intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, từ thực tiễn Viện kiểm sát Nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

Chia sẻ: Cỏ Xanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:90

19
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát; nêu lên vai trò của Viện kiểm sát trong bảo đảm quyền con người trong mỗi giai đoạn tố tụng hình sự, để truy tố phải có điều tra, để xét xử phải xác định phạm vi truy tố.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, từ thực tiễn Viện kiểm sát Nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT MAI THANH TÙNG VAI TRß B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI CñA VIÖN KIÓM S¸T KHI THùC HµNH QUYÒN C¤NG Tè Vµ KIÓM S¸T HO¹T §éNG T¦ PH¸P TRONG GIAI §O¹N TRUY Tè, Tõ THùC TIÔN VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N HUYÖN NAM S¸CH, TØNH H¶I D¦¥NG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2020
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT MAI THANH TÙNG VAI TRß B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI CñA VIÖN KIÓM S¸T KHI THùC HµNH QUYÒN C¤NG Tè Vµ KIÓM S¸T HO¹T §éNG T¦ PH¸P TRONG GIAI §O¹N TRUY Tè, Tõ THùC TIÔN VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N HUYÖN NAM S¸CH, TØNH H¶I D¦¥NG Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 8380101.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG HÀ NỘI - 2020
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Mai Thanh Tùng
  4. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1: QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI .............................................................................. 9 1.1. Khái quát về quyền con người ........................................................... 9 1.2. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong đảm bảo quyền con người trong pháp luật Việt Nam ............................................... 13 Kết luận Chương 1 ........................................................................................ 22 Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ............................................ 24 2.1. Tình thình tội phạm ở huyện Nam Sách, và cơ cấu Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách ............................................... 24 2.1.1. Tình hình tội phạm ở huyện Nam Sách .............................................. 24 2.1.2. Cơ cấu của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách ....................... 30 2.2. Trách nhiệm bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, truy tố ................................................................. 32 2.3. Trách nhiệm bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử................................................................................... 63 Kết luận Chương 2 ........................................................................................ 71
  5. Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI...................................................................... 72 3.1. Tồn tại, hạn chế trong việc bảo vệ quyền con người ở giai đoạn truy tố và kiểm sát hoạt động xét xử của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách ............................................................... 72 3.2. Nguyên nhân của những tồn tại ....................................................... 73 3.3. Những giải pháp nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc đảm bảo quyền con người ....................................... 74 3.3.1. Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án hình sự ....................................................... 74 3.3.2. Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử................................................................. 78 Kết luận Chương 3 ........................................................................................ 80 KẾT LUẬN .................................................................................................... 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82
  6. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra HĐXX: Hội đồng xét xử TAND: Tòa án nhân dân TTHS: Tố tụng hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
  7. MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất trong nền văn hóa của nhân loại, được hình thành với sự đóng góp của tất cả các quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp và cá nhân con người trên thế giới. Kể từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập, quyền con người đã được quy định trong rất nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu được các quốc gia tôn trọng và thực hiện. Ở Việt Nam, trải qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh để giành lấy những quyền cơ bản của con người: được sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, được học hành, nhân phẩm được tôn trọng. Do đó, Nhà nước Việt Nam không chỉ khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người mà còn làm hết sức mình để đảm bảo và thực hiện quyền con người. Trong các lĩnh vực pháp luật, tố tụng hình sự là lĩnh vực rất nhạy cảm bởi mỗi một trình tự, thủ tục hay quyết định, hành vi trong tố tụng hình sự đều có khả năng xâm hại trực tiếp đến quyền con người. Do đó, hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự là một kênh rất quan trọng để bảo vệ quyền con người. Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự đã thông qua nhiều hình thức để bảo đảm quyền con người như: các nguyên tắc, các quy định quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng, bảo đảm quyền con người trong quy định về các biện pháp cưỡng chế, quy định quyền được bồi thường và phục hồi danh dự, quyền lợi. Do tính chất đặc biệt của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là được phát sinh từ việc thực hiện hành vi phạm tội, nên trong quy trình tố tụng, các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng phải làm hết trách nhiệm vừa thực hiện việc điều tra, truy tố, xét xử, vừa đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, 1
