intTypePromotion=1

Luận văn: NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CHO CÁC ỨNG DỤNG: DÂN DỤNG, HỆ THỐNG BƠM, QUẠT GIÓ CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC NHÀ MÁY DỆT SỢI

Chia sẻ: Orchid_1 Orchid_1 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:0

0
467
lượt xem
106
download

Luận văn: NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CHO CÁC ỨNG DỤNG: DÂN DỤNG, HỆ THỐNG BƠM, QUẠT GIÓ CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC NHÀ MÁY DỆT SỢI

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Năng lượng nói chung và điện năng nói riêng là nhân tố vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chỉ số phát triển điện năng thường được coi như biểu hiện trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Người ta đánh giá nền công nghiệp của một nước qua năng lượng điện và độ tăng trưởng kinh tế của một nước qua mức tăng trưởng năng lượng điện của nước đó....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CHO CÁC ỨNG DỤNG: DÂN DỤNG, HỆ THỐNG BƠM, QUẠT GIÓ CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC NHÀ MÁY DỆT SỢI

  1. CÔNG TY CP TƯ VẤN VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐIỆN SỐ 6 VŨ NGỌC PHAN- ĐỐNG ĐA- HÀ NỘI ĐT: (04) 8 350454 FAX: (04) 8 350281 Email: escjsc@gmail.com ----------------- BÁO CÁO NGHIỆM THU HỢP ĐỒNG NCKH VÀ PTCN NĂM 2007 Tên hợp đồng: “NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CHO CÁC ỨNG DỤNG: DÂN DỤNG, HỆ THỐNG BƠM, QUẠT GIÓ CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC NHÀ MÁY DỆT SỢI”. Số hợp đồng: 182.07RD/HĐ-KHCN Thời gian thực hiện: 1/2007-12/2007 Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Tuấn Anh 6819 25/4/2008
  2. Mục lục TT Nội dung Trang Phần I: Tiết kiệm điện là yêu cầu bức thiết 2-15 I. Sự cần thiết phải tiết kiệm điện 2 II. Tiết kiệm điện trên thế giới 4 III. Tiết kiệm điện ở Việt nam 6 IV. Tiềm năng tiết kiệm điện tại các doanh nghiệp 8 V. Các giải pháp tiết kiệm điện. 10 Phần II: Tiết kiệm điện tại cơ sở dân dụng 15-25 I. Khối văn phòng 15 II. Khu vực sản xuất. 18 Phần III: Tiết kiệm điện tại xí nghiệp dệt may 26-55 I. Tổng quan ngành công nghiệp dệt may 26 II. Thực trạng tiêu thụ điện tại các xí nghiệp dệt may 26 III. Khảo sát tại CTCP Dệt công nghiệp Hà nội. 28 IV. Phân tích tình hình tiêu thụ điện năng 30 III. Tiềm năng và giải pháp tiết kiệm điện 35 IV. Hiệu quả kinh tế-xã hội. 42 Phần IV: Tiết kiệm điện tại nhà máy nước 56-84 I. Tổng quan 56 II. Khảo sát Nhà máy nước Nam Dư 58 III. Các giải pháp tiết kiệm điện năng 67 Phần V: Chế tạo thiết bị tiết kiệm điện 85-102 A. Bộ tiết kiệm điện năng mẫu PS-01/ESC 85-95 B. Thiết bị tiết kiệm điện năng mẫu PS-02/ESC 96-102 Phần VI: Kết luận. 103 Phần VII: Tài liệu tham khảo. 104 Phần VII: Phụ lục. 104- PHẦN I: TIẾT KIỆM ĐIỆN LÀ YÊU CẦU BỨC THIẾT 1
  3. I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾT KIỆM ĐIỆN Năng lượng nói chung và điện năng nói riêng là nhân tố vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chỉ số phát triển điện năng thường được coi như biểu hiện trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Người ta đánh giá nền công nghiệp của một nước qua năng lượng điện và độ tăng trưởng kinh tế của một nước qua mức tăng trưởng năng lượng điện của nước đó. Năng lượng điện là tổng số nguồn năng lượng dưới các dạng khác nhau như cơ năng, nhiệt năng, điện năng, năng lượng nguyên tử... Tuỳ theo điều kiện tự nhiên, tài nguyên, khả năng khoa học - kĩ thuật, vốn đầu tư... của mỗi nước, mỗi vùng mà cơ cấu nguồn điện năng khác nhau. Mặc dù trên thế giới sự phát triển của ngành điện càng ngày càng lớn mạnh và vô cùng đa dạng, từ nhiệt điện, thuỷ điện, sức gió... cho đến năng lượng nguyên tử nhưng thiếu điện luôn là căn bệnh trầm kha của tiến trình phát triển kinh tế ở mọi giai đoạn và ở nhiều nước. Do vậy tiết kiệm năng lượng nói chung, tiết kiệm điện nói riêng luôn là nhiệm vụ quan trọng và bức xúc của toàn cầu, nhất là khi nguồn năng lượng ngày càng cạn kiệt mà với xu thế phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhu cầu của con người càng tăng lên với biết bao phương tiện, thiết bị máy móc... đòi hỏi sử dụng năng lượng ngày càng nhiều. Việt Nam chúng ta là một trong những nước nghèo về các nguồn tài nguyên năng lượng, mức quy đổi về nguồn năng lượng sơ cấp tính bình quân trên đầu người rất thấp so với mức bình quân của nhiều nước. Việc mất cân bằng năng lượng ở Việt Nam trong tương lai sẽ là rào cản lớn nhất cho việc phát triển nền kinh tế, làm giảm đáng kể sức hút vốn đầu tư, giảm khả năng cạnh tranh của nhiều loại sản phẩm, làm mất cơ hội tăng trưởng... Nguồn điện năng của nước ta chủ yếu tập trung ở hai nguồn phát điện chính: nhiệt điện và thuỷ điện. Phát triển nhiệt điện có thuận lợi là vốn đầu tư tương đối thấp, thời gian xây dựng cơ sở sản xuất nhanh, nhưng giá thành năng lượng (tính theo kW.h) cao. Phát triển thuỷ điện (quy mô lớn) thì suất đầu tư cao gấp nhiều lần so với nhiệt điện, thời gian xây dựng dài hơn, nhưng giá thành năng lượng lại rẻ hơn. Nhiệt điện có các Nhà máy như Uông bí, Phả lại, Ninh bình..., còn đa số là các Nhà máy thuỷ điện, từ các nhà máy lớn như Hoà bình, Yaly (720M)... cho tới rất nhiều nhà máy thuỷ điện nhỏ. Ước tính Việt Nam có khoảng 480 trạm thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp đặt là 300MW (tiềm năng của thuỷ điện nhỏ ở Việt Nam là 2.000MW, tương đương với công suất của nhà máy thuỷ điện Hoà Bình). Sau 20 năm cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, ngành Điện Việt nam có có sự tăng trưởng khá mạnh về công suất nguồn điện: 1.605 MW vào 2
