Lch S Võ Hc Vit Nam
Giáo sư Vũ Ðc
K t ngày Hng Bàng lp quc cho đến nay, nước Vit Nam
đã có gn năm ngàn năm lch s (k t năm Nhâm Tut) 2879
trước Thiên Chúa), tri qua mười tám đời vua Hùng Vương
cho đến các triu đại Ngô, Ðinh, Lê, Lý Trn, Nguyn,...
nước Vit Nam đã chu biết bao ni thăng trm lch s ca
các thi thnh tr và lon lac. Ð gi vng đất nước, t v
chng ngoi xâm t phương bc và m mang b cõi ln
chiếm v phương nam, t tiên Vit Nam cũng đã khéo léo
phi hp trong vic x "VĂN" dùng "VÕ", để to nên được
mt dãy giang san cm tú như ngày hôm nay. Do đó, ngưi
xưa đã có câu:
Văn quan cm bút an thiên h,
Võ tướng đề đao định thái bình.
Qua hai câu trên, chng t rng người xưa chng nhng hc
văn mà còn chú trng đến vic rèn luyn võ thut để chng
gic, dp lon, ngõ hu mang li thanh bình cho x s. Nhìn
chung vào toàn b lch s tranh đấu ca dân tc Vit Nam,
nn võ hc Vit Nam đã đóng mt vai trò rt quan trng,
trong vn mng thnh suy ca đất nước. Bi vì, nhng v anh
hùng dân tc, phn ln đều xut thân t gii võ hc, đã tiên
phong mang tài thao lược võ dũng và võ trí để góp công vào
cuc lp quc và kiến quc. Do đó, để tìm hiu lch s võ hc
Vit Nam, chúng tôi xin được căn c trên bi cnh lch s
th t thi gian, trong b "Vit Nam s lược", ca hc gi
Trn Trng Kim làm căn bn, để phân chia lch s võ hc
Vit Nam ra làm bn thi k chính yếu như sau: Thượng c
thi đại, Bc thuc thi đại, T ch thi đại, và Cn kim thi
đại.
I. THƯỢNG C THI ÐI (2879 - 110 TRƯỚC THIÊN
CHÚA)
Căn c vào lch s tiến hóa ca nhân loi, võ hc đã có mt
ngun gc sâu xa trong quá kh, t khi con người còn sng
trong các hang động, ch biết ăn sng tht thú rng, cây c, và
s sinh hot còn quá phôi thai, ri rc. Ðó là thi tin s, theo
các nhà kho c hc, thi tin s được chia ra làm bn thi
k chính: Thi cu thch (thi đá đẽo), thi trung thch (thi
đá mài), và thi kim khí.
Trong thi cu thch (đá đẽo), khi đầu vì bn năng sinh tn,
trong cnh sng chng chi vi thiên nhiên, mà con người
đãbiết vn dng sc mnh lao động ca th xác để t v
tranh đấu vi các loi vt sng chung quanh mình. T đó, các
động tác và các dng c thô sơ dùng làm khí gii, để chiến
đấu ca thi khai nguyên đã được chm n. Mc dù, trong
thi tin s con người chưa biết dùng ch viết để ghi chép li
nhng biến c xy ra trong cuc sng hàng ngày, nhưng các
nhà kho c cũng đã tìm hiu được s sinh hot ca nhân loi
vào thi xa xưa qua nhng di tích còn để li.
Riêng ti Vit Nam, nhng di tích thuc vào thi cu thch
(đá đẽo) như các món binh khí: búa, rìu, dao, no, dùi, cào,...
làm bng loi đá đẽo đã đưc các nhà kho c Vit Nam tìm
thy ti các vùng đất Thanh hóa, Lng Sơn, Vĩnh Phú, thuc
min Bc Vit Nam. hang Thượng Phú thuc min Trung
Vit Nam, nhà kho c M. Colani đã tìm thy được nhng
hình nh khc v trên vách đá, ging như mt người th săn
tay đang cm cây lao để nhm hướng lên mt con chim đang
bay lượn trên không trung, trong khi bên dưới là hình nh
ca nhng chiếc đầu thú vt có sng. Ngoài ra, xuyên qua
nhng bc tranh ha trên da thú rng hoc được khc trên
nhng phiến đá đưc lưu tr ti các vin bo tàng Vit Nam,
chúng ta còn nhn thy được hình nh ca nhng chiếc thch
côn trong thi đại đá đẽo. Vi nhng di tích va k trên cũng
đã nói lên được mt phn nào s liên quan đến khoa chiến
đấu ca t tiên Vit Nam trong thi đó.
