khẩu, vốn, tình trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề, công nghệ lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, vấn đề đào tạo, tuyển sinh và sau đào tạo… Vì vậy, Nhà nước cần có chương trình sưu tầm và biên soạn các quy trình công nghệ, sách dạy nghề cho việc sản xuất các sản phẩm nghề truyền thống. Việc đào tạo nghề tiểu thủ công nghiệp cho lao động làng nghề có 3 cấp độ: Đào tạo cho lao động phổ thông chưa biết nghề để họ có ít nhất một nghề thông thạo; bổ sung những kiến thức, kỹ năng mới cho những người đã có nghề, nhưng tay nghề chưa đủ mức thành thạo để trở thành thợ giỏi; bổ túc kiến thức khoa học, công nghệ mới cho nghệ nhân. Do đó, với mỗi đối tượng và trình độ cần có chương trình, giáo trình phù hợp với những phương thức dạy nghề linh hoạt. Cùng với đó, các làng nghề cần chú trọng tới việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về văn hóa, thẩm mỹ cho đội ngũ thợ giỏi trong làng nghề để nâng cao khả năng sáng tạo trong sản xuất cũng như tham gia tốt vào công tác dạy nghề tại địa phương. Đồng thời, xây dựng chương trình đào tạo bài bản, gắn với công nghệ hiện đại. Đặc biệt, một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của công tác đào tạo nghề cho các làng nghề hiện nay là liên kết, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Bởi nhu cầu sử dụng lao động chính là đầu ra của đào tạo, qua đó có thể biết được cần đào tạo những nghề gì với trình độ nào [Lan Hương, 2011]. Và đặc biệt chúng ta cần phải nhận thức rằng công tác, sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ ngành du lịch không thể chỉ giao khoán cho các trường đào tạo ngành du lịch, khách sạn hay các công ty lữ hành, các nhà hàng, khách sạn mà phải được xem là sứ mạng của mỗi người công dân có trách nhiệm đến việc phát triển đất nước. Công tác này rõ ràng là phải do các cấp cao nhất trong chính quyền phối hợp mới thực hiện được. 6. Kết luận Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy hình thức du lịch làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống đang dần trở thành một xu hướng chung của thế giới và Việt Nam bên cạnh du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng... Hoạt động du lịch này không chỉ đem lại những lợi ích kinh tế nhất định, mà còn cả những lợi ích to lớn về mặt văn hóa – xã hội, góp phần gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa đặc trưng của các vùng, miền khác nhau. Có thể nói, du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Nam cũng như ở Phú Quốc là một hình thức du lịch rất tiềm năng, thu hút và hấp dẫn đối nhiều khách du lịch trong và ngoài
  13. nước. Trong những năm gần đây, mặc dù đã có bước phát triển đáng ghi nhận, thể hiện những nỗ lực của những cơ quan quản lý ngành du lịch cũng như của các địa phương, du lịch làng nghề đã ngày càng đóng góp tích cực hơn so với tỷ trọng các loại hình du lịch. Thế nhưng hoạt động du lịch này vẫn chưa thực sự đạt được những kết quả như mong muốn bởi nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan. Trong tương lai, du lịch làng nghề ở Phú Quốc nếu muốn phát triển hơn nữa thì cần phải tìm và ứng dụng các phương hướng, biện pháp nhằm phát triển du lịch làng nghề. Đây là một vấn đề lớn, không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý ngành du lịch, mà còn cần sự phối hợp của nhiều ban ngành như các cơ quan Quản lý văn hóa, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài Nguyên – Môi trường, Sở Công thương… Nếu làm không khéo sẽ để lại hậu quả không nhỏ như lời phát biểu của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hồ Xuân Hùng: Vấn đề phát triển, quảng bá du lịch làng nghề đã khó, gìn giữ được bản sắc, những nét tinh hoa của làng nghề cũng như môi trường sống của người dân còn khó hơn. Nếu chỉ chú trọng tới làm du lịch, làm kinh tế mà quên mất những điều căn bản đó thì sẽ tự làm mất đi một phần di sản văn hóa lớn nhất của mình đó là các làng nghề. Tài liệu tham khảo 1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (2014), Phú Quốc, Truy cập ngày 30/9/2014. 2. Bùi Thị Hải Yến (2007), Quy hoạch du lịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 3. Bùi Văn Vượng (1998), Làng nghề thủ công ruyền thống Việt Nam, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội. 4. Đại học Sài Gòn (2009), Đào tạo nguồn nhân lực Văn hóa – Du lịch trong xu thế hội nhập và phát triển, Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc, Tp. Hồ Chí Minh. 5. Hà Anh (2013), Trải nghiệm cuộc sống hoang sở ở làng chài Hàm Ninh, http://dantri.com.vn, Truy cập ngày 30/9/2014. 6. Hoàng Hải Vân (2013), Công ngang với công thần khai quốc, http://www.thanhnien.com.vn, Truy cập ngày 30/9/2014. 7. Lan Hương (2011), Đào tạo nghề cho các làng nghề, http://www.nguoinhaque.com, Truy cập ngày 30/9/2014. 8. Lê Thị Minh Lý (2003), Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể, Tạp chí Di sản Văn hóa, Số 04, Hà Nội. 9. Nguyễn Như Bình (2012), Thực trạng đào tạo – sử dụng và phát triển nguồn nhân lực ngành Văn hóa – Du lịch trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, Kỷ yếu hội thảo khoa học Đối sánh chuẩn đầu ra theo nhu cầu xã hội, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh. 10. Nguyễn Như Bình (2013), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Văn hóa – Du lịch trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế, Kỷ yếu hội thảo khoa học Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực các ngành khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương. 11. Thúy Hằng (2012), Nét mới của nghề trồng tiêu ở Phú Quốc, http://thvl.vn, Truy cập ngày 30/9/2014. 12. Trần Huy, Chung Chung (2014), Về Phú Quốc tìm ngọc trai “thứ thiệt”, http://congluan.vn, Truy cập ngày 30/9/2014. 13. Trần Minh Yến (2004), Làng nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  14. 14. Võ Thị Thắng (2005), Phát triển du lịch Việt Nam trong tình hình mới, Tạp chí Cộng Sản, số 5, tháng 03. 15. Vũ Quốc Tuấn (2011), Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước, Nxb. Tri thức, Hà Nội. TÓM TẮT Du lịch làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, đã và đang trở thành xu hướng mới của thế giới. Trước xu hướng này, Việt Nam cũng đã và đang đưa vào sử dụng loại hình du lịch làng nghề. Thế nhưng thực tế cho thấy rằng chỉ có một số làng nghề truyền thống bước đầu khai thác được tiềm năng du lịch của làng nghề, còn nhìn chung thì hoạt động du lịch làng nghề vẫn chưa thu được kết quả nhất định, chưa có những biện pháp tiếp thị, quảng bá về chiều sâu để thu hút khách du lịch mà chỉ có tính tự phát, manh mún nên chưa khai thác thành công tiềm năng của các sản phẩm truyền thống cũng như những giá trị văn hóa - xã hội của làng nghề để gắn với du lịch. Trước thực trạng đó, bài viết này chủ yếu thử nhìn nhận và đánh giá thực trạng việc phát triển du lịch làng nghề ở Kiên Giang mà cụ thể là ở huyện đảo Phú Quốc hiện nay để rồi từ đó có một vài hướng giải quyết như một ý kiến đóng góp.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2