  4. năm 1985; năm 1995 điện phát ra là 14.665 MW; năm 1997 là 19.253 triệu kW.h; năm 1999 là 23.599 triệu kW.h. Cho tới 2006 là 12.000 MW và sản lượng điện thương phẩm lên tới 51,374 tỷ KWh. Để đáp ứng nhu cầu về điện năng ngày càng tăng, đã có rất nhiều nhà máy thuỷ điện đang được xây dựng thêm như Nhà máy thuỷ điện Sơn la (với công suất 2.400 MW, nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân), Nà Lơi,Thác bà... và rất nhiều nhà máy thuỷ điện nhỏ (từ 1-30MW) đang được đầu tư ở nhiều nơi trong nước như Tây nguyên, Quảng bình... Tuy nhiên độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay đang khá cao và sẽ tiếp tục cao cho đến khi nào chúng ta đạt được một nền công nghiệp khá hoàn chỉnh. Nhu cầu điện năng của nước ta còn tiếp tục tăng cho đến một vài chục năm nữa, lúc đó tốc độ tăng trưởng của điện năng sẽ đáp ứng đủ. Theo tính toán của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), sản lượng điện thương phẩm của năm 2007 có thể sẽ lên tới 58,57 tỷ kWh (tăng 7.4 tỷ kWh so với năm 2006). Tuy nhiên, tiến độ chậm trễ của nhiều nguồn phát mới vì rất nhiều nguyên nhân đã đưa đến tình trạng cung không đủ cầu, vì mức tiêu thụ điện của cả nước trong những tháng đầu năm đã tăng lên đến 20% (chỉ dự đoán 15%). Để đối phó với tình trạng thiếu điện, biện pháp tình thế là việc cắt điện luân phiên đã phải tiến hành trong vài năm trở lại đây, và nhất là vào những tháng cuối năm 2007, tình trạng này càng căng thẳng vì EVN phải mua điện của các Công ty khác với giá cao nên phải bù lỗ. Chúng ta phải làm gì để giảm thiểu sự thiếu hụt nguồn điện lớn không chỉ trong một vài năm, mà còn đảm bảo an ninh năng lượng bền vững trong tương lai. Để thực hiện điều đó chỉ có hai con đường: phát triển các cơ sở khai thác, sản xuất, chế biến, cung ứng năng lượng, phát triển nguồn năng lượng tái tạo, phát triển năng lượng sạch... và nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm năng lượng. Chi phí đầu tư để sản xuất ra cùng một đơn vị năng lượng đắt hơn ít nhất 2,5 lần so với chi phí đầu tư để tiết kiệm hay nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, ít nhất 30% nhu cầu năng lượng có thể và cần phải được đáp ứng bằng biện pháp tiết kiệm. Do vậy tiết kiệm năng lượng là yếu tố mà các nhà hoạch định chính sách năng lượng quốc gia đang rất lưu tâm nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Và đây cũng chính là mối quan tâm lớn của cả thế giới nên “Dự án tăng cường tiết kiệm năng lượng trong các xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ của Việt Nam” do Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc tải trợ với mức kinh phí là 29.227.250 USD đã và đang được tiến hành từ năm 2006 đến 2010. 3
  5. Theo ông Jordan Ryan, Điều phối viên thường trú LHQ và Đại diện thường trú UNDP, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng ở Việt Nam đang tạo ra sức ép lớn đối với năng lực cung cấp năng lượng của quốc gia vốn đã phát huy hết công suất. Nếu năng lượng không được sử dụng bền vững hơn thì trong tương lai VN có thể không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia. Bây giờ là thời điểm thích hợp nhất cho dự án này vì VN đang phải giải quyết nhu cầu tăng trưởng kinh tế trong khi tình trạng thiếu năng lượng ngày càng trầm trọng. II. TIẾT KIỆM ĐIỆN TRÊN THẾ GIỚI Đối với các nước đã và đang phát triển, do nền kinh tế đã phát triển ổn định nên yêu cầu tốc độ tăng trưởng nguồn điện không cao (chỉ 5-10%/năm), nhưng đồng hành với việc phát triển các nguồn năng lượng mới (nhất là những nguồn năng lượng xanh) là việc tiết kiệm năng lượng bằng rất nhiều giải pháp. Trên thế giới, đã nhiều năm này, các chương trình tiết kiệm điện đã được các Chính phủ rất quan tâm và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn. Nhất là khi giá dầu, than tăng không ngừng thì việc cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết. Nguồn năng lượng trên thế giới đang ngày càng cạn kiệt nên xu hướng của toàn cầu là tìm kiếm các công nghệ giúp tiết kiệm năng lượng. Điều này nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ các nước châu Âu vốn lo ngại về sự sụt giảm của các nguồn cung cấp năng lượng hiện nay. Vì thế, bên cạnh những quy định khắt khe hơn về việc sử dụng năng lượng, chính phủ các nước này cũng bắt đầu tài trợ tiền và giảm thuế cho những hãng xây dựng loại nhà tiết kiệm năng lượng. Nước Mỹ cũng không đứng ngoài xu hướng này. Thông qua chương trình Energy Star của mình, Washington đã ban hành những quy định nghiêm ngặt về năng lượng trên mọi lĩnh vực, từ xây dựng nhà đến thiết bị điện hay gia dụng. Đồng thời ngày càng có nhiều công nghệ mới giúp tiết kiệm năng lượng được phát minh và sử dụng trên thế giới. Mới đây, Bộ Năng lượng Mỹ vừa ký Hợp đồng tăng cường xây dựng các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng lên đến 30% đến năm 2010 với Hiệp hội các kỹ sư nhiệt học và điều hoà không khí Mỹ nhằm giảm tối đa năng lượng dùng cho ĐHKK vốn chiếm một lượng năng lượng khổng lồ ở Mỹ. Chính phủ Tây Ban Nha vừa thông qua một kế hoạch hành động từ nay đến năm 2007 với 7,9 tỷ euro đầu tư nhằm thực hiện chiến lược tiết kiệm năng lượng bao gồm khoảng 200 biện pháp khẩn cấp được áp dụng trong các lĩnh vực cải cách hệ thống giao thông vận tải, thay đổi thiết bị, đồ dùng điện, v.v... 4
  6. sẽ cho phép giảm 8,5% mức tiêu thụ điện năng và giảm 20% năng lượng mua của nước ngoài vì hiện nay, Tây Ban Nha là một trong những nước phải nhập năng lượng nhiều nhất (tới 80%). Ngoài ra, Chính phủ Tây Ban Nha chủ trương trong thời gian tới sẽ huỷ 2 triệu đồ điện dân dụng cũ tốn nhiều điện của các gia đình, thay thế 7 triệu bóng đèn có công suất lớn bằng các loại bóng có công suất nhỏ, tiết kiệm điện hơn. Cũng như nhiều nước châu Âu khác, ngay sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới, Chính phủ Đức đã bỏ rất nhiều công sức vào việc thúc đẩy phát triển kỹ thuật năng lượng có khả năng tái sinh. Đến nay, Đức đầu tư khoảng 1,74 tỷ Euro vào lĩnh vực này. Chính phủ Đức còn đưa ra những biện pháp sử dụng tiết kiệm năng lượng như trợ cấp kinh phí, tuyên truyền và tư vấn kỹ thuật thúc đẩy nâng cao hiệu suất sử dụng đồng thời đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng trên mọi lĩnh vực, phân cấp các loại đồ điện gia dụng và dán nhãn phẩm cấp chất lượng tiết kiệm điện năng để thúc đẩy các nhà