Ðến thi đại trung thch (đá mài) con người vn nh vào
công ca mình để làm phương tin mưu sinh căn bn cho cá
nhân và gia đình, ri dn dn vi đà tiến b biết cách trng
trt, nuôi thú vt, con người đã to được s bo đảm v mt
thc phm, ri s sinh sn gia tăng, con người mi bt đầu
sng định cư, thành tp đoàn dưới hình thc b lc. Theo
quan đim ca các nhà kho c hc đã ghi nhn, đây là thi
k tân thch, con người bt đầu biết sng tp đoàn và có chút
ít sng văn minh, tiến b ln ti thi đại kim khí.
Theo các s gia và các nhà kho c hc Vit Nam, vào đời
vua Hùng Vương chính là thi đại kim khí cc thnh, t tiên
người Lc Vit đạt được mt s tiến b ln lao v phương
din k thut và m thut. T tiên Vit Nam đã tìm được các
qung m đồng, st,... và biết cách áp dng phương pháp
luyn kim (nhng k thut pha chế thành hp kim) để sn
xut ra các dng c và binh khí st bén như: rìu đồng, trng
đồng, đồng côn, thiết côn, dao, búa, cào bng st cho các v
Lc tướng và binh sĩ dùng để đánh gic.
Trong nhng di tích đào được các vùng đất núi Vit Nam,
người ta nhn thy có nhng món binh khí bng kim loi rt
là m thut như rìu đồng và trng đồng.
Rìu đồng là mt dng c để cht chém, và cũng là mt loi
binh khí dùng để đánh gic. Trên nhng rìu đồng này, phn
ln đều được trm tr hình k hà, hoc là nhng hình nh
sinh hot ca con người thi đó. Nhng hình v thường là
hình nh bơi thuyn, nhy múa, săn bn thú vt, và nhng
động tác đấu võ.
10
Trng đồng là mt loi nhc c dùng để to ra nhng âm
thanh hòa tu trong nhng bui l, đặc bit trong thi vua
Hùng Vương đã biết dùng trng đồng làm mt loi binh khí
bng âm thanh, để khích động tinh thn tướng sĩ, cũng như ra
hiu lnh cho binh sĩ trong lúc đánh nhau. Loi trng đồng
này đãđược tìm thy rt nhiu ti các vùng đất thuc các tnh
min Bc Vit Nam như Thanh Hóa, Hà Ðông, Bc Ninh,
Cao bng, Hà Nam, Hà Ni, Hòa Bình, Yên Bái, Hi Dương,
Ngh An... Trên mt trng đồng có trm v hình nh và s
sinh hot ca thi đó rt là đẹp đẽ. Ðiu này đã chng t
được tinh thn m thut ca t tiên Vit Nam đã bước tiến rt
cao xa.
Mt di tích khác mà hin nay còn lưu li ti tnh Phúc Yên
(Bc Vit) đó là thành C Loa, vi kiến trúc c kính đầy tính
cách quân s, vòng thành xon theo hình trôn c, vi s b trí
rt thun li cho vic phòng th, chng gic tn ngoài.
Ðây cũng là mt di tích đã nói lên được mt khoa võ hc
quân s có t chc trong triu đại An Dương Vương (257 -
207 trước Thiên Chúa), vi năm mươi năm làm vua, sau khi
Thc Phán đã đánh bi vua Hùng Vương th 18 để đổi tiên
nước t Văn Lang thành nước Âu Lc.
II. BC THUC THI ÐI (207 TRƯỚC THIÊN CHÚA
ÐN 939 SAU THIÊN CHÚA)
Sau khi đánh bi được vua An Dương Vương, Triu Ðà là
mt v quan úy qun Nam Hi lin sát nhp Nam Hi vào
nước Âu Lc lp thành mt nước t ch, đặt tên là Nam Vit,
làm vua được năm đời. Ðến năm 111 trước Thiên Chúa, nhà
Hán bên Tàu đánh chiếm nước Nam Vit ri đổi thành Giao
Ch B (Giao Châu) đặt quan cai tr như các châu qun ca
nước Trung Hoa.
Vào năm 40 sau Thiên Chúa, hai ch em Trưng Trc và Trưng
Nh người huyn Yên lăng, tnh Phúc Yên, đầu tiên cm
gươm ci bch tượng, điu khin nghĩa quân đánh đui quan
quân Thái Thú Tô Ðnh, và chiếm được sáu mươi lăm thành
trì, ri hai bà lên làm vua dành quyn độc lp, gii phóng
nước nhà ra khi ách đô h ca người Tàu được ba năm. S
kin này đã viết lên được mt trang võ s oai hùng cho dân
tc Vit Nam nói chung, và cho n gii Vit Nam nói riêng.
Mãi đến năm 248 sau Thiên Chúa, noi gương hai bà Trưng,
bà Triu u, người huyn Nông Cng tnh Thanh Hóa ci
bch tượng mc áo giáp vàng, cùng vi mt ngàn nghĩa quân
đứng lên chng vi quân Thái Thú Lc Dn, cm c mt thi
gian ngn, quân ca bà chng c không li, bà đành t t.