  8. người bị kết án bởi họ bị hạn chế một số quyền cơ bản của công dân như: Quyền tự do thân thể, tự do đi lại, quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền học tập, quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Do việc hạn chế các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trực tiếp ảnh hưởng đến với đời sống vật chất và tinh thần của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, vì thế để đảm bảo quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự, trong từng giai đoạn tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người phạm tội phải có các quyền tương xứng với thân phận pháp lý của họ theo quy định của pháp luật. Có thể hiểu một cách cơ bản: điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội và tùy từng vụ án với những chứng cứ thu thập được để Cơ quan điều tra ra một trong các quyết định giải quyết theo thẩm quyền, tuy nhiên phần lớn điều tra hướng tới mục đích cuối cùng là đề nghị Viện kiểm sát truy tố. Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điều tra và trong quá trình đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tài liệu của vụ án, Viện kiểm sát cũng ra một trong những quyết định giải quyết vụ án, tuy nhiên phần lớn là quyết định truy tố bị can làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Truy tố là chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã áp dụng; để loại trừ những hậu quả tiêu cực của các sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong hai giai đoạn tố tụng hình sự trước đó. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát thông qua bản cáo trạng thể hiện hoạt động chứng minh trên cơ sở các tài liệu của hồ sơ của vụ án (nhất là kết luận điều tra) tính chất lỗi của hành vi phạm tội, lỗi của bị cáo trong việc thực hiện tội phạm để góp phần có hiệu quả trong việc chuẩn bị cho giai đoạn xét xử của Tòa án, loại trừ những thiếu sót hoặc hậu quả tiêu cực tiếp theo có thể 2
  9. xảy ra do việc xét xử thiếu công minh, vô căn cứ và không đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan những người vô tội, tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong các giai đoạn trước khi xét xử tại Tòa án. Và Tòa án với chức năng quan trọng nhất là xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh trong phạm vi, mức độ mà Viện kiểm sát truy tố. Quy định giới hạn xét xử trong pháp luật tố tụng hình sự để đảm bảo tính xác định và định hướng cho hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử, đặc biệt là xác định giới hạn cho Toà án trong việc thực hiện quyền hạn của mình trong quá trình giải quyết vụ án. Là cơ quan thực hành quyền công tố và bằng quyết định truy tố của mình làm phát sinh hoạt động xét xử của Tòa án nên Viện kiểm sát có vị trí không thể thiếu trong giai đoạn xét xử hình sự. Là cơ quan buộc tội nên Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa để kiểm tra lại các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập, tranh tụng với bên gỡ tội. Quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát được thể hiện bằng bản Cáo trạng và Kiểm sát viên là người trực tiếp bảo vệ cáo trạng tại phiên tòa. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Kiểm sát viên cần nắm chắc toàn bộ tiến trình điều tra vụ án và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Việc chuẩn bị tốt cho việc tranh tụng tại phiên tòa có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên. Theo quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Tòa án không được xét xử bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát không truy tố; hoặc xét xử theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Nếu qua xét xử, Tòa án phát hiện còn có người khác phạm tội hoặc tội phạm khác của bị cáo chưa được truy tố thì Tòa án có thể ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm mới và giao cho Viện kiểm sát quyết định điều tra. Trong trường hợp Tòa án phát hiện bị cáo phạm tội danh nặng hơn thì Toà án ra 3
  10. quyết định điều tra bổ sung theo tội danh nặng hơn, đề nghị Viện kiểm sát thay đổi tội danh đã truy tố. Nếu Viện kiểm sát không đồng ý thay đổi tội danh và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án vẫn quyết định xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Quy định này là phù hợp với nguyên tắc độc lập khi xét xử, phù hợp với chức năng thực hiện quyền tư pháp của Toà án không phải theo hướng biến Toà án thành cơ quan buộc tội, lạm quyền bởi dù có được quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố thì cũng phải nằm trong nhóm tội danh phù hợp với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tòa án không được xử theo tội danh nặng hơn đối với một tội phạm, nhưng Tòa án có quyền xử theo khung hình phạt nặng hơn khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khi khung hình phạt đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án. Nếu qua xét xử Tòa án thấy cần đổi tội danh thì Hội đồng xét xử chỉ có thể đổi tội danh nhẹ hơn hoặc thay đổi tội danh có khung hình phạt tương đương với tội phạm đã bị truy tố. 