sản xuất nâng cao kỹ thuật tiết kiệm năng lượng. Ở các nước phát triển, kinh tế tăng trưởng gắn liền với hiệu quả năng lượng: cứ tăng GDP thêm 1% thì chỉ phải tăng tiêu thụ năng lượng 0,4%. Do đó, cường độ sử dụng năng lượng bình quân thế giới theo GDP đã giảm 19%, riêng các nước phát triển giảm 21-27%. Ở Nga ngược lại, cường độ sử dụng năng lượng theo GDP lại tăng nên tiềm năng hiện nay về tiết kiệm năng lượng là rất lớn: 39-47%. Khoảng 30% tiềm năng đó tập trung trong ngành nhiên liệu-năng lượng, 35-37% trong công nghiệp và 25-27% trong khu vực dịch vụ công cộng. Vì vậy mục tiêu của chính sách nhà nước trong việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng là yếu tố tiên quyết đối với triển vọng phát triển lâu dài của cả toàn bộ nền kinh tế nước Nga với việc áp dụng các biện pháp rộng rãi kích thích người tiêu thụ, đảm bảo cơ cấu lại nền kinh tế có lợi cho các ngành chế biến tiêu hao ít năng lượng và các lĩnh vực dịch vụ và tận dụng tiềm lực tiết kiệm năng lượng trong công nghệ. Đồng thời thực hiện hệ thống những biện pháp về pháp lý, hành chính và kinh tế kích thích việc sử dụng năng lượng hiệu quả. Các nước ở châu Á hiện nay cũng đang phải đối mặt với những thách thức trong việc đảm bảo năng lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và giảm nghèo, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Sức ép của giá dầu ngày càng tăng cũng như nhu cầu về năng lượng ngày càng cao đã buộc các doanh nghiệp và các quốc gia châu Á phải tìm kiếm các biện pháp nhằm tiết kiệm năng lượng. Từ những năm 1970, các định mức hiệu suất năng lượng là tiêu chuẩn tiêu thụ năng lượng tối thiểu của thiết bị đã được áp dụng phổ biến ở Mỹ và châu Âu, còn ở châu Á mới chỉ được áp dụng ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore... còn Trung Quốc là một trong những nước có nền kinh tế sử dụng lãng phí năng lượng nhiều nhất trong khu vực: các nhà máy điện xây dựng từ năm 1950 và các nhà máy xí nghiệp lạc hậu tiêu tốn năng lượng gấp 11 lần so với Nhật Bản và gấp 3 lần mức trung bình của thế giới. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc cũng đã khiến cho tình hình trở nên tồi tệ hơn. 5
  7. Hiện tại nhu cầu dùng điện ở Trung Quốc vẫn vượt quá xa so với năng lực sản xuất, dẫn đến tình trạng mất điện thường xuyên do vậy vấn đề tiết kiệm năng lượng đang được các nhà lãnh đạo Trung Quốc hết sức quan tâm. Tháng 8/2006, Quốc Vụ viện Trung Quốc ban hành quyết định khởi động Chương trình quốc gia về tiết kiệm năng lượng trong đó xác định các biện pháp chính nhằm đạt được mục tiêu tiết kiệm 20% tổng mức năng lượng tiêu thụ vào năm 2020. Ngoài ra, Trung quốc còn dự định từ nay đến năm 2020 sẽ đầu tư 2000 tỷ nhân dân tệ vào năng lượng tái sinh nhằm cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và nâng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái sinh từ 7,5% lên 15% vào năm 2020. Công ty G-Steel, một trong những nhà sản xuất thép hàng đầu của Thái Lan, đã tái sử dụng toàn bộ lượng nước thải và cắt giảm 38% lượng điện tiêu thụ trong năm năm qua. Hàn quốc cũng đã phát động một chiến dịch thuyết phục người tiêu dùng loại bỏ những thiết bị cũ và không có hiệu quả về mặt năng lượng Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng và phát triển nguồn năng lượng tái tạo ở châu Á. Từ năm 1973 đến nay, sản lượng công nghiệp tăng 3 lần nhưng mức tiêu thụ năng lượng vẫn ổn định. Các thiết bị điện liên tục được cải tiến để tiêu thụ càng ngày càng ít điện năng. Song hành với việc phát triển mạnh nguồn năng lượng từ pin mặt trời, từ rác thải, Chính phủ xác định giảm các mức tiêu thụ thiết bị điện chính trong gia đình là 17% với tivi, 30% với máy tính, 36% với điều hoà nhiệt độ và 72% với tủ lạnh. III. TIẾT KIỆM ĐIỆN Ở VIỆT NAM Ngành năng lượng Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã có bước phát triển mạnh trong tất cả các khâu thăm dò, khai thác, sản xuất, truyền tải, phân phối, xuất nhập khẩu năng lượng; về cơ bản đã đáp ứng năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Quy mô của các ngành điện, than, dầu khí đều vượt hơn hẳn 10 năm trước, khả năng tự chủ của các ngành từng bước được nâng lên, đã góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngành điện Việt Nam đã có tiến bộ vượt bậc trong công tác giảm tổn thất điện năng từ 19,29% xuống còn 11,05%. Tuy nhiên, những thành tựu và tiến bộ đã đạt được chưa đủ để đưa ngành năng lượng vượt qua tình trạng kém phát triển. Đến nay, Việt Nam vẫn là một trong các nước có mức sản xuất và tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người thấp xa so với mức trung bình của thế giới và kém nhiều nước trong khu vực khác (550KWh/năm, bằng 1/5 Malaysia, 1/18 so với nước thấp nhất của Châu Âu..). Trình độ phát triển của ngành vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập do rất nhiều nguyên nhân. 6
  8. Do vậy trong thời gian gần đây, tiết kiệm điện là một vấn đề cấp thiết đối với Tổng Công ty Điện lực nói riêng và cả Việt Nam nói chung. Rất nhiều cuộc hội thảo, nhiều giải pháp đã được đưa ra, thậm chí tổ chức cả cuộc thi tiết kiệm năng lượng điện. Đồng thời nhiều thiết bị đã được đưa ra với tiêu chí tiết kiệm điện nhằm giảm áp lực thiếu điện cho EVN và có lợi cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, để thực hiện thành công các chương trình tiết kiệm năng lượng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị thực hiện với cùng với một khung pháp lý rõ ràng như: chính sách khuyến khích về thuế, trợ giúp tài chính, điều chỉnh giá điện, các tiêu chuẩn và cơ chế để quản lý, kiểm soát chất lượng thiết bị và các trợ giúp về đào tạo, công nghệ... Khung chính sách thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ngày càng được Việt Nam chú ý hoàn thiện. Cho đến nay, hàng loạt các chính sách liên quan đến vấn đề tiết kiệm năng lượng nói chung và trong ngành công nghiệp nói riêng đã được ban hành và triển khai thực hiện: Nghị định 102 của Chính phủ về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (có hiệu lực từ tháng 9/2003); Thông tư của Bộ Công nghiệp hướng dẫn sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với các cơ sở sản xuất (có hiệu lực từ tháng 7/2004); Luật điện lực được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ 1/7/2005, trong đó có 1 chương chỉ rõ tiết kiệm trong phát, truyền tải, phân phối và sử dụng điện; Quyết định số 79/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Một trong các chính sách chủ yếu trong việc phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam: “Chính sách sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, trong đó nội dung chính là: - Xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp, ưu tiên phát triển các ngành có cường độ năng lượng thấp. - Xây dựng các chính sách về tài chính, thuế nhằm khuyến khích tiết kiệm năng lượng trong cơ sở sử dụng năng lượng. Miễn, giảm thuế thu nhập cho khoản lợi nhuận thu được từ việc tiết kiệm năng lượng. Các trang thiết bị, vật tư, dây chuyền công nghệ nhập khẩu cho mục đích tiết kiệm năng lượng, các sản phẩm thuộc danh mục các sản phẩm tiết kiệm năng lượng khuyến khích sản xuất hay nhập khẩu được hưởng các ưu đãi về thuế. - Nhà nước có cơ chế hỗ trợ, ưu đãi các dự án sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng, nhập khẩu dây chuyền công nghệ mới hoặc đầu tư chiều sâu nhằm tiết kiệm năng lượng. - Nghiên cứu ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về định mức sử dụng năng lượng cho các loại trang thiết bị, phương tiện sử dụng năng lượng. Ngày 14/4/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 80/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tiết kiệm điện giai đoạn 2006-2010 với mục tiêu: tiết kiệm từ 5-8% tổng mức tiêu thụ điện năng so với dự báo hiện nay về phát triển 7
  9. năng lượng và phát triển Kinh tế-xã hội; tiết kiệm 11-12% lượng điện năng tiêu thụ tại các cơ quan công sở Nhà nước trên địa bàn Hà nội. Quyết định gồm 8 nội dung chính như sau: 1. Vận động toàn dân tham gia tiết kiệm điện 2. Tiết kiệm điện tại công sở, trụ sở các cơ quan 3. Tiết kiệm điện trong sinh hoạt và kinh doanh dịch vụ 4. Tiết kiệm điện trong sản xuất công nghiệp 5. Tiết kiệm điện đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh điện 6. Tiết kiệm điện đối với các trang thiết bị sử dụng điện 7. Chương trình chiếu sáng tiết kiệm và hiệu quả 8. Phổ biến sử dụng thiết bị gia nhiệt nước bằng năng lượng mặt trời và sử dụng các dạng năng lượng thay thế khác. Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công nghiệp đã chỉ đạo sát sao việc tổ chức, thực hiện tiết kiệm điện trong các tỉnh thành, các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy... trong cả nước và bước đầu đã thu được hiệu quả đáng khích lệ. Nội dung của Hợp đồng NCKH và phát triển công nghệ này là “Nghiên cứu giải pháp tiết kiệm năng lượng cho các ứng dụng: dân dụng, hệ thống bơm, quạt gió công nghiệp và các nhà máy dệt sợi” cũng không nằm ngoài mục đích thực hiện Nghị quyết của Thủ tướng Chính phủ về tiết kiệm điện trong các công sở, các xí nghiệp sản xuất công nghiệp. IV. TIỀM NĂNG TIẾT KIỆM ĐIỆN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP I. Tổng quan: Việc nghiên cứu, áp dụng các giải pháp mới để giảm tỷ lệ tổn thất điện năng xuống mức hợp lý đã và đang là mục tiêu của ngành Điện tất cả các nước, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống đang mất cân đối về lượng cung cầu điện năng như nước ta hiện nay. Tỷ lệ tổn thất điện năng phụ thuộc vào đặc tính của mạch điện, lượng điện truyền tải, khả năng cung cấp của hệ thống và công tác quản lý vận hành hệ thống điện... Tuy nhiên, theo các chuyên gia năng lượng, tỷ lệ tổn thất điện năng của Việt Nam còn ở mức cao so với các nước trong khu vực là còn do nhiều nguyên nhân khác như chất lượng điện kém; chế độ sử dụng điện không hợp lý; thiết bị tiêu thụ điện đại đa số cũ, lạc hậu; nhiều mô hình quản lý và kinh doanh chưa phù hợp; sự thiếu hiểu biết của khách hàng sử dụng điện... Mức thiếu điện nhiều hay ít, một phần quyết định bởi chính các khách hàng sử dụng điện bởi vì theo số liệu thống kê kết quả kiểm toán năng lượng tại hơn 100 doanh nghiệp trong 4 năm qua của Việt Nam cho thấy 100% doanh nghiệp 8
  10. lãng phí năng lượng (cao nhất tới 35%). So với khu vực Đông Nam Á, tiết kiệm năng lượng của các doanh nghiệp Việt Nam vào loại kém nhất. So sánh trên cùng một đơn vị sản phẩm, doanh nghiệp Việt Nam tiêu tốn năng lượng gấp 1,7 lần so với các nước trong khu vực. Chưa tính tới việc lãng phí điện cũng còn khá phổ biến: điều hòa chạy liên tục trong mùa hè, đèn điện sáng khi không có người trong phòng làm việc... 2. Tiềm năng tiết kiệm điện: Tiềm năng tiết kiệm năng lượng của doanh nghiệp ngoài phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ công nghệ, tuổi thọ trung bình của thiết bị, loại nhiên liệu sử dụng, năng suất lao động, mức độ cơ khí, tự động hoá còn phụ thuộc khá nhiều vào nhận thức của người lao động về việc sử dụng năng lượng. Việc đầu tư máy móc thiết bị và công nghệ cũ và lạc hậu trước đây và thậm chí cho đến nay vẫn còn tồn tại khiến cho ngành công nghiệp Việt Nam nằm trong nhóm đứng cuối thế giới về hiệu suất sử dụng năng lượng. Hiện tại, ngành công nghiệp (chiếm khoảng 40% nhu cầu năng lượng) vẫn chưa có tiến bộ đáng kể nào trong giảm tiêu hao năng lượng. Đợt khảo sát gần đây tại một số nhà máy sản xuất thép, xi măng, sành sứ, hàng tiêu dùng cho thấy, tiềm năng tiết kiệm năng lượng có thể đạt đến 20%, tức là có thể giảm bớt chi phí cho sử dụng năng lượng trong ngành công nghiệp khoảng 10.000 tỷ đồng mỗi năm. Nguyên nhân khiến cho đại đa số các cơ sở công nghiệp Việt Nam đạt mức hiệu suất sử dụng năng lượng thấp là do: - Thiếu các thông tin về tiềm năng nâng cao tiết kiệm năng lượng, chi phí và lợi ích của các thiết bị tiết kiệm năng lượng, tiềm năng của các giải pháp tiết kiệm năng lượng chi phí thấp, các ứng dụng và công nghệ mới. - Thiếu các thông tin về định mức tiêu hao năng lượng của các hoạt động sản xuất khác nhau trong các lĩnh vực của ngành công nghiệp. - Thiếu các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu; các nhà sản xuất, cung cấp hàng; dịch vụ kỹ thuật về các ứng dụng và công nghệ hiệu suất cao; các đơn vị làm kiểm toán và thanh tra năng lượng. - Chi phí đầu tư cho các thiết bị hiệu suất cao thường có giá cao, chủ yếu phải nhập khẩu, trong khi đó các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam có tiềm lực tài chính chưa đủ mạnh... Ngoài ra còn nguyên nhân không kém phần quan trọng là Nhà nước chưa có định chế, chế tài bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp tiết kiệm năng lượng. Hiệu quả việc tiết kiệm năng lượng của một doanh nghiệp được phụ thuộc vào mức đầu tư. Có 3 mức đầu tư: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn: 9