Ðây là mt đim son th hai cho n gii trong lch s Vit
Nam.
Năm 542, Lý Bôn, mt v anh hùng dân tc đã đứng lên đánh
đui quân Tàu để làm vua, dng nên nghip nhà Tin Lý.
Ðến năm 602, Lý Pht T thuc hu Lý Nam Ðế vì thế yếu
nên xin hàng phc vua nhà Tùy. K t đó, Giao Châu li l
thuc nước Tàu ln th ba. Mãi cho đến năm 939 sau Thiên
Chúa, người Vit mi dành li được quyn t ch.
Vào thế k th hai, song song vi vic du nhp các tôn giáo
Pht, Khng, Lão và Vit Nam, ngành võ hc t n Ð
Trung Hoa cũng được các v thin sư, đạo sĩ mang đến qua
hai con đường thy và đường b do hai cách được ghi nhn
như sau:
- Do các đạo sĩ Trung Hoa sang đất Giao Châu (Bc Vit
Nam) để lánh nn vì năm 189 sau Thiên Chúa, sau khi vua
Hán Linh Ðế mt, nước Trung Hoa có nhiu lon lc. Nhân
cơ hi này các v đạo sĩ đã gii thiu đạo Khng và Lão cũng
như các phương pháp th dc dưỡng sinh, th np chân khí
(tc là cách luyn khí). Trong s đó có ngài Mâu Bác (Meou-
Po) rt tinh thông tam giáo, v sau ngài phát tâm theo Pht
giáo.
- Do các v thin sư n Ð sang đất Giao Châu (Bc Vit
Nam) để truyn báo đạo Pht, hoc có mt s ghé ngang qua
Giao Châu, trước khi sang Tàu vào thế k th ba. Trong s
các v thin sư n Ð được ghi nhn như Chí Cương Lương
(Tche-Kiang Leang), Khương Tăng Hi (K'ang Seng Houei),
Ma Ha k Vc (Marjivaka ha La Jivaka)... Vào năm 247, vua
Ngô Tôn Quyn thy ngài Khương Tăng Hi thi trin nhiu
phép l đem lòng tín phc và xây chùa thành Kiến Nghip
(Nam Kinh bây gi) để ngài tu trì và ging dy Pht hc.
Trong sách "Cao Tăng Truyn" có ghi:ng Ma Ha K Vc
gc n Ð, đi du lch các nước, đến Founan theo đường
Giao Châu và Qung Châu (bc Vit và Qung Ðông bây
gi), đến nơi nào ngài cũng làm phép l. Khi đến Tương
Dương, ngài mun qua đò nhưng người lái đò thy ngài qun
áo rách rưới không cho xung. Nhưng đến khi đò ngang cp
bến, mi người đều ly làm l vì thy ngài đã bên này sông
ri."
Vào thi k này, mc dù võ hc đã được mang đến do các v
thin sư, đạo sĩ nhưng vn chưa được ph biến sâu rng trong
dân gian.
Mãi đến năm 580, v thin sưNi Ða Lưu Chi (Vinitaruci)
t Tây Trúc đã chánh thc mang đến Vit Nam ngành đạo
thin tông đầu tiên nước Vit Nam, ti chùa Pháp Vân (nay
thuc tnh Bc Ninh), truyn được 19 đời (580 - 1216). Năm
820, v sư Trung Hoa là ngài Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến
Sơ (Bc Ninh) lp nên thin phái th hai, truyn được 14 đời
(820 - 1221).
K t đó, các môn võ lâm c truyn t n Ð cũng như các
môn Thiếu Lâm nam và Bc phái ca ngài B Ð Ðt Ma t
Trung Hoa bt đầu xut hin ti Vit Nam.
III. T CH THI ÐI (939-1802 SAU THIÊN CHÚA)
Năm 939, sau khi Ngô Quyn thng trn Bch Ðng Giang,
đánh đui được quân Nam Hán và giết được Thái T Hong
Thao, Ngô Quyn đã tht s gii phóng cho dân Vit khi
ách ngàn năm đô h ca người Tàu, và cũng m đường cho
các triu đại Ðinh, Lê, Lý, Trn, Nguyn v sau được t ch
phương Nam.
Năm 968, Ðinh B Lĩnh sau khi dp xong lon thp nh s
quân, lên ngôi vua đạt li quc hiu là Ði C Vit, ngài lo
vic t chc binh b và ch th cho binh sĩ tp trn đánh
Trường Tiên, mà sau này dân Vit gi là Trung Bình Tiên
11
hay roi Quang Trường, để áp dng vào vic chng gic, gi
gìn b cõi. V binh đội, ngài phân chia ra làm Ðo, Quân,
L, Tt, Ngũ. Mi Ðo quân có 10 Quân, mi Quân có 10
L, mi L có 10 Tt, mi Tt có 10 Ngũ, mi Ngũ có 10
người.
