intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Quyền bình đẳng của phụ nữ theo công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và luật bình đẳng giới ở Việt Nam - Một số kinh nghiệm nước ngoài

Chia sẻ: Trí Mẫn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:115

10
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn nghiên cứu những lý luận cơ bản về quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW, lý luận và thực tế về quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam hiện nay; tập trung phân tích và làm rõ những vấn đề pháp lý về quyền bình đẳng của phụ nữ, đồng thời cũng phân tích và đánh giá thực trạng về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, những thành quả đạt được và những vướng mắc cần giải quyết. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Quyền bình đẳng của phụ nữ theo công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và luật bình đẳng giới ở Việt Nam - Một số kinh nghiệm nước ngoài

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Công trình đƣợc hoàn thành KHOA LUẬT tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Phƣớc Hiệp QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ THEO CÔNG ƯỚC VỀ XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ Phản biện 1: VÀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM. MỘT SỐ KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀi Chuyên ngành : Luật quốc tế Phản biện 2: Mã số : 60 38 60 Luận văn đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2012. Có thể tìm hiểu luận văn HÀ NỘI - 2012 tại Trung tâm thông tin - Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tƣ liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội 1 2
  2. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG 7 CỦA PHỤ NỮ THEO CÔNG ƢỚC CEDAW VÀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI 1.1. Vị trí của Công ước CEDAW trong Luật quốc tế về quyền 7 con người 1.1.1. Sự hình thành và phát triển của Công ước CEDAW 7 1.1.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong nội dung cơ bản của Công 8 ước CEDAW 1.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam 13 1.2.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trước khi có Luật Bình đẳng giới 13 1.2.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của Luật Bình 16 đẳng giới 1.3. Mối quan hệ giữa Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới 23 1.3.1. Tác động qua lại giữa các quy định của Công ước CEDAW 23 và Luật bình đẳng giới về quyền bình đẳng của phụ nữ 1.3.2. Vấn đề nội luật hoá các quy định của Công ước CEDAW về 24 quyền bình đẳng của phụ nữ vào Luật bình đẳng giới 1.3.3. Tiêu chí quốc tế và quốc gia về quyền bình đẳng của phụ nữ 29 trong CEDAW và Luật bình đẳng giới 1.4. Điều chỉnh pháp lý quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực 34 Dân sự - Chính trị theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới 4
  3. 1.4.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị, công 34 cộng theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới 1.4.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong các vấn đề dân sự - pháp 39 lý theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới 1.4.3. Quy chế quốc gia và quốc tế bảo đảm thực hiện quyền bình 41 đẳng trong lĩnh vực dân sự - chính trị theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới 1.5. Điều chỉnh pháp lý quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh 44 vực Kinh tế - xã hội và văn hoá theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới 1.5.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, 44 việc làm theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới 1.5.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong các vấn đề về y tế, giáo 49 dục, đào tạo 1.5.3. Quy chế quốc gia và quốc tế bảo đảm thực hiện quyền bình 52 đẳng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và văn hoá theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới Chương 2: THỰC TRẠNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ 57 VIỆT NAM QUA QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC CEDAW VÀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI 2.1. Đánh giá chung về tình hình thực hiện Công ước CEDAW và 57 Luật Bình đẳng giới 2.1.1. Những kết quả đạt trong khi thực hiện Công ước CEDAW và 57 Luật Bình đẳng giới 2.1.2. Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Công 60 ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới 2.1.3. Một số nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc trong quá 61 trình thực hiện Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới 2.2. Thực tiễn về bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ 68 theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới 5