  11. - Đầu tư ngắn hạn là biện pháp nên được ưu tiên thực hiện trước vì không phải đầu tư tốn kém mà hiệu quả tiết kiệm rõ rệt như cải tiến chế độ quản lý năng lượng; tổ chức sản xuất hợp lý, khoa học; thực hiện các biện pháp sửa chữa nhỏ; các giải pháp đơn giản... - Đầu tư trung hạn: đòi hỏi mức đầu tư vừa phải, bao gồm cải tạo, nâng cấp hoặc đổi mới từng phần các thiết bị đang làm việc nhằm nâng cao hiệu quả năng lượng. - Đầu tư dài hạn bao gồm nâng cấp thiết bị hoặc thay đổi công nghệ, thiết bị mới, áp dụng phương pháp kiểm toán năng lượng... Biện pháp này thường cần vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi lâu. 3. Các bước triển khai thực hiện tiết kiệm điện năng: - Khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình sử dụng điện năng tại doanh nghiệp; - Tiến hành phân tích số liệu và đưa ra các giải pháp tiết kiệm điện năng phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp; - Tính toán tính khả thi của từng giải pháp. - Thực hiện giải pháp khả thi. - Đánh giá hiệu quả tiết kiệm điện năng của doanh nghiệp. V. CÁC GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM ĐIỆN Trên thế giới hiện có rất nhiều giải pháp tiết kiệm điện trong các lĩnh vực sản xuất điện, sử dụng điện (hệ thống chiếu sáng, các xí nghiệp công nghiệp, trong các toà nhà...), từ việc chế tạo các thiết bị tiêu thụ điện có chức năng tiết kiệm điện trong các lĩnh vực công nghiệp, đồ gia dụng ngày càng đa dạng và hiện đại... cho đến các thiết bị quản lý năng lượng nhằm tiết kiệm năng lượng đến mức tối đa. Các sản phẩm rất đa dạng và phong phú, của rất nhiều Công ty nổi tiếng của các Châu lục, ở đủ các lĩnh vực kể cả từ khâu nhỏ như pin máy tính, máy ảnh, đèn chiếu sáng, chấn lưu điện tử, điều hoà không khí, computer cho tới các hệ thống điều khiển động cơ tải quạt gió, bơm... , từ nâng cao, cải thiện chất lượng nguồn cho tới nâng cao chất lượng thiết bị tiêu thụ điện, quản lý tiêu thụ năng lượng trong các nhà máy, xí nghiệp... Xem các tài liệu tham khảo kèm theo. Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã tham khảo các tài liệu, các biện pháp, giải pháp ở trong và ngoài nước và từ các giải pháp cơ bản khá hữu hiệu đã được áp dụng, chúng tôi đúc rút ra các giải pháp chung, từ đó sẽ tiến hành ứng dụng thực tế cho phù hợp với từng cơ quan hay nhà máy cụ thể. Vì bất cứ một cơ quan hành chính, một công ty, hộ dùng điện dân dụng hay nhà máy sản xuất đều có những thiết bị tiêu thụ điện năng điển hình như: hệ thống đèn chiếu sáng, điều hoà nhiệt độ, máy tính, các động cơ bơm, quạt... Để việc tiết kiệm điện có hiệu quả thì chúng ta phải bắt đầu tiết kiệm từ tất cả các khâu này, từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều. Mỗi khâu chỉ cần tiết kiệm được 1-2% thì tổng thể lại lượng tiết kiệm được sẽ là không nhỏ. 10
  12. Các giải pháp chung: a. Hệ thống chiếu sáng Chiếu sáng rất quan trọng trong phục vụ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất kinh doanh. Nếu một hệ thống chiếu sáng kém hiệu quả sẽ không chỉ tiêu tốn điện mà còn tạo ra nhiều nhiệt không cần thiết, làm tăng lượng tiêu thụ điện của máy điều hòa không khí, dẫn tới tăng tiền điện lên nhiều lần. Theo tính toán của một doanh nghiệp cho thấy, chi phí tiền điện phụ thuộc vào năng lực sản xuất sản phẩm, hệ thống chiếu sáng và cách sử dụng điện. Song điện dùng trong chiếu sáng có thể chiếm từ 35% - 60% tổng số tiền điện hàng tháng. Do vậy, tùy vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tuỳ vào hệ thống công nghệ chiếu sáng, ý thức của mỗi người, cách sử dụng… sẽ đem lại hiệu quả khác nhau ở mỗi doanh nghiệp. Có nhiều cách tiết kiệm trong dùng điện chiếu sáng: - Mỗi doanh nghiệp cần thường xuyên nâng cao ý thức và khuyến khích người sử dụng điện tắt thiết bị chiếu sáng ở những nơi hoặc khi không cần thiết. - Bố trí nơi làm việc phù hợp với khu vực chiếu sáng và mỗi nơi có bộ phận điều khiển riêng biệt. Lắp đặt hệ thống chiếu sáng một cách hợp lý, linh hoạt và đúng nhu cầu sử dụng để không gây lãng phí. Tắt thiết bị chiếu sáng khi có đủ ánh sáng tự nhiên. - Thường xuyên bảo dưỡng và kiểm tra các chụp đèn và bóng đèn bị bụi bẩn bám, làm giảm khả năng chiếu sáng. Thường xuyên lau chùi và thay thế hệ thống chiếu sáng sẽ giúp duy trì mức độ chiếu sáng cần thiết. - Thay thế đèn sợi đốt bằng đèn compact, có thể tiết kiệm 80% điện năng tiêu thụ. HiÖn nay trªn thÞ tr−êng ®· cã c¸c ®Ìn huúnh quang compact hiÖu AC vµ Comet ®¸p øng tèi ®a nhu cÇu tiÕt kiÖm ®iÖn chiÕu s¸ng trong sinh ho¹t víi tuæi thä cao gÊp 6 lÇn so víi ®Ìn sîi ®èt th«ng th−êng: bãng ®Ìn compact hiÖu AC, Comet, tuæi thä tíi 6.000 giê (trong khi ®ã tuæi thä cña bãng ®Ìn sîi ®èt th«ng th−êng chØ 1.000 giê), tiÕt kiÖm ®−îc 80% ®iÖn n¨ng so víi ®Ìn sîi ®èt th«ng th−êng... - Thay thế đèn tuýp T10, T12 bằng đèn tuýp gầy T8, Maxx 802; thay chấn lưu điện tử cũ bằng chấn lưu điện từ, hoặc chấn lưu điện tử tổn hao thấp, có thể tiết kiệm được từ 40% - 70% điện năng tiêu thụ. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại bóng đèn tuýp gầy của các hãng: Phi lip, Rạng Đông, Osram, Điện Quang... Các sản phẩm của Công ty BĐPN Rạng Đông sản xuất: đèn huỳnh quang T8 Supedelux, hiệu suất sáng 85Lm/w; đèn huỳnh quang T8-32W; chấn lưu điện từ tổn hao thấp 6W cho đèn huỳnh quang; chấn lưu điện tử 3,5W; hệ thống máng chao chụp theo yêu cầu của thiết kế chiếu sáng đã thay thế dần các bóng đèn nhập ngoại. Sử dụng ballast điện tử có ưu điểm là tiết kiệm được 60% điện năng tiêu thụ, bật sáng tức thời, tuổi thọ 11