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là giá trị chung của các dân tộc. Về lý luận cũng như trên thực tế, nhân quyền hay quyền cơ bản của con người là những quyền không thể thiếu để cá nhân có thể tồn tại và phát triển bình thường với tư cách là một thành viên của cộng đồng xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Hiện nay, có nhiều cách phân loại quyền con người nhưng chủ yếu là phân loại theo lĩnh vực đời sống xã hội và trong các lĩnh vực của đời sống, quyền con người được phân thành hai nhóm chính: nhóm các quyền kinh tế - văn hóa - xã hội và nhóm các quyền dân sự - chính trị. Quyền con người trong tố tụng hình sự là lĩnh vực chuyên biệt thuộc nhóm 4
  11. quyền dân sự - chính trị gắn với quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của mỗi cá nhân. Tố tụng hình sự là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật bao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Mỗi giai đoạn thực hiện một nhiệm vụ nhất định nhưng cùng hướng đến mục đích chung là giải quyết mọi vấn đề của vụ án hình sự. Tuy độc lập, nhưng mỗi giai đoạn vẫn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành một trình tự thống nhất; giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Mỗi giai đoạn tố tụng do một chủ thể thực hiện, nhưng các chủ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa phối hợp vừa kiểm soát lẫn nhau để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Hoạt động này trước hết sẽ bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trước sự xâm phạm của tội phạm. Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong hoạt động này, tính quyền lực hay sức mạnh cưỡng chế của nhà nước tạo nên sự bất bình đẳng cho các bên khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dẫn đến quyền con người trong tố tụng hình sự lại là quyền dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền sống; quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện…. Do đó, hoạt động tố tụng hình sự trong mọi quốc gia phải thận trọng và chú trọng việc bảo vệ quyền con người, cụ thể là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm một cách bất hợp pháp. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, từ thực tiễn Viện kiểm sát Nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình. 5
  12. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát Mục tiêu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát; nêu lên vai trò của Viện kiểm sát trong bảo đảm quyền con người trong mỗi giai đoạn tố tụng hình sự, để truy tố phải có điều tra, để xét xử phải xác định phạm vi truy tố. - Mục tiêu cụ thể Với mục đích nêu trên, việc thực hiện bảo đảm quyền con người trong giai đoạn truy tố với đối tượng chủ yếu đối với bị can khi phải chịu các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Việc tuân thủ mọi biện hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can; tạo cơ sở pháp lý để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án hình sự, chống sự tùy nghi, lạm dụng.... Qua đó để thấy được trách nhiệm vai trò của Viện kiểm sát trong bảo đảm quyền con người. Từ thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm quyền con người tại huyện Nam Sách để đưa ra được những nhận xét, đánh giá thiết thực nhất về hiệu quả của việc áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra những đề xuất, giải pháp để nâng cao hiệu quả pháp luật. 1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài Đề tài đưa ra những cơ sở lý luận và pháp lý liên quan đến việc đảm bảo quyền con người và vai trò của Viện kiểm sát trong bảo vệ quyền con người. Trên cơ sở phân tích thực tế, thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền con người từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách để từ đó có sự đánh giá một khách khách quan nhất hiệu quả của việc áp dụng pháp luật, đưa ra được những ưu điểm, mặt tích cực để tiếp tục phát huy, đồng thời chỉ ra những điểm hạn chế để khắc phục. 6
  13. Bên cạnh đó đánh giá được thực trạng và đề xuất phương hướng, nội dung hoàn thiện và nâng cao trách nhiệm bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Là những vấn đề về pháp luật có liên quan đến quyền con người và đảm bảo quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu những vấn đề xung quanh các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân và việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò đó của Viện kiểm sát trong việc bảo vệ quyền con người theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng các quy định đó trong thực tế các giai đoạn tố tụng nói chung và giai đoạn truy tố nói riêng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách. Chỉ ra những mặt tích cực, tồn tại, nguyên nhân của tồn tại và giải pháp để khắc phục, hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định đó trong thực tiễn. 2. Nội dung, phương pháp và địa điểm nghiên cứu 2.1. Nội dung nghiên cứu Kết cấu luận văn bao gồm các phần chính là mở đầu, nội dung và kết luận (có mục lục kèm theo). Trong đó, phần nội dung của luận văn được thể hiện qua ba chương với nội dung như sau: Chương 1. Quyền con người và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người. 7