Năm 980, vua Lê Ði Hành nh vào vic t chc binh b
hùng mnh ca nhà Ðinh để li mà đã to được nhiu chiến
công hin hách trong vic dp ni lon, cũng như phá được
di quân Tng phương Bc, bình được Chiêm Thành
phương Nam. Do đó vua Lê đã to được thanh thế rt lng
ly.
Năm 1010, Lý Công Un tiếp ni nghip đế ca nhà Lê để
sáng lp ra nhà Tin Lý, truyn ngôi được chín đời. Lý Công
Un là v vua rt gii võ lâm, xut thân t ca thin ngay t
nh đã theo nhà sưKhánh Vân làm con nuôi, được hc võ
lâm và đạo thin ti chùa C Pháp. Khi ln lên n tài văn võ
được nhà tin Lê b nhim chc Quân T Thn V Ðin
Tin Ch Huy S. Khi lên ngôi, vua Lý Thái T rt trng đãi
gii tu hành, Pht giáo cũng được chn làm quc giáo, song
song vi thin tông, nhà vua cũng phát động vic hun luyn
môn võ lâm c truyn cho các quan viên, quân sĩ, cũng như
các hoàng t đều phi luyn tp võ lâm ngay t thu nh. Khi
ln lên, các hoàng t đều gii võ lâm và cách dùng binh.
Mun được phong vương các hoàng t đều phi đích thân
cm binh đánh gic để lp chiến công.
Năm 1054 - 1072, để gia tăng hiu qu v binh b, vua Lý
Thánh Tông lo vic định quân hiu, chia phân quân đội ra
làm T, Hu, Tin, Hu. Tt c là bn b, hp li là mt trăm
đội, mi đội đều có lính k và lính bn đá còn nhng phiên
binh thì lp ra thành đội riêng bit, không cho ln ln vi
nhau. Binh pháp nhà Lý vào lúc by gi có tiếng là gii, nhà
Tng bên Tàu đã phi bt chước. Ðiu này cũng làm v vang
cho con dân đất Vit.
Năm 1072 - 1127, vua Lý Nhân Tông còn chia võ ban ra làm
chín phm. Quan đại thn có Thái Sư, Thái Phó, Thái úy,
Thiu Sư, Thiếu Phó, Thiếu Úy. Còn phái dưới có Ðô Thng,
Nguyên Súy, Tng Qun Khu mt S, Khu Mt T Hu S,
Kim Ngô Thượng Tướng, Ði Tướng, Ðô Tướng, Chu v
Tướng Quân.... Vào thi này, cũng nên k đến danh tướng Lý
Thường Kit, mt võ tướng tài ba thao lược cũng đã lp được
nhiu chiến công rc r trong cuc dp ni lon, bên ngoài
phá Tng bình Chiêm Thành.
Năm 1125 - 1400, tiếp ni nhà Lý các vua nhà Trn chú trng
đến vic chnh đốn binh bi Vua Trn Thái Tông ra lut tng
động viên, tt c nhng dân trai tráng đều phi đi lính. Ngài
cho m nhiu "Ging Võ Ðường" để hun luyn võ lâm cho
dân chúng. Ð trông nom binh b ti triu đình, vua đặt ra các
chc: Phiêu K Thượng Tướng Quân, Cm V Thượng
Tướng Quân, Kim Ngô Ði Tướng Quân, Võ v Ði Tướng
Quân, Phó Ðô Tướng Quân,... và ngoài, có các chc Kinh
Lược S, Phòng Ng S, Th Ng S, Quan Sát S, Ðô H,
Ðô Thng, Tng Qun,... Binh lính được chia thành Quân
Ðô, mi Quân có ba chc Ðô, mi Ðô có tám chc người
được xếp vào Quân và Ð Binh lính phi luôn luôn luyn tp
võ lâm, sn sàng trong tình trng chiến đấu. Binh lc ca nhà
Trn lúc này rt hùng mnh, ba quân tưng sĩ rt là thương
yêu ln nhau. Vì vy, đã hơn ba ln thng đưc gic nhà
Nguyên, đánh đui hơn năm chc vn quân Mông C ra khi
b cõi vào năm 1284 - 1288, dưới s lãnh đạo ca Hưng Ðo
Vương Trn Quc Tun, cùng vi s hp lc ca các võ
tướng như Trn Quang Khi, Trn Quc Ton, Phm Ngũ
Lão đã chiến thng trn Chương Dương Ð.