  13. dài, ánh sáng ổn định. Theo tính toán, so sánh giữa ballast điện tử với ballast thông thường thì sau 8.000 giờ sử dụng, ballast điện tử tiết kiệm được 53.000 đồng so với ballast thông thường. Nếu mỗi ngày sử dụng 10 giờ thì chi phí đầu tư thêm cho ballast điện tử sẽ được thu hồi sau 6 tháng. Đây là các sản phẩm đầu tiên của Việt nam được công nhận đạt tiêu chuẩn tiết kiệm điện năng mà giá bán lại chỉ bằng 50% sản phẩm tương đương nhập khẩu. b. Máy điều hoà không khí Theo số liệu công bố của Ban quản lý dự án Chương trình tiết kiệm năng lượng thương mại thí điểm Bộ Công nghiệp, nếu áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng cho toàn bộ thiết bị sử dụng điện tại khách sạn, văn phòng thì có khả năng tiết kiệm từ 8%-12%/tổng lượng điện quốc gia tiêu thụ. Trong đó, chỉ tính riêng hệ thống điều hòa không khí mức tiết kiệm có thể chiếm đến 40%/tổng khối lượng điện trong khách sạn, văn phòng. Do vậy, tiết kiệm điện năng từ các máy ĐHKK đem lại hiệu quả rất lớn cho các cơ quan dùng nhiều ĐHKK, giảm chi phí rất nhiều tiền điện do luỹ tiến. Các biện pháp chính là: - Lắp đặt điều hoà ở vị trí mà dòng không khí được phân phối đều. Điều chỉnh quạt hướng gió của điều hoà sao cho dòng không khí lạnh bao phủ trong phòng và phân bổ nhiệt độ đồng đều. - Tắt điều hoà khi không có người. Chỉ nên để nhiệt độ làm việc ở 250C vì cứ mỗi độ lạnh giảm 10C thì lượng điện tiêu thụ tăng 10%. - Nên tắt ĐHKK trước khi ra vể 30 phút vì độ lạnh vẫn được duy trì. - Thực hiện bảo dưỡng định kỳ ĐHKK để đảm bảo hiệu suất làm việc cao nhất. - Ở những nơi cần trang bị ĐHKK mới nên sử dụng các máy ĐHKK có chức năng tiết kiệm điện. Công nghệ biến tần Inverter ra đời thật sự đã tạo ra bước đột phá trong việc giảm hao phí năng lượng đến mức thấp nhất. Công nghệ này giúp tiết kiệm tối đa năng lượng, làm lạnh nhanh, lạnh sâu và đều hơn. Giá của loại thiết bị này cao hơn loại thông thường khoảng 20%. Tuy nhiên, về tuổi thọ cũng như hiệu suất tiết kiệm điện loại máy này rất cao, tiết kiệm 62% chi phí điện năng trước khi lắp đặt. Hiện nay loại máy ĐHKK Inverter của Daikin được sử dụng khá phổ biến trong nước. Loại máy này tích hợp 3 công nghệ tiên tiến nên hiệu quả tiết kiệm điện năng rất cao do: 1. Giảm tối đa dòng điện khởi động đến 30% nhờ chức năng Econo. 12
  14. 2. Tốc độ quay của máy nén được điều khiển bởi biến tần và hoạt động theo diện tích phòng, số người, nhiệt độ bên ngoài... và đáp ứng làm lạnh theo nhu cầu thực tế. 3. Có mắt thần thông minh là bộ cảm biến bằng hồng ngoại. Khi không có người sẽ tăng lên vài 0C, khi có người sẽ tự động điều chỉnh trở lại. Ngoài ra, có thêm một thủ pháp nhỏ là nên dùng ĐHKK kết hợp với bật quạt. Bởi vì hiện tượng tản nhiệt bề mặt phần lớn quyết định bởi hệ số tản nhiệt. Nếu không khí đứng yên, hệ số này rất nhỏ, nhưng nếu không khí chuyển động thì hệ số này sẽ khá lớn. c. Thiết bị văn phòng: Máy vi tính, máy photo... Trong thời kỳ phát triển vũ bão của công nghệ thông tin như hiện nay, trung bình mỗi cơ quan hành chính phải có ít nhất vài chục chiếc máy vi tính. Nếu tính trong phạm vi toàn quốc, số lượng này có thể rất lớn. Vì thế, những lúc thời gian dừng không dùng máy lớn hơn 15 phút nên để máy ở chế độ “Stand by”, ‘Sleep” để giảm bớt công suất tiêu thụ. Hoặc nếu dừng máy lâu hơn nữa thì nên tắt máy bằng cách “Shut Down”. Còn khi dùng xong nên tắt cả công tắc nguồn vì trên thực tế vẫn còn một dòng điện nhỏ chạy qua máy, tuy cường độ không lớn nhưng tổng cộng lại đó là một giá trị đáng kể, gây nên lãng phí điện một cách vô ích. Máy Phôtôcopy cũng vậy. Nếu cứ bật máy để chờ, sẽ tốn một lượng điện không nhỏ để duy trì nhiệt độ cần thiết. Nếu không cần dùng máy liên tục, tốt nhất là nên lúc nào dùng hãy bật công tắc, khi nào không dùng nữa thì ngắt. d. Ngắt điện ổ cắm sau giờ làm việc Theo thống kê số thiết bị đồ điện gia đình để ở chế độ tạm nghỉ không hoạt động nhưng không rút giắc cắm khỏi ổ điện vẫn tiêu hao một lượng điện chiếm tới 11% lượng điện các thiết bị gia đình trong cả nước sử dụng. Vì vậy, Chính phủ Đức và cơ quan bảo vệ môi trường đã thông qua các biện pháp đẩy mạnh tuyên truyền kêu gọi mọi người khi không sử dụng các thiết bị đồ điện trong nhà rút giắc cắm ra khỏi ổ. e. Tiết kiệm điện cho các động cơ và máy bơm Động cơ và máy bơm là thiết bị tiêu thụ điện lớn nhất trong các cơ sở sản xuất, chiếm khoảng 80% tổng năng lượng điện của một cơ sở sản xuất. Việc áp dụng các công nghệ tiên tiến mới, các giải pháp tiết kiệm năng lượng cho phép các động cơ và máy bơm có thể tiết kiệm điện khoảng 20% tổng khối lượng điện năng tiêu thụ. 13
  15. Tuy nhiên có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiết kiệm năng lượng của động cơ và máy bơm cũng như khả năng tiết kiệm của các động cơ hiện tại, sự phù hợp giữa kích thước và công năng của động cơ, khả năng biến thiên của động cơ..., và tuỳ theo mục đích sử dụng mà tỷ lệ tiêu thụ của các động cơ sẽ khác nhau. Một số giải pháp chung có thể ứng dụng trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất: 1. Chọn các động cơ có công suất phù hợp với tải, không vận hành thiếu tải; 2. Có thể lắp các tụ bù ngay tại đầu các động cơ để tăng hệ số công suất cosф để giảm công suất phản kháng; 3. Thay mới động cơ có hiệu suất cao. Các động cơ hiệu suất cao đắt hơn khoảng 25-30% so với các động cơ thông thường, nhưng chi phí tiết kiệm được trong suốt thời gian sử dụng động cơ đó có thể mang lại cao hơn nhiều lần so với việc sử dụng động cơ cũ; kiểm tra, làm vệ sinh, tra dầu mỡ cho các hộp số, bảo trì máy thường xuyên để xác định, xử lý rò rỉ và điều chỉnh độ căng của băng tải… 4. Lắp đặt thiết bị điều khiển tốc độ có công nghệ hiện đại cho những động cơ có chế độ làm việc thay đổi sẽ tiết kiệm được từ 10-50% chi phí điện năng. Công nghệ và giải pháp tiết kiệm năng lượng của thế giới phát triển khá mạnh, nên hầu như không có trở ngại về kỹ thuật. Vấn đề chỉ là ở hiệu quả kinh tế, với những động cơ quá cũ, hiệu suất thấp thì giải pháp tiết kiệm sẽ kém hiệu quả. Hiện nay, khá nhiều cơ sở sản xuất trong nước đã áp dụng biện pháp này. g. Tiết kiệm điện thông qua biện pháp chế tài Có thể bằng xử phạt hành chính, bằng cách cắt điện nếu không tuân thủ các cam kết với bên cung cấp điện về tiết kiệm điện. Ngoài ra, còn có thể áp dụng thêm biện pháp kiểm toán năng lượng bằng các thiết bị quản lý năng lượng, tuy nhiên giải pháp này chỉ có thể dùng ở các xí nghiệp có trang bị các máy móc hiện đại, có chức năng tiết kiệm điện cao. 14