  4. 2.2.1. Về xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật 69 2.2.2. Về bộ máy nhà nước có thẩm quyền bảo đảm thực hiện quyền 77 bình đẳng của phụ nữ Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP 79 LUẬT VIỆT NAM ĐỂ ĐẢM BẢO TỐT HƠN QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 3.1. Hội nhập quốc tế và những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo 79 đảm quyền bình đẳng của phụ nữ 3.2. Kinh nghiệm của một số nước làm bài học thực tiễn cho Việt 82 Nam trong bảo đảm thực thi quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW 3.2.1. Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị - xã hội 83 3.2.2. Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm 85 3.2.3. Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá, giáo 91 dục, y tế 3.2.4. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế 93 3.3. Một số kiến nghị 94 3.3.1. Phương hướng chung 94 3.3.2. Một số giải pháp cụ thể 97 KẾT LUẬN 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 6
  5. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong xu thế phát triển của thời đại, quyền của người phụ nữ cũng vì thế ngày càng được xã hội quan tâm. Một loạt các tuyên ngôn, công ước về quyền của phụ nữ đã có những nhận thức của xã hội về vai trò của giới nữ trong đời sống hiện nay. Bản thân giới nữ ngày càng khẳng định được vai trò của mình trên các mặt của cuộc sống. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xóa bỏ những bất bình đẳng giữa hai giới đã và đang tồn tại như một tất yếu hiện nay. Bình đẳng giới được thừa nhận đồng nghĩa với việc giới nữ tiến thêm được một bước vững chắc trong quá trình khẳng định vị trí, vai trò của mình ở mọi mặt của cuộc sống, đồng thời cũng tạo ra những động lực mạnh mẽ thúc đẩy giới nữ phát huy hơn nữa năng lực của bản thân, từng bước tiến tới mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn ranh giới phân biệt đối xử. Bình đẳng giới bảo đảm cho nam, nữ đều có cơ hội đóng góp công sức vào sự nghiệp phát triển địa phương, đất nước; xây dựng một xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; làm tròn trách nhiệm đối với gia đình và được thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển một cách thực chất. Trên bình diện quốc tế, bình đẳng giới đã trở thành một trong tám mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của toàn cầu và là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập của mỗi quốc gia. Trong xu thế phát triển đó, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (sau đây gọi tắt là Công ước CEDAW) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979 theo Nghị quyết số 34/180. Được đánh giá là văn bản pháp lí quốc tế đầu tiên khẳng định nguyên tắc không chấp nhận sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới tính tương đối triệt để, Công ước CEDAW có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và là cơ sở pháp lí quan trọng trong quá trình đấu tranh giải phóng phụ nữ và thực hiện 7
  6. quyền bình đẳng của phụ nữ ở các quốc gia trên thế giới. Ngày 27/11/1981, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước CEDAW và trở thành thành viên thứ 35 của Công ước này. Việc phê chuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước CEDAW có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển pháp luật về quyền con người, đối với việc tạo dựng hành lang pháp lí quan trọng cho việc bảo đảm các quyền bình đẳng của phụ nữ, đồng thời là yếu tố quốc tế thúc đẩy việc xây dựng cơ chế quốc gia về bảo vệ, phát triển các quyền của phụ nữ, góp phần xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển phụ nữ tại Việt Nam. Ngay từ khi mới ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi "nam, nữ bình quyền" là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. Khi cách mạng thành công, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng quy định quyền bình đẳng