Nguyn Khoái, Phm Ngũ Lão, Hưng Võ Vương Nguyên,
Hưng Hiếu Vương Úy cùng vi Hưng Ðo Vương đã đánh
thng quân Nguyên ti trn Vn Kiếp, đến ni tướng Mông
C là Thoát Hoan thua phi b chy v nước. Trn Khánh Dư
cướp lương thc ca quân Nguyên ti trn Vân Ðn. Ti trn
Bch Ðng Giang, Hưng Ðo Vương đại thng bt được Ô
Mã Nhi và Trn Nht Dut đã phá quân ca Toa Ðô trn
Hàm T Quan.
Ðây là nhng chiến công rt hin hách, v vang nht trong
lch s vì vi mt đế quc Mông C ln mnh nht vào thi
by gi, có mt binh lc vin chinh hùng mnh, đã tng làm
mưa làm gió ti các chiến trường ln trên thế gii, đã chiến
thng thôn tính được nhiu dân tc ln trên thế gii như đã
thôn tính được nước Trung Hoa, chiếm được Tây Bá Li Á,
xâm lăng Trung Âu, uy hiếp được Áo và Ðc... Thế mà khi
đến b cõi Vit Nam, h phi nếm mùi tht trn hơn ba ln.
Hơn ba ln chiến thng vinh quang ca dân tc Vit đối vi
k thù s 1 ca loài người trong thi đó, đã chng t được
dân tc Vit là mt dân tc oanh lit đứng hàng đầu trên thế
gii.
Trong lúc chng vi gic Mông C, Hưng Ðo Vương Trn
Quc Tun đã son ra b "Binh Thư Yếu Lược". Ðây là b
sách tp hp các phương pháp dùng binh đánh gic ca
nhng danh gia trên thế gii để hun luyn cho quân sĩ.
Năm 1400, sau khi cướp được ngôi nhà Trn, H Quý Ly lo
chnh đốn vic binh b để đề phòng chng vi gic Minh. H
Quý Ly bt dân kê khai h tch rt cn thn ri tuyn dân vào
làm lính để gia tăng s binh sĩ, và chia quân đội ra làm b
binh, và thy binh. Ngoài ra còn thành lp bn kho quân
trang quân dng, và tuyn dng người có k thut vào làm
vic xưởng sn xut binh khí.
V thy binh, để đề phòng gi mt sông và bin, H Quý Ly
cho làm ra nhng chiến thuyn ln, trên có sàng đi, dưới
cho người chèo chng, tht là tin li trong vic chiến đấu.
các ca b và nơi him yếu ca các sông ln, H Quý Ly cho
người ly g đóng cc để đề phòng quân gic. Vic quân chế
Nam và bc được phân chia ra làm mười hai v, Ðông và
Tây được phân ra làm tám v. Mi v có mười tám đội, mi
đội có 18 người. Ði quân có ba chc đội, trung quân có hai
chc đội. Mi doanh có mười lăm đội, mi đoàn có mười đội.
Còn nhng cm v ch có 5 đội và mt người đại tướng thng
lãnh.
Năm 1418, Bình Ðnh Vương Lê Li cùng vi các nghĩa sĩ
sau nhiu năm gian lao thao luyn đứng lên khi nghĩa đất
Lam Sơn. Mãi đến năm 1427, ngài mi đui được quân nhà
Minh ra khi b cõi Vit Nam.
12
Năm 1428 Lê Li lên ngôi vua, trong các v có công lao ln
theo giúp vua, đáng k nht v quan văn là ông Nguyn Trãi
trong vic tham mưu, v quan võ có đại tướng Lê Vn và nhà
sư Sa Viên trong vic hun luyn võ dũng cho binh sĩ. Riêng
v nhà sư Sa Viên, hiu là Sơn Nhân người tnh Sơn La,
Bc Vit, vào năm 1407 ngài theo quy y hc đạo ti chùa
Huyn Thiên, tnh Sơn Ðông Trung Ho Năm 1415, ngài v
nước theo giúp vua Lê Li trong vic hun luyn võ công cho
các nghĩa sĩ.
Ðến năm 1428, vua Lê Li cho m ra nhng k thi "Minh
Kinh Khoa" bt buc các quan văn võ, t t phm tr xung
phi d thi, nghĩa là quan văn phi vào kinh thi s, quan võ
phi thi v võ kinh. Nhà vua còn m rng các khóa thi Minh
Kinh cho dân chúng, để kén chn nhân tài n sĩ ra giúp nước.
Nhân vào cơ hi phát động võ thut ca vua Lê, thy Sa Viên
đã thành lp trường hun luyn võ lâm ông Nguyn Trãi đặt
tên là "Trường Võ Bình Ðnh" để tưởng nh đến công lao ca
Bình Ðnh Vương Lê Li, đã có công đánh đui quân Minh
mang li thanh bình cho x s.