  16. PHẦN II: TIẾT KIỆM ĐIỆN TẠI CƠ SỞ DÂN DỤNG. Công ty cổ phần Tư vấn và Dịch vụ Kỹ thuật điện (ESC) có 2 cơ sở: - Trụ sở làm việc chính: tại số 6 Vũ Ngọc Phan, Đống Đa, Hà nội. Đây là nơi làm việc của khối hành chính sự nghiệp, vì số Công ty thuê văn phòng làm việc ở đây khá nhiều. - Cơ sở 2: Tại xã Trung văn, Từ liêm, Hà nội. Khu này có mặt bằng khoảng 7000m2, chủ yếu cho các công ty nhỏ thuê xưởng để sản xuất, chế tạo các sản phẩm chủ yếu thuộc lĩnh vực cơ khí. Công ty ESC chính là một nơi điển hình và thuận lợi để khảo sát và ứng dụng các giải pháp tiết kiệm điện cho một cơ sở dùng điện dân dụng: có cả khối văn phòng, cả sản xuất nhỏ phù hợp với nội dung 1 của đề tài. I. KHỐI VĂN PHÒNG: 1. Khảo sát tình hình tiêu thụ điện năng: Khu số 6 Vũ Ngọc Phan gồm 1 toà nhà 4 tầng (diện tích mặt bằng 200m2), 1 nhà 2 tầng (diện tích 50m2) và một nhà xưởng (diện tích 400m2) dùng để sửa chữa ôtô (riêng xưởng này chúng tôi không đề cập tới vì là xưởng mới sửa chữa, cải tạo và trang thiết bị đồng bộ phục vụ chuyên ngành nên mới và hiện đại). Các Công ty hiện làm việc ở số 6 Vũ Ngọc Phan (hơn 10 công ty) hầu hết đều là các Công ty làm việc ở lĩnh vực tư vấn và đào tạo nên thiết bị tiêu thụ điện chủ yếu thuộc dạng thiết bị văn phòng. Vì số lượng Công ty khá nhiều nên số lượng điều hoà và máy tính được sử dụng ở đây cũng khá lớn. 2. Đánh giá mức độ tiêu thụ điện: Bảng 1 liệt kê số lượng điện tiêu thụ hàng tháng của các Công ty này từ tháng 4 năm 2007 đến tháng 7 năm 2007 là thời gian chúng tôi khảo sát tình hình tiêu thụ điện. Sau đó, căn cứ vào tình hình và mức độ hoạt động thực tế cũng như khả năng tài chính của các Công ty, chúng tôi đã đưa ra các giải pháp khả thi có thể thực hiện ngay được. 3. Giải pháp tiết kiệm điện a. Hệ thống chiếu sáng: Đặc điểm của toà nhà số 6 Vũ ngọc Phan là khi thiết kế đã rất chú trọng đến khâu thông thoáng và ánh sáng tự nhiên. Do vậy có nhà có 4 mặt thoáng, các cửa ra vào và cửa sổ đều bằng kính khung nhôm nên ánh sáng tự nhiên đã cung cấp ánh sáng khá đủ. Mặt trước của tầng 3 và 4 lắp khung nhôm kính nên rất sáng. Chỉ riêng tầng 1 sau này có cải tạo theo nhu cầu sử dụng nên bị tối hơn trước. Đèn cung cấp ánh sáng cho các phòng làm việc đều là đèn nêông cũ dùng chấn lưu sắt từ không có chức năng tiết kiệm điện. Tuy nhiên do số lượng không 15
  17. nhiều, toàn bộ toà nhà có khoảng 50 đèn công suất 40w nên lượng điện năng tiêu thụ cũng không đáng kể. Do vậy nếu thay bằng bóng neông loại tiết kiệm năng lượng và thay bằng chấn lưu điện tử thì hiệu quả kinh tế không cao, chỉ tiết kiệm bằng cách khi ánh sáng tự nhiên đủ thì không dùng đèn. Riêng đèn hành lang và đèn bảo vệ quanh nhà đều là đèn tròn dây tóc nên đã cải tạo bằng cách thay đèn tiết kiệm điện năng. Số đèn tròn là 40 bóng, công suất 40w. Khi thay bằng đèn tiết kiệm 15w số lượng điện tiết kiệm được là: 40 x(40-15)=950w/h Nếu 1 ngày thắp bình quân 8 tiếng thì tiết kiệm được: 950w/hx8h= 7.600W Như vậy 1 tháng tiết kiệm được là: 7.600x 30 ngày= 22.800w. Nếu tính với giá điện hiện hành bình quân là 1.200đ/kw, số tiền tiết kiệm được trong 1 tháng là: 22,8kw x 1.200 đ = 27.360 đ Một năm sẽ tiết kiệm được: 12 tháng x 27.360 đ = 328.320 đồng. b. Hệ thống điều hoà không khí Số lượng điều hoà không khí sử dụng trong cả khu khá nhiều: tổng cộng có 40 cái ĐHKK chủ yếu là loại 900BTU, công suất tiêu thụ điện là 800w/h.Tuy nhiên trước mắt rất khó thay đổi sang loại điều hoà mới có chức năng tiết kiệm năng lượng (chỉ tiêu thụ 720w) vì vấn đề kinh phí chưa cho phép (chỉ khi thay hay lắp thêm mới có thể thay bằng loại này). Một ngày bình quân tiêu thụ là (tính bình quân 8 tiếng): 32.000w x 8h = 256.000w. Sau khi đã áp dụng các giải pháp tiết kiệm điện năng như: - Chỉ bật máy ĐHKK khi thật cần thiết: khi trời quá nắng nóng, oi bức... mà các cửa sổ, cửa ra vào không có tác dụng. - Nhiệt độ máy chỉ để ở chế độ làm việc 250C. - Phối hợp với quạt để phân phối luồng gió làm mát và tăng cường đối lưu không khí... - Tắt ĐHKK trước khi về 30 phút. thì lượng điện tiêu thụ đã giảm khá đáng kể. Những ngày mùa hè, nếu tính bình quân mỗi ngày chỉ chạy ĐHKK 7 tiếng mà bình thường chạy 9 tiếng (trước và sau giờ làm việc 30 phút), lượng điện đã tiết kiệm được: 40 cái x 800w x (9-7)h = 64.000w Mỗi tháng sẽ tiết kiệm được: 26 ngày x 64.000w = 1.664Kw. Còn những lúc trời mát, chỉ cần dùng quạt và không khí tự nhiên đối lưu, chỉ bật ĐHKK khi oi bức, lượng điện tiết kiệm càng lớn hơn nhiều. 16