về mọi mặt giữa nam, nữ, trở thành nguyên tắc quan trọng trong nhiều lĩnh vực pháp luật. Trong thực tế mấy chục năm qua, vấn đề bình đẳng nam, nữ luôn được quán triệt trong các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước xu thế hội nhập toàn cầu, để phát huy nhân tố con người đồng thời phát huy hơn nữa vị trí, vai trò của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, khắc phục những bất cập trong xây dựng, thực hiện pháp luật hiện hành nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngày 21/11/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Bình đẳng giới. Luật Bình đẳng giới ra đời đã đánh dấu một mốc son, đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình đấu tranh thực hiện nam, nữ bình quyền, đồng thời nó làm cho hệ thống pháp luật nước ta hội nhập sâu sắc hơn với các hệ thống pháp luật tiến bộ trên thế giới. Luật là sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ. Luật cung cấp một cơ sở pháp lý quan trọng trong cuộc đấu tranh xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, đem lại sự công bằng về quyền lợi lớn lao cho phụ nữ trên nhiều phương diện: Chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. 8
  7. Trải qua hơn 28 năm thực hiện Công ước CEDAW và 4 năm áp dụng Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam, quyền bình đẳng thực chất của phụ nữ ngày càng được bảo đảm hơn. Nhận thức xã hội về bình đẳng giới đã có sự cải thiện. Chúng ta đã từng bước khắc phục tệ phân biệt đối xử với phụ nữ từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng việc thực hiện Công ước CEDAW cũng như Luật Bình đẳng giới ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong đó, không thể không kể đến một thực tế trong pháp luật Việt Nam là các chính sách, tuy ban hành nhiều nhưng chưa đồng bộ, một số chưa được thực hiện nghiêm túc, nhiều chính sách chưa đi vào cuộc sống. Trong khi đó, cùng với việc tăng trưởng kinh tế, luôn có nguy cơ gia tăng khoảng cách giới. Kết quả chúng ta đạt được còn chưa bền vững, còn có những mặt ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ em. Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: "Quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam. Một số kinh nghiệm nước ngoài" đã được chọn để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ. 2. Tình hình nghiên cứu Từ trước khi có Luật bì nh đẳng giới cho đến nay , đã có nhiều tác giả viết về vấn đề bì nh đẳng giới, đặc biệt là vấn đề đảm bảo quyền của phụ nữ và nâng cao nhận thức về phụ nữ theo pháp luật như GS .TS Hoàng Văn Hảo viết về quyền phụ nữ trong pháp luật Việt Nam, TS. Chu Hồng Thanh viết về Luật quốc tế về quyền con người , Hồ Chí Minh và sự nghiệp giải phóng phụ nữ , nhiều bài viết, hội thảo về vấn đề bình đẳng giới. Tuy nhiên, sau khi Luật bình đẳng giới có hiệu lực (01/07/2007), vấn đề thực thi luật như thế nào đang là vấn đề cần nghiên cứu. Trên thực tế nhiều quy định trong luật chưa đi vào cuộc sống, một số chính sách chỉ là các khuyến nghị mà chưa có cơ chế thực 9
  8. thi. Do đó, cần phải có các giải pháp cụ thể để luật đi vào cuộc sống, đảm bảo các cam kết Việt Nam là thành viên của Công ước này. Trước những yêu cầu mới : hội nhập quốc tế , tham gia vào quá trì nh toàn cầu hóa, đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm làm nổi bật thực trạng pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ ởnước ta hiện nay, vấn đề thực thi Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi sự phân biệ t đối xử với phụ nữ , trên cơ sở đó kiến nghị những giải pháp cho việc đảm bảo quyền bì nh đẳng giới trong thời gian tới. 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn Luận văn nghiên cứu những lý luận cơ bản về quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW, lý luận và thực tế về quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam hiện nay; tập trung phân tích và làm rõ những vấn đề pháp lý về quyền bình đẳng của phụ nữ, đồng thời cũng phân tích và đánh giá thực trạng về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, những thành quả đạt được và những vướng mắc cần giải quyết. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là các quy định của Công ước CEDAW và vấn đề nội luật hóa của quy định của Công ước đó vào Luật Bình đẳng giới về quyền bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực: chính trị, kinh tế - xã hội, lao động, giáo dục..Vấn đề bình đẳng giới được quy định trong Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới tương đối rộng. Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích và làm rõ những vấn đề pháp lý về quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới. Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ được ghi nhận tại Luật Bình đẳng giới để thấy được kết quả nội luật hóa Công ước CEDAW vào hệ thống pháp luật Việt Nam. Luận văn cũng tập trung nghiên cứu việc thực hiện Luật Bình đẳng giới để đảm bảo quyền bình đẳng của phụ 10