Năm 1460, vua Lê Thánh Tông cho m khoa thi Tiến sĩ đầu
tiên. Mi ba năm ngài cho m k thi võ để tưởng thưởng
quân sĩ và kén chn nhân tài võ dũng. Vào thi by gi,
nhiu võ sinh ca trường võ Bình Ðnh đã được trúng tuyn,
cho nên danh t võ phái Bình Ðnh đã được dân chúng biết
nhiu đến k t đó.
V binh b, vua Lê Thánh Tông còn ch th cho các quan
Tng Binh phi chăm lo ging tp trn đồ, thao luyn binh sĩ.
Ngài cho đổi li năm v thành năm Ph: Trung Quân Ph,
Nam Quân Ph, Bc Quân Ph, Ðông Quân Ph, Tây Quân
Ph. Mi ph có sáu v, mi v có năm hay sáu s, mi s
bn trăm người. Quân sĩ ca năm ph có khong sáu hoc
by vn người. Ngài còn đặt ra ba mươi mt điu quân lnh
để tp thy trn, bn mươi hai điu để tp b trn.
Năm 1679, vào thi Trnh Nguyn phân tranh, min Nam
nn võ hc Vit Nam còn chu nh hưởng vào các võ phái
ca người Trung Hoa như Thiếu Lâm Nam và Bc phái, Võ
Ðang, Nga Mi, Không Ðng, Bch Hc, Bát Quái Chưởng,...
xuyên qua các quan binh ca nhà Minh bt phc tùng Thanh
Triu đến khai hoang lp p, định cư rãi rác trên các vùng đất
cn nam. Do đó, v sau người ta còn được nghe nhc đến
nhng danh t như Võ Tiu, Võ H, Võ Qung, Võ Hi Nam,
Võ Phúc Kiến,... (để ch các môn võ do các người Tàu, gc
thuc các địa phương khác nhau). Ðến đây, chúng tôi xin
nhc li mt quan đim chính tr ca chúa Nguyn Hin
Vương, vi ý định m mang b cõi v min Nam, cho nên
chúa Nguyn đã cho phép các tướng lãnh cùng hơn ba ngàn
binh sĩ nhà Minh bt phc tùng Thanh Triu đến t nn, và
tin dp, dùng h để khai hoang, lp p ti các vùng đất cn
Nam, ri dn dn xâm chiếm các vùng đất ca người Chân
Lp. V sau nhng vùng đất khai hoang, lp p này đã to
nên nhng thành ph dân cư trù phú, s thnh vượng đáng k
nht là vic sn xut lúa go đã to nên mt nn kinh tế ln
mnh min Nam. Nn kinh tế này đã giúp ích rt nhiu cho
chúa Nguyn trong công cuc thng nht sơn hà. Trong các
tướng lãnh nhà minh đến khai hoang định cư, đáng k nht là
tướng Trn Thng Tài và Dương Ngn Ðch. Vào năm 1679,
Trn Thng Tài đã khai hoang ti Biên Hòa và dc theo các
vùng đất thuc đồng bng sông Ðng Nai. Còn Dương Ngn
Ðch lp p ti M Tho, và các vùng đất thuc đồng bng
sông Cu Long. Năm 1680, Mc Cu định cư ti Hà Tiên và
vùng đất dc theo vnh Xiêm La (Thái Lan), Rch Giá, Cà
Mau.
Năm 1706, vào đời vua Lê D Tông, min Bc chúa Trnh
Cương cho m trường hun võ, đặt quan giáo th để dy cho
con cháu các quan võ v môn võ kinh chiến lược. C mi
tháng mt ln tiu tp. Ba tháng mt ln đại tp. Mùa xuân và
mùa thu thì tp võ lâm. Mùa Ðông và mùa h thì thp võ kinh
(là binh thư chiến lược và chiến thut, áp dng nhng phương
pháp dùng binh đánh gic). K t đó mà danh t võ kinh mi
được ph thông trong qun chúng. Mi năm có mt k thi võ.
Ð tham d vào k thi võ, thí sinh ln lượt phi qua các b
môn như bn cung, múa giáo, múa gươm, bn cung trong lúc
phi nga, và bn cung trong lúc chy b. Sau cùng, thí sinh
phi qua k thi vn đáp v nghĩa lý trong sách v thánh hin
để xét v hc lc và nhng phương lược trong sách võ kinh
để xét v tài năng.
Năm 1740, Trnh Doanh cho lp võ miếu chánh v có bàn
th Vũ Vương, Khương Thái Công, Tôn Võ T, Quan Tư,...
phía sau có bàn th Trn Hưng Ðo, và lp miếu riêng th
Quan Công. Mi năm vào mùa xuân và thu, vua cho m cuc
tế l ti võ miếu.