  14. Chương 2. Thực trạng vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố. Chương 3. Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc đảm bảo quyền con người. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận, một số công trình nghiên cứu về vấn đề quyền con người và thực tiễn việc thực hiện nhiệm vụ, chức năng, vai trò của Viện kiểm sát đã góp phần cho việc đảm bảo quyền con người trong mỗi giai đoạn tố tụng hình sự, nhất là trong giai đoạn truy tố. 2.3. Địa điểm nghiên cứu Nam Sách là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương, có các điều kiện về địa lý, cơ sở hạ tầng để phục vụ cho việc phát triển kinh tế. Huyện Nam Sách nằm ở trung tâm của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, phía bắc giáp thành phố Chí Linh, phía đông giáp thị xã Kinh Môn và huyện Kim Thành, phía nam giáp thành phố Hải Dương, phía tây giáp huyện Cẩm Giàng và huyện Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh). Với điều kiện thuận lợi về địa lý, giao thông, giáp các khu vực có nền kinh tế phát triển, huyện Nam Sách có nhiều lợi thế để phát triển sản xuất kinh doanh, giao lưu thương mại, cải thiện điều kiện sống cho người dân nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội. 8
  15. Chương 1 QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 1.1. Khái quát về quyền con người Sâu thẳm trong tư duy và tâm hồn của nhân loại là niềm tin chắc chắn rằng mỗi người và tất cả mọi người đều có các quyền, trong đó có quyền tự do không bị áp bức, quyền tự do lựa chọn và không phải chịu những hành vi tàn bạo. Theo bản năng, hầu hết mọi người đều cảm nhận như vậy, ngay cả khi họ không tin là có thể dễ dàng giành được những quyền đó. Trong suốt chiều dài lịch sử, hầu hết các xã hội chỉ trao những quyền đó cho một số ít người may mắn. Châu Âu thế kỷ XVIII xuất hiện khái niệm “luật tự nhiên” - dựa trên một trật tự chung - trao những quyền đó cho tất cả mọi người. Triết lý đó có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, và những khái niệm trong Hiến pháp Mỹ, một văn kiện cho đến nay vẫn điều chỉnh mọi bộ luật của Mỹ. Tất cả các quốc gia văn minh đều nỗ lực xác định và ủng hộ nhân quyền. Ở đâu cũng vậy, cốt lõi của khái niệm này là giống nhau, đó là: nhân quyền là các quyền mà mỗi con người đều có đơn giản là vì họ là con người. Nhân quyền là của mọi người và bình đẳng cho mọi người. Nhân quyền cũng là những quyền bất khả xâm phạm. Các quyền này có thể bị trì hoãn - một cách chính đáng hay sai trái, ở nhiều nơi nhiều lúc - song ý tưởng về các quyền cố hữu không thể bị phủ nhận. Nếu mất đi những quyền này, con người sẽ không còn là con người nữa. Người đầu tiên được cho là đã phát triển một lý thuyết toàn diện về nhân quyền là triết gia người Anh John Locke (1632-1704). Locke cho rằng người dân hình thành nên các xã hội, các xã hội hình thành nên các chính phủ để đảm bảo quyền được hưởng các quyền “tự nhiên”. Locke định nghĩa chính 9
  16. phủ là một “khế ước xã hội” giữa kẻ cai trị và người bị trị. Ông cho rằng công dân chỉ có nghĩa vụ trung thành với những chính phủ bảo vệ các quyền của họ. Thậm chí những quyền này có thể được ưu tiên hơn so với những đòi hỏi và lợi ích khác của chính phủ. Tính hợp pháp của chính phủ chỉ có được nếu tôn trọng và bảo vệ một cách có hệ thống các quyền của công dân. Tuy nhiên, lý thuyết của Locke cũng có những hạn chế. Mặc dù cách viết của ông hàm ý các quyền này có tính phổ quát, nhưng thực ra ông không xét tới quyền của tất cả mọi người. Trọng tâm thực sự của ông là bảo vệ Luận của Locke khẳng định tầm quan trọng của cái tôi. Trong khi đó, phụ nữ, những người bản địa, người hầu, lao động được trả lương không được công nhận là những người được hưởng đầy đủ các quyền. Dù vậy, những tư tưởng của Locke và những người khác cùng thời với ông là một bước đột phá quan trọng. Khái niệm quyền con người ra đời muộn, gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản, nhưng những nội dung của quyền con người thì xuất hiện sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa. Các nhà nghiên cứu thường trích dẫn những bộ luật cổ ban hành qua các thời kỳ ở nhiều quốc gia, khu vực khác nhau để phân tích sự phát triển của tư tưởng nhân quyền trong lịch sử nhân loại. Bên cạnh đó, tư tưởng về quyền con người còn được phản ánh trong các học thuyết, ấn phẩm tôn giáo, chính trị và pháp lý của nhân loại từ xưa cho đến nay. Thực tiễn đã chứng minh những tư tưởng về quyền con người, cũng như những quy định trong pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền con người là sự đóng góp chung của mọi quốc gia, dân tộc, qua các thời kỳ phát triển của lịch sử. Mỗi bước tiến, nhân loại đều đánh dấu nấc thang mới trong nhận thức và việc thực hiện hóa các quyền con người, vì vậy, quyền con người phát triển không ngừng, gắn liền với các hình thái kinh tế - xã hội, với nền văn minh nhân loại. Như vậy, quyền con người vừa là sản phẩm của văn minh nhân loại, vừa là sản phẩm đấu tranh lâu dài của con người chống lại áp bức, bóc lột, làm chủ thiên nhiên và tự hoàn thiện chính mình. 10