  9. nữ trên thực tiễn. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp phương pháp luận của chủ nghĩ a duy vật biện chứ ng và duy vật lị ch sử , sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh kết hợp với phân tí ch , tổng hợp, thống kê, khái quát hóa để làm sáng tỏ những nội dung và mục đích của đề tài. 6. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn có ý nghĩa cả về mặt lý luận và th ực tiễn. Luận văn đã phân tích, đánh giá và nêu bật lên quan niệm đúng đắn về quyền bì nh đẳng của phụ nữ, vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền bì nh đẳng của phụ nữ , thực trạng pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ ở nước ta hiện nay , để từ đó kiến nghị những phương hướng cơ bản và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong điều kiện hiện nay. Luận văn có những đóng góp chí nh sau: Luận văn góp phần làm sáng tỏ và bổ sung thêm các vấn đề lý luận và thực tiễn trong vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm sáng tỏ các quyền bình đẳng của phụ nữ cũng như các tác động của xã hội tới sự bảo vệ, chăm lo quyền lợi của phụ nữ. Phân tích, đánh giá thực trạng các qui định pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay , những thành quả đạt được và những tồn tại , vướng mắc cần giải quyết. Qua đó, đề xuất phương hướng, giải pháp có khả năng thực thi nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời gian tới. Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc thực hiện Công ước CEDAW, từ đó đưa ra những giải pháp áp dụng đối với Việt Nam. 11
  10. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quyền của phụ nữ theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới. Chương 2: Thực tiễn quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW và Luật Bình giới tại Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam để đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong hội nhập quốc tế. 12
  11. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ THEO CÔNG ƢỚC CEDAW VÀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI 1.1. Vị trí của Công ƣớc CEDAW trong Luật quốc tế về quyền con ngƣời 1.1.1. Sự hình thành và phát triển của Công ước CEDAW Trong thế giới hiện đại, xu thế phát triển của Luật quốc tế về quyền con người đang ngày càng tăng cường và mở rộng phạm vi các quyền bình đẳng của phụ nữ. Một loạt các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966… đều dựa trên cơ sở đề cao sự bình đẳng về nhân phẩm và các quyền cho phụ nữ. Trong điều kiện như vậy, Công ước CEDAW được xây dựng nhằm bảo vệ ở phạm vi rộng lớn các quyền của phụ nữ, trước hết là bảo đảm cho phụ nữ được sống an toàn, tự do, phát triển bền vững, với việc đặc biệt nhấn mạnh bảo đảm sự bình đẳng đối với phụ nữ trong hưởng thụ các quyền cơ bản của con người. Công ước CEDAW 1979 chiếm một vị trí rất quan trọng. Theo Nghị quyết số 34/180 ngày 18/12/1979, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua CEDAW và ngày 3 tháng 9 năm 1981, Công ước đã chính thức có hiệu lực. Tính đến nay đã có 185 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc. Công ước chính thức có hiệu lực với Việt Nam ngày 19 tháng 3 năm 1982. Sự ra đời của Công ước CEDAW xuất phát từ nhận thức quan trọng của cộng đồng quốc tế về quyền con người, đó là bình đẳng trở thành thước đo giá trị phẩm giá và quyền cơ bản của con người trong xã hội. Sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại tiến bộ vì một xã hội công bằng, dân chủ, nhân đạo và văn minh. Công ước CEDAW được coi là một dấu mốc lịch 13