CN KIM THI ÐI (1802 - 1975)
Năm 1802, vua Gia Long thng nht sơn hà vn theo gương
xưa ca chúa Sãi Nguyn Phúc Nguyên (1631). Nhà vua cho
thành lp xưởng súng đại bác, m trường bn hun luyn voi,
nga và trường hun luyn võ kinh, võ lâm cho binh sĩ.
nhng nơi him yếu, vua ch th cho lp đồn i. Ti các ca
bđảo, vua cho lp ra pháo đài. Ngoài ra, vua còn cho lp
ra xưởng đóng tàu đồng, và hun luyn thy quân để đề
phòng mt bin.
Năm 1820, vua Minh Mng đã chia binh đội ra thành b binh,
thy binh, tượng binh, k binh và pháo binh. B binh gm có
kinh binh và cơ binh. Kinh binh chia làm doanh, v, đội.
Kinh binh dùng để đóng gi kinh thành hoc để sai phái
đóng gi các tnh. Mi doanh có năm v, mi v có mười
đội, mi đội có năm chc người. Mi đội có sut đội và đội
trưởng cai qun. Nhng binh khí ca mi v gm có hai khu
súng thn công, hai trăm khu súng điu thương và hai mươi
mt ngn c. Còn cơ binh là lính riêng ca tng tnh, cũng
được chia ra làm cơ, đội. Cơ thì có quân cơ, đội thì có cơ sut
đội cai qun.
Tượng quân được chia ra thành tng đội, mi đội có bn chc
con voi. S voi kinh thành gm có mt trăm năm chc con.
Bc thành có mt trăm mười con. Gia Ðnh thành có by
mươi lăm con. Qung Nam có ba mươi lăm con. Bình Ðnh
có ba chc con. Ngh An có hai mươi mt con. Ti Qung
Bình, Qung Ngãi, Thanh Hóa, mi nơi đều có mười lăm
con. Còn Qung Tr, Phú Yên, Bình Thun, Ninh Bình mi
nơi có by con.
13
Thy quân có mười lăm v được chia làm ba doanh, mi
doanh đều có quan chưởng v quân lính, và quan đô thng
ch huy c ba doanh.
Ngoài ra, vua Minh Mng còn cho thành lp ra trường Anh
Doanh và Giáo Dưỡng Binh để cho các con ca quan võ, t
sut đội tr lên ai mun tình nguyn vào hc s được hưởng
lương bng. Vic hun luyn võ lâm và võ kinh do mt viên
quan đại thn chăm sóc.
Ð b dng vàongành võ hc, vua còn cho m ra các khóa thi
võ lâm, tuyn chn người đậu tú tài, c nhân và tiến sĩ
khoa. Người d thi võ khoa đều phi biết ch nghĩa, vì sau
khi thi xong các b môn ca võ lâm, thí sinh còn phi d thi
phn võ kinh, để chng t kh năng trong cách dùng binh
pháp đánh gic mà trong sách võ kinh đã n định.
Năm 1837, vào thi Minh Mng th 18 vua còn định phép
cho các k thi võ lâm như sau:
- KHÓA THI HƯƠNG: Trường th nht thi c t, trường th
hai thi din roi côn (trúc mc), din quyn, múa kim đon.
Trường th ba thi v bn súng điu thương (loi súng thi
xưa). Nếu thí sinh trúng tuyn c ba trường, được chm đậu
c nhân võ khoa. Nếu thí sinh ch trúng tuyn trường th
nht và trường th hai, được chm đậu tú tài võ khoa. Sau đó,
để sp hng cao thp, các võ tú, võ c còn phi d thi vn đáp
để tr li nhng cu hi có liên quan đến sách võ kinh và
sách T Tư. Nếu ai tr li thông sut, tên được sp hng
đứng trước.
- KHÓA THI HI: Cũng như khóa thi Hương, thi Hi gm
có ba trường. Nhưng phn din côn roi, thí sinh phi dùng
đến côn roi bng st (thiết côn). Thí sinh nào trúng tuyn c
ba trường và gii thông ch nghĩa s được vào k thi Ðình.
- KHÓA THI ÐÌNH: Sau khi được tuyn chn k thi Hi,
thí sinh được vào d khóa thi Ðình để làm mt bài văn sách,
tr li nhng câu hi v nghĩa lý trong b sách võ kinh, sách
T Tư, và nhng binh pháp chính yếu ca các danh tướng
thi xưa. Nhng thí sinh được trúng tuyn k thi Ðình được
chm đậu tiến sĩ võ kho Nếu thí sinh ch được trúng tuyn
k thi Hi mà không đậu k thi Ðình được chm đậu phó
bng võ khoa.