  17. Ngày nay, những nguyên tắc và quy định của luật Nhân quyền quốc tế được coi là mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia. Ở hầu hết các nước, nội dung các công ước nhân quyền đã được nội luật hóa và từng bước tổ chức thực hiện bảo đảm quyền con người trên thực tế. Là giá trị chung nên tất cả các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa đều có quyền thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý đó. Có thể hiểu quyền là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. Dấu hiệu đặc trưng thứ nhất của quyền là phải có sự ghi nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; thứ hai là phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. Theo đó, quyền của cá nhân được phát sinh, tăng hay giảm tùy theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội. Đối với cá nhân, các quyền cơ bản phát sinh khi cá nhân sinh ra và có những quyền cụ thể khác phát sinh và ghi nhận khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn nhất định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định. Quyền phải gắn với phạm vi quyền, nghĩa vụ và năng lực của cá nhân và phải chịu tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật hay vùng lãnh thổ nhất định. Quyền của cá nhân chỉ bị tước bỏ bởi pháp luật, chấm dứt khi người đó chết. Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ quyền con người”, còn có thuật ngữ “nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh “human rights”, mà nếu dịch trực tiếp sang tiếng Việt là quyền con người; còn nếu dịch qua Hán - Việt là nhân quyền. Xét về mặt ngôn ngữ học, theo Đại Từ điển tiếng Việt, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa. 11
  18. Nhân quyền, ở góc độ khái quát nhất, theo Liên Hợp Quốc, có thể hiểu là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người. Tại Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là chăm lo cho con người, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt kể từ ngày Đảng ta ra đời, được thể hiện rõ từ trong Cương lĩnh chính trị năm 1930, Tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp đến các văn kiện của Đảng và pháp luật của Việt Nam.... Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013, quyền con người tiếp tục được khẳng định và bảo đảm, khái niệm “quyền con người” tiếp tục sử dụng với nội dung chính trị - pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của cá nhân con người. Hiến pháp năm 2013 có quy định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật [17, Điều 14, khoản 1]. Tiếp đến khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 có quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm [17, Điều 20, khoản 1]. 12
  19. Như vậy, lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam ghi nhận “Quyền con người”, điều này cho thấy không phải các bản Hiến pháp trước đó chúng ta không ghi nhận về “quyền con người” (nhân quyền) mà trước đây chúng ta chưa phân biệt rõ hai khái niệm “quyền con người” và “quyền công dân”, hay nói cách khách chúng ta đã đồng nhất hai khái niệm trên, cũng chính vì điều này mà chúng ta bị các thế lực thù địch xuyên tạc Nhà nước ta không quan tâm đến “quyền con người”, vi phạm nhân quyền. Lần ghi nhận này có ý nghĩa hết sức quan trọng một mặt chúng ta phân biệt rõ hai khái niệm “quyền con người” và “quyền công dân”, ghi nhận “quyền con người” đứng trước “quyền công dân” cũng có nghĩa là chúng ta ghi nhận “quyền con người” có nội hàm rộng hơn “quyền công dân”, “quyền công dân” là một bộ phận của quyền con người, đồng thời cũng ghi nhận từ trước đến nay chúng ta luôn thừa nhận quyền con người đã được cụ thể hóa trong quyền công dân mà các Hiến pháp trước đây đã công nhận, có điều chúng ta chưa tách bạch độc lập về hai khái niệm trên. 1.2. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong đảm bảo quyền con người trong pháp luật Việt Nam Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc Lệnh số 20-LCT công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và ngày này cũng chính là ngày thành lập Viện kiểm sát nhân dân. Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập trong cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước. Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo ngành dọc ở 4 cấp, gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (hiện có 3 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh); Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (hiện có 63 Viện kiểm sát nhân dân 13
  20. cấp tỉnh); Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hiện có 710 Viện kiểm sát cấp huyện tại 710 quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có các Viện kiểm sát quân sự, gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương; Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương; Viện kiểm sát quân sự khu vực. Toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp đặt dưới sự quản lý, chỉ đạo và điều hành của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các chức danh tư pháp trong Viện kiểm sát nhân dân gồm có: - Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp. Trong đó, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức với nhiệm kỳ 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn: Chỉ đạo, điều hành, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác, quyết định các vấn đề về công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp mình và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; báo cáo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao khi có yêu cầu; báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, theo sự phân công hoặc ủy quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp mình; chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp mình và trước pháp luật. 14
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2