  12. sử quan trọng trên con đường đấu tranh giải phóng một nửa nhân loại, xóa bỏ một trong ba bất bình đẳng lớn nhất của thế kỷ XX là bất bình đẳng về giới. Đây là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện nhất từ trước đến nay nhằm xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, bảo đảm quyền bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội: dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Công ước CEDAW là cơ sở pháp lý quan trọng cho các chương trình hoạt động của các nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, của bản thân phụ nữ nhằm bảo đảm nhân cách, phẩm giá, các quyền con người cơ bản, quyền bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ, cải thiện và nâng cao địa vị của người phụ nữ trong xã hội hiện đại. 1.1.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong nội dung cơ bản của Công ước CEDAW Là điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực quyền con người, ngoài Lời nói đầu, Công ước CEDAW chia thành sáu phần với 30 điều. Lời nói đầu đề cập đến cơ sở pháp lý, tính chất bức thiết của việc soạn thảo, ban hành Công ước CEDAW, ý nghĩa của Công ước CEDAW đối với việc bảo đảm các quyền của phụ nữ. Phần I đề cập đến khái niệm « phân biệt đối xử » và cam kết của các nước thành viên trong việc bảo đảm các quyền bình đẳng và các cơ hội phát triển cho phụ nữ. Phần II đề cập đến các quyền của phụ nữ trên lĩnh vực chính trị. Phần III đề cập đến các quyền của phụ nữ trên lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa. Phần IV đề cập đến các quyền của phụ nữ trong lĩnh vực dân sự. Hai phần cuối, phần V và phần VI đề cập đến vấn đề thi hành và hiệu lực của Công ước CEDAW. Ngoài ra, theo Nghị quyết A/54/4 ngày 6 tháng 10 năm 1999, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị định thư không bắt buộc của Công ước CEDAW về Ủy ban xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ để xem xét các kháng thư của cá nhân và nhóm cá nhân khiếu nại về việc quyền lợi của họ hoặc của người do họ đại diện bị quốc gia thành viên vi phạm. Nghị định 14
  13. thư này chính thức có hiệu lực từ ngày 22 tháng 12 năm 2000. Đến tháng 9 năm 2005, Nghị định thư đã có 72 quốc gia tham gia và Việt Nam chưa gia nhập Nghị định thư này. Về tổng thể, Công ước CEDAW là một trong số những điều ước quốc tế quan trọng nhất thuộc hệ thống điều ước quốc tế đa phương được kí kết trong lĩnh vực nhân quyền. Nội dung cơ bản của Công ước CEDAW là hướng vào những cách thức, biện pháp nhằm loại trừ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong thụ hưởng các quyền con người cơ bản đã được xác định bởi các điều ước quốc tế về nhân quyền khác. Với tính chất này thì thực chất Công ước CEDAW nhằm trao cho phụ nữ trên toàn thế giới những quyền con người đã được Luật Quốc tế và luật quốc gia ghi nhận nhưng phụ nữ chưa được hưởng hoặc chưa được hưởng một cách đầy đủ trên thực tế, bởi sự phân biệt đối xử với phụ nữ ở các quốc gia. Ngoài ra, khác với các điều ước quốc tế về quyền con người khác, trong đó vấn đề bình đẳng giới được qui định chung, Công ước CEDAW đã chỉ ra cụ thể những lĩnh vực hiện đang tồn tại sự phân biệt đối xử với phụ nữ một cách nặng nề để từ đó xác định những biện pháp thích hợp, nhằm loại bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Nói cách khác, đây là loại hình công ước quốc tế chuyên biệt về chống phân biệt đối xử với phụ nữ, hướng đến mục tiêu xác lập thực tế địa vị bình đẳng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nội dung quan trọng đầu tiên phải kể đến trong Công ước CEDAW là khái niệm "phân biệt đối xử với phụ nữ". Điều 1 Công ước CEDAW định nghĩa sự phân biệt đối xử với phụ nữ là: " … bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính, có tác động hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hay vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người trên tất cả các lĩnh vực" [20]. Đối chiếu với cách tiếp cận trong các văn kiện nhân quyền quốc tế trước đó, có thể thấy rằng Công ước CEDAW đã đưa 15