  18. c. Hệ thống máy tính: Toàn bộ số lượng máy tính sử dụng trong toà nhà khoảng 70 chiếc, chủ yếu là loại để bàn và đều không phải loại tiết kiệm điện năng nên công suất tiêu thụ khá cao nếu bật máy liên tục. Chưa kể nhiệt do nó phát ra lại làm cho ĐHKK phải tăng cường hoạt động. Để tiết kiệm, Công ty đã chú trọng biện pháp nhắc nhở, tuyên truyền người dùng nâng cao ý thức tiết kiệm năng lượng: nếu máy không dùng quá 15 phút, phải đặt máy ở chế độ “Stand by”, “Sleep”, nếu hơn 30 phút nên tắt máy bằng “Shut down”. Nhờ vậy lượng tiêu thụ ở khâu này giảm được khá nhiều vì nhiều người vẫn có thói quen cứ để máy bật rất lâu mà không sử dụng. d. Máy phôtô, bình nước nóng, lạnh... Máy phôtô cũng là máy tiêu thụ khá nhiều năng lượng nếu cứ bật máy chờ liên tục và nhiệt lượng do nó phát ra cũng đáng kể, nhất là khi trời nóng. Do vậy các Công ty đã thực hiện dùng xong tắt máy, khi nào cần thì bật trước 2 phút. Hệ thống làm nước nóng, lạnh cũng được rút ra khỏi ổ cắm khi về, không để qua đêm như trước nên giảm bớt điện năng tiêu thụ. e. Cắt tất cả nguồn điện sau khi ra về: Toàn bộ hệ thống điện được cấp bởi các aptômat tổng, sau đó tách ra các aptômat chung cho các tầng. Từng phòng lại có các aptomat riêng biệt. Do vậy vừa bảo vệ cho hệ thống tránh quá tải hay ngắn mạch và cắt nguồn điện riêng rẽ từng phòng khi không làm việc rất dễ dàng. Ngoài ra còn Công ty ESC còn trang bị thêm công tơ cho từng phòng để các Công ty dễ theo dõi và điều chỉnh lượng điện tiêu thụ. d. Cải tạo lại hệ thống cấp, thoát nước. Để cung cấp nước cho toàn bộ toà nhà, Công ty dùng một bơm một pha để bơm nước lên bể nước trên tầng thượng. Tuy nhiên do công suất động cơ bơm không phù hợp với tiết diện đường ống nên bơm thường bị làm việc non tải và hay bị E nên rất hay cháy bơm. Công ty đã thay bơm một pha bằng bơm 3 pha có công suất nhỏ hơn nhưng phù hợp với đường ống cấp nước để tránh động cơ bơm làm việc non tải. Kết quả tiết kiệm điện năng tiêu thụ và tuổi thọ của bơm. 4. Đánh giá kết quả Sau một thời gian áp dụng các giải pháp tiết kiệm điện như trên, lượng điện tiêu thụ tại các Công ty đã giảm xuống. (Đây là các số liệu đóng tiền điện của các Công ty hàng tháng, ở đây không tính luỹ tiến mà tính bình quân là 1.955đ/kw). Xem các bảng sau: Bảng1: Tình hình tiêu thụ điện của các Công ty trong các tháng từ 4-7/2007. Bảng 2: Tình hình tiêu thụ điện của các Công ty trong các tháng từ 8-11/2007. Bảng 3: Đánh giá mức độ tiết kiệm điện của các Công ty từ tháng 8-11/2007 so với tháng 4-7/2007. 17
  19. Theo đánh giá của chúng tôi và theo kết quả theo dõi tình hình tiêu thụ điện trong mấy tháng qua, chúng tôi nhận thấy: mặc dù mới áp dụng các giải pháp đơn giản chưa phải đầu tư gì nhiều, lượng điện tiêu thụ của các Công ty đã giảm được từ 8,6-35,9%. Tất nhiên đây chỉ là cách tính tương đối vì phụ thuộc vào thời tiết, vào mức độ hoạt động của từng Công ty ở từng giai đoạn, nhưng tựu trung lại, theo bình quân lượng điện tiêu thụ chung đã giảm được 21,5%. Nếu có điều kiện áp dụng các giải pháp khác (như thay các thiết bị cũ đang dùng bằng các thiết bị mới tiết kiệm năng lượng, ý thức của người dùng điện được nâng cao hơn nữa...) chắc chắn hiệu quả còn cao hơn khá nhiều. IV. KHU VỰC SẢN XUẤT: II.1 Khảo sát tình hình tiêu thụ điện Công ty ESC có 2 phân xưởng mới xây với diện tích mặt bằng 600m2 và 800m2. Do đặc thù và quy mô hoạt động của Công ty ESC còn nhỏ, năng lực sản xuất còn thấp... nên để sử dụng có hiệu quả, Công ty đã cho một số Công ty thuê lại để sản xuất. Ngoài ra còn một số dẫy nhà cấp 4 cũng được các Công ty thuê và cải tạo thành nhà xưởng. Các công ty này chủ yếu là các Công ty TNHH có quy mô nhỏ, lĩnh vực hoạt động chủ yếu là cơ khí nên trang bị khá nhiều máy móc, thiết bị nhưng công suất không lớn, thiết bị cũ, nặng nề, lạc hậu. Tình hình hoạt động cụ thể của các Công ty như sau: 1, Công ty cơ khí Thăng long: Tổng công suất máy móc thiết bị: 35,2kW. Công suất chiếu sáng: 2kW. 2, Công ty Đức Dương: - Tổng công suất máy móc, thiết bị: 13,3 kW. - Công suất chiếu sáng: 2kW. 3, Xưởng Cơ khí Bách khoa: - Tổng công suất máy móc, thiết bị: 13,3 kW. - Công suất chiếu sáng: 2kW. 4, Xưởng ép cao su Hoàng Thanh Thuỷ: - Tổng công suất máy móc, thiết bị: 68,3 kW. - Công suất chiếu sáng: 2kW. 5, Công ty Duy Linh: - Tổng công suất máy móc, thiết bị: 88,5 kW. - Công suất chiếu sáng: 3kW. 6, Công ty THT: - Tổng công suất máy móc, thiết bị: 32,5 kW. - Công suất chiếu sáng: 2kW. 7, Công ty Cơ khí Tân Việt: - Tổng công suất máy móc, thiết bị: 28,7 kW. - Công suất chiếu sáng: 2kW. Ngoài ra cũng còn một số Công ty hoặc các hộ tiêu thụ khác nhưng thiết bị tiêu thụ điện đơn giản, công suất nhỏ, chúng tôi không đề cập tới. 18
  20. II.2 Mức tiêu thụ điện Qua một thời gian theo dõi và khảo sát tình hình sử dụng điện tại các Công ty này từ tháng 3 đến tháng 6/2007, mức độ tiêu thụ điện cụ thể như sau: TT Tên Công ty Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Bình quân (kW) (kW) (kW) (kW) 1 CT Cơ khí Thăng long 1.888 1.794 2.015 1.899 2 Công ty Đức Dương 2.667 3.984 3.664 3.438 3 CT Cơ khí Bách khoa 1.353 1.303 1.421 1.359 4 Công ty Duy Linh 4.375 6.102 4.379 4.952 5 Công ty THT 1.585 1.430 1.630 1.548 6 CT Cơ khí Tân Việt 180 220 420 273 7 Công ty Thành Đạt 694 691 413 599 8 CT Hoàng Thanh Thuý 16.207 13.449 10.617 13.624 Tổng 28.949 28.973 24.559 27.692 Với đơn giá điện hiện nay là 1.150đ/kw, số tiền mà các Công ty phải trả là: TT Tên Công ty Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Bình quân (1000đ) (1000đ) (1000đ) (1000đ) 1 CT Cơ khí Thăng long 2.171 2.270 2.317 2.184 2 Công ty Đức Dương 3.067 4.478 4.214 3.954 3 CT Cơ khí Bách khoa 1.556 1.498 1.634 1.563 4 Công ty Duy Linh 5.031 7.017 1.585 5.695 5 Công ty THT 1.823 1.644 1.875 1.780 6 CT Cơ khí Tân Việt 207 253 483 314 7 Công ty Thành Đạt 798 795 475 689 8 CT Hoàng Thanh Thuý 18.638 15.466 12.209 15.667 Tổng 33.291 33.319 28.243 31.846 II.3 Đánh giá mức độ tiêu thụ điện Mức độ tiêu thụ điện ở khu Trung văn khá cao so với năng lực sản xuất do các nguyên nhân sau: - Các Công ty chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực chế tạo cơ khí, thiết bị tiêu thụ điện chủ yếu là cơ khí thuộc thế hệ cũ nên hệ thống máy móc đều là các máy cũ, lạc hậu; các khâu cơ khí đều cũ kỹ, chắp vá thiếu đồng bộ, hệ thống điều khiển đơn giản, thô sơ... - Trình độ tay nghề cũng như ý thức của người lao động về việc tiết kiệm điện chưa cao: chưa tắt đèn, quạt khi không cần dùng, động cơ nhiều khi chạy không tải hoặc non tải... Ngoài ra một phần còn do các nguyên nhân sau: 19
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2