Trong thi Pháp thuc, người Pháp đã gp phi nhng s
chng c oanh lit ca người dân Vit, phn ln các t chc
kháng chiến chng Pháp, bt ngun t các nhà lãnh đạo võ
thut. Do đó, để vô hiu hóa phn nào sc kháng c ca
người Vit, chính quyn Pháp đã ra lnh nghiêm cm các
hot động võ thut trên toàn lãnh th Vit Nam. Tuy nhiên,
vi tinh thn ái quc và bt khut ca người Vit, các v
c, võ gia Vit Nam vn âm thm lén lút dy võ cho các
thanh thiếu niên để nung đúc tinh thn qut khi, kháng chiến
chng Pháp. Mc dù vi khí gii thô sơ, tm vong chut
nhn, gươm giáo không th trc din đối đầu vi các súng
đạn ti tân ca người Pháp nhưng người Vit đã dùng phương
pháp du kích, nhiu phen khiến cho chính quyn Pháp kinh
hoàng và đã giết được các tướng tài Pháp như tướng Francis
Garnier và tướng Henri Riviere ti Ô Cu Giy, Hà Ni (Bc
Vit).
Trong các v lãnh đạo chng Pháp, quân Pháp đặc bit chú ý
đến các ông như Phan Ðình Phùng, Ðinh Công Tráng, Lê
Trc, Hoàng Hoa Thám...
Năm 1862 - 1864 Ông Trương Công Ðnh kháng chiến
Công và Biên Hòa.
Năm 1875 ông Nguyn Hu Huân (Th khoa Huân) ni lên
M Tho và Tân An.
Vào tháng 8/1864 ông Trương Hu (con ông Trương Công
Ðnh) ni lên Tây Ninh.
Vào 8/1917 ông Lương Ngc Quyến và Trnh Văn Cn ni
lên nhà lao Thái Nguyên.
Năm 1927 hai ông Nguyn Thái Hc và Nguyn Khc Nhu
lãnh đạo Vit Nam Quc Dân Ðng ni lên chng Pháp
Yên Bá
Năm 1885, ông Qun Hn Nguyn Văn Bường khi binh
Bà Ðim Hc Môn, Bà Trà, Tân Khánh. Trn đánh ni tiếng
nht là Mười Tám Thôn Vườn Tru (gi là Thp Bát Phù
Viên) trong đó nghĩa binh b vây đánh, sau cùng còn li by
chc người cùng nhau th đánh cho đến chết. Và h đã gi
vng li th. T trn đánh Pháp ni tiếng này v sau, danh t
"võ vườn" đã được lưu truyn để nói lên tinh thn võ dũng
ca địa phương này. Nếu mun nói "võ vườn" là mt môn
phái võ thut người ta cũng không thy được mt tài liu sách
v nào để chng minh v ngun gc, k thut căn bn ca nó,
mà ch được nghe nhc qua li truyn ming ca các dân địa
phương. Có l, đây ch là mt s đòn thế chiến đấu t v ca
dân địa phương được nh hưởng bi võ thut Trung Hoa, bt
ngun t năm 1679, tướng Trn Thng Tài và hơn ba ngàn
binh sĩ nhà Minh, bt phc tùng Thanh triu, đã được chúa
Nguyn Hin Vương cho phép t nn, khai hoang, lp n
định cư dc theo đồng bng sông Ðng Nai (Biên Hòa, Hc
Môn). Ð chng minh cho lun c trên, chúng tôi còn ghi
nhn qua lch s bi chiến tích võ dũng ca mười tám thôn
vườn tru vào năm 1782. Ti đây, quan binh Tây Sơn
Nguyn Nhc đã b đánh bi, do s phc kích ca đạo binh
Hòa Nghĩa (người Trung Hoa cư ng ti 18 thôn Vườn Tru,
theo giúp Nguyn Ánh).
Vào năm 1911, ngài Mc Ðc Thin Sư, mt trong nhưng v
c vn cho Tôn Dt Tiên đãthu nhn bn đồ đệ người Vit
Nam như Trn Tn Chân Nhân, Thin To Ðo Nhân, Tư
Hn Cư Sĩ, và Thin Tâm Thin Sư. V sau bn v này góp
công ln vào vic phát trin ngành thin tông và võ lâm ti
Vit Nam.
Riêng v Thin Tâm Thin Sư, tên tht là Nguyn Văn Sáu,
hiu Ðoàn Tâm nh, sanh năm 1900 ti Bc Liêu, Nam Vit
Nam. Sau mười tám năm được theo thy Mc Ðc Thin Sư
để hc võ lâm và thin tông ti chùa Phi Lai T, min Bc
Trung Hoa, ông tr v Vit Nam vào năm 1930 m trường
dy võ thâu nhn môn đồ. Ðng thi, ông cùng mt s nghĩa
14