  14. ra một định nghĩa cụ thể và đầy đủ. Nếu như trong bộ luật nhân quyền quốc tế mới chỉ đề cập đến khái niệm này ở dạng khái quát là những hành vi phân biệt đối xử về mặt giới tính thì trong Công ước CEDAW, khái niệm này đã được đề cập một cách hết sức chi tiết. Định nghĩa trên đã được sử dụng một cách thường xuyên và rộng rãi trong tất cả các Điều khoản tiếp theo của Công ước CEDAW cũng như được coi là cách hiểu thống nhất khi đề cập đến vấn đề nhân quyền của phụ nữ sau này. Đây có thể coi là một đóng góp có ý nghĩa đầu tiên của Công ước CEDAW với sự nghiệp đấu tranh vì các quyền phụ nữ trên thế giới bởi lẽ thực chất của việc bảo đảm các quyền con người cho phụ nữ chính là việc xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Các quyền bình đẳng của phụ nữ là nội dung trọng tâm của Công ước CEDAW và được đề cập trong 14 điều khoản, từ điều 2 đến điều 16. Nếu như các văn kiện quốc tế về nhân quyền trước đó mới chỉ đề cập đến các quyền con người của phụ nữ ở mức độ khái quát hoặc dừng lại ở một vài khía cạnh riêng biệt thì trong Công ước này, lần đầu tiên các quyền của phụ nữ đã được đề cập một cách cụ thể và toàn diện nhất. Công ước CEDAW đã nêu ra một loạt những quyền con người của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực chính trị, Công ước đề cập đến những quyền chính trị cơ bản nhất của phụ nữ như quyền bầu cử, quyền tham gia bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý các công việc của đất nước, quyền tham gia các tổ chức xã hội… Trong lĩnh vực dân sự, Công ước CEDAW đã đề cập đến các quyền của phụ nữ trong vấn đề sở hữu, quản lý và thừa kế tài sản, trong các vấn đề kết hôn, ly hôn, các vấn đề liên quan đến tài sản và nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, Công ước CEDAW đã đề cập đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe, trong việc hưởng thụ, tham gia các hoạt động văn hóa giải trí, thể dục thể thao… Những qui định này cũng được xây dựng trên cơ sở khẳng định những nguyên tắc đã được đề cập trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa 1966 và các văn kiện khác, như Công ước 16
  15. về các quyền chính trị của phụ nữ 1952, Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn 1957, Công ước về kết hôn tự nguyện, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc đăng kí kết hôn… Nhiều nội dung trong Công ước CEDAW chưa từng được đề cập trong bất cứ một văn kiện quốc tế nào trước đó. Liên quan trực tiếp đến các quyền bình đẳng của phụ nữ, Công ước CEDAW còn đưa ra một sự nhìn nhận hết sức toàn diện về mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố truyền thống, văn hóa đối với việc tạo lập sự bình đẳng về giới. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi lẽ việc tạo lập vị thế bình đẳng về các quyền và địa vị cho phụ nữ chịu ảnh hưởng và phụ thuộc rất lớn vào việc xóa bỏ những tập tục truyền thống, các chuẩn mực xã hội và văn hóa có tính chất phân biệt đối xử đối với phụ nữ. Thông qua vấn đề này, Công ước CEDAW không chỉ cung cấp những nhận thức đúng đắn về ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, truyền thống đến các quyền con người của phụ nữ mà còn đưa ra một định hướng rõ ràng với những hành động cụ thể nhằm đối phó với vấn đề này mà biện pháp cơ bản là rà soát, sửa đổi và xóa bỏ những khuôn mẫu, chuẩn mực và tập quán có tính chất phân biệt đối xử về giới, trước hết là trong hệ thống pháp luật. Ngoài các nội dung đã nêu trên, Công ước CEDAW còn đề cập đến những vấn đề riêng biệt của phụ nữ, liên quan đến những đặc thù về giới tính, đó là các quyền của phụ nữ trong việc mang thai, sinh đẻ và nuôi con, vấn đề buôn bán và bóc lột tình dục… Đây là một vấn đề hết sức quan trọng không chỉ với phụ nữ mà còn với toàn thể loài người và đặc biệt, nó có quan hệ rất mật thiết đến các quyền trẻ em. Thêm vào đó, Công ước CEDAW còn đề cập đến vấn đề kế hoạch hóa gia đình. Sự đề cập này là rất xác đáng, bởi lẽ xuất phát từ đặc trưng về giới tính nên vấn đề kế hoạch hóa gia đình có liên quan hết sức mật thiết đến việc hưởng thụ các quyền con người, đặc biệt là các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của phụ nữ. Vấn đề này chưa từng được đề cập trong bất cứ văn kiện nhân quyền nào trước đó. 17
  16. Tuy nhiên, có một khía cạnh rất quan trọng liên quan đến chống bình đẳng của phụ nữ nhưng không được đề cập trong Công ước CEDAW, đó là vấn đề bạo lực trên cơ sở giới tính. Đây có thể coi là một hạn chế lớn nhất của Công ước CEDAW bởi lẽ bạo lực trên cơ sở giới tính là một vấn đề nổi cộm, diễn ra rất phổ biến và có tác động rất xấu đến việc hưởng thụ các quyền con người của phụ nữ. Lẽ ra, vấn đề này cần được đề cập một cách sâu rộng, làm nền tảng cho các điều khoản cơ bản của Công ước CEDAW. Song, sự khiếm khuyết này phần nào cũng đã được bổ sung trong Khuyến nghị số 19 của Ủy ban về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, thông qua tại kì họp lần thứ 11 năm 1992. Trong đoạn 6 của Khuyến nghị này nêu rõ: Bạo lực giới tính là hành vi nhằm gây áp lực hoặc nhằm điều khiển một người phụ nữ một cách không chính đáng. Nó bao gồm những hành hạ về thể chất, tinh thần hoặc gây tổn thương hay đau đớn về tình dục, việc đe dọa gây ra những hành động như vậy, sự cưỡng chế và tước đoạt các tự do khác... [21]. Đồng thời, Ủy ban về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ khẳng định rằng hành động bạo lực trên cơ sở giới tính chính là những hành động bạo lực chống lại các quyền con người cơ bản của phụ nữ mà đã được ghi nhận trong các văn kiện pháp lí quốc tế về nhân quyền, bất kể thủ phạm gây ra hành động đó là cá nhân hay quan chức chính phủ. Trong đoạn 24(t) của Khuyến nghị này, Ủy ban đã kêu gọi các quốc gia thành viên của Công ước tiến hành những biện pháp cần thiết để loại bỏ các hành động bạo lực trên cơ sở giới tính. Đặc biệt, vào năm 1993, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn về xóa bỏ những hành động bạo lực đối với phụ nữ. Tuyên ngôn này đặt ra những bước hành động và kêu gọi các quốc gia và cộng đồng quốc tế cần tiến hành để xóa bỏ tất cả các hình thức bạo lực với phụ nữ, bất kể những hành động đó diễn ra trong đời sống công cộng hay đời sống gia đình. 18
  17. Mặc dù còn những hạn chế nhất định, nhưng vẫn có thể khẳng định rằng, Công ước CEDAW đã đưa ra một tập hợp các quyền con người của phụ nữ một cách toàn diện và đầy đủ hơn bất kì một văn kiện pháp lý quốc tế nào trước đó. Chính điều này đã tạo ra sức mạnh cũng như tính thuyết phục rất cao của Công ước, làm cho Công ước CEDAW trở thành một văn kiện nhân quyền quốc tế quan trọng bậc nhất không chỉ trong lĩnh vực quyền phụ nữ mà còn trong lĩnh vực nhân quyền nói chung. 1.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam 1.2.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trước khi có Luật Bình đẳng giới Quyền của phụ nữ được quy định sớm trong các văn bản pháp luật Việt Nam. Sau khi giành được chính quyền nhà nước, Việt Nam đã ban hành những văn bản pháp luật về quyền công dân và quyền của phụ nữ. Tuy nhiên, do điều kiện, hoàn cảnh của đất nước có nhiều thay đổi, đặc biệt là Việt Nam đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nên ở mỗi thời kỳ, các quyền công dân nói riêng và quyền của phụ nữ nói riêng có sự thể hiện và phát triển vừa có tính kế thừa, vừa có sự đổi mới. Quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp. Cụ thể: Quyền của phụ nữ được thể hiện trong Hiến pháp 1946 quy định: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" [25, Điều 9]. Đây là quy định đầu tiên có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới được thành lập. Điều đó đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ trong lịch sử lập hiến của Việt Nam. Quy định đó đã thực sự phá tan xiềng xích tư tưởng "trọng nam- khinh nữ" của chế độ phong kiến, thực dân. Kế thừa tư tưởng đó, Hiến pháp năm 1959 đã cụ thể hóa hơn các lĩnh vực mà phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới. Quyền bình đẳng nam-nữ trong năm lĩnh vực, trải rộng từ xã hội đến gia đình, bao hàm tất cả các mặt của đời sống xã hội đều được đảm bảo. Đó là sự ghi nhận và trân trọng của toàn xã hội đối với vai trò của người phụ nữ. 19
  18. Theo Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 thì quyền của phụ nữ vừa được lồng vào các quyền cơ bản của công dân, vừa được quy định riêng nhằm tạo ra những điểm nhấn về nữ quyền. Bên cạnh việc xây dựng những quy định khác nhau nhằm đảm bảo quyền của phụ nữ thì điều khác biệt chính là về chất lượng của các quy định. Hiến pháp đã quy định quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp của phụ nữ; ghi nhận công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản...(Điều 64); "Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.. "(Điều 65). Các quy định của Hiến pháp năm 1992 là sự khẳng định lại những giá trị về nữ quyền đã được xác định và phát huy từ Hiến pháp 1980. Như vậy, ở giai đoạn này, các quyền của phụ nữ ngoài sự thể hiện trong các bản Hiến pháp, thì chưa có một đạo luật riêng nào quy định sâu sắc về quyền của phụ nữ. Các quyền của phụ nữ cơ bản được lồng vào các lĩnh vực khác nhau như chính sách tuyển dụng cán bộ, công chức, chính sách pháp luật lao động, chính sách an sinh xã hội, chế độ hôn nhân, gia đình...Các quyền của phụ nữ tập trung trong Hiến pháp với tư cách là những quyền cơ bản của công dân áp dụng đối với một số giới trong xã hội. Các văn bản pháp luật khác lại tiếp tục cụ thể hóa các quyền đó để mang tính thuyết phục như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật lao động. Việt Nam cũng tham gia nhiều công ước quốc tế quan trọng liên quan đến quyền của phụ nữ. Trong số đó Việt Nam đã phê chuẩn Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1981 (Công ước CEDAW); Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa năm 1982. Trong lĩnh vực lao động, Việt Nam đã phê chuẩn nhiều công ước quan trọng đảm bảo quyền của người lao động, trong đó có quyền của phụ nữ như: Công ước 20
  19. số 45 năm 1935 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về làm việc dưới mặt đất của phụ nữ; Công ước số 100 năm 1951 của ILO về bình đẳng trong trả công lao động; Công ước số 111 năm 1958 của ILO về phân biệt đối xử về việc làm, nghề nghiệp.. Việc Việt Nam tham gia các công ước quốc tế, trong đó có nội dung bảo vệ các quyền của phụ nữ là sự thể hiện quan điểm tiến bộ về nữ quyền của Nhà nước Việt Nam. Các quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ của Hiến pháp năm 1992 ngày càng được cụ thể hóa vào các văn pháp luật khác như: Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Quốc tịch năm 2008. Các đạo luật hoặc các văn bản pháp luật thể hiện quyền của công dân Việt Nam nói chung trong đó có quyền của phụ nữ Việt Nam. Như vậy, các quy định về quyền của phụ nữ ngày càng được chuyên biệt hóa, đã tạo điều kiện cho quá trình thực hiện hiệu quả, thuận lợi. Như vậy, quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật. Bình đẳng nam nữ là quyền quan trọng nhất được quy định trong hệ thống các quyền của phụ nữ. Thân phận người phụ nữ trong xã hội trước đây, trừ những bộ tộc giữ gìn truyền thống mẫu hệ, đều bị xem nhẹ và còn bị chà đạp thô bạo. Đối với những quốc gia phương Đông và những quốc gia kém phát triển khác trên thế giới, vị trí của người phụ nữ không được thừa nhận cả trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Quyền của người phụ nữ trong gia đình lệ thuộc vào người chồng, không được tham gia quản lý xã hội. Cách mạng tháng Tám đã mang lại quyền bình đẳng như quà tặng vô giá cho phụ nữ Việt Nam. Quy định "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" tại Điều 9 Hiến pháp năm 1946 là minh chứng đầy đủ và có ý nghĩa lớn về mặt pháp lí đối với quyền của phụ nữ ở Việt Nam. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định nguyên tắc bình đẳng như sau: "Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân 21
  20. tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau" [35]. Khoản 1 Điều 109 Bộ luật lao động quy định: "Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới" [29]. Điều 3 Công ước về các quyền dân sự, chính trị mà Việt Nam đã tham gia quy định: "Các quốc gia hội viên ký kết Công ước này cam kết bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành xử những quyền dân sự và chính trị ghi trong Công ước" [19]. Như vậy, các quy định của Việt Nam và quốc tế đều xác định bình đẳng là quyền quan trọng nhất, là gốc của các vấn đề về giới trong tương quan xã hội giữa nữ giới và nam giới. Sở dĩ như vậy là vì bình đẳng, với tư cách là giá trị nhân văn đồng thời là giá trị xã hội căn bản chính là cơ sở để có thể giúp cho nam, nữ có môi trường tin cậy để có thể thực hiện được các quyền khác. Với việc tham gia Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ từ năm 1980 và gần đây là thông qua hai đạo luật: Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, quyền của phụ nữ ngày càng được khẳng định và trân trọng. Điều đó cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với sự phát triển của phụ nữ trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 1.2.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của Luật Bình đẳng giới Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kì họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2007. Việc ban hành Luật Bình đẳng giới là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết, theo kịp xu hướng phát triển của thời đại trong xu hướng hội nhập. Ban hành Luật Bình đẳng giới nhằm đáp ứng nhu cầu cấp 22
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2