intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Việt Nam với việc gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:119

4
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký kiểu dáng công nghiệp và các quy định của Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp; so sánh và tìm ra những điểm khác biệt cơ bản về đăng ký kiểu dáng công nghiệp theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và Văn kiện Geneva 1999 của Thỏa ước La-Hay; nghiên cứu, phân tích và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn khi Việt Nam gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Việt Nam với việc gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TRẦN ĐỨC THẮNG VIỆT NAM VỚI VIỆC GIA NHẬP THOẢ ƯỚC LA-HAY VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Luật Quốc tế Mã số: 60 38 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ NGỌC LÂM HÀ NỘI - 2013
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Trần Đức Thắng
  3. MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng, hình vẽ MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 Chương 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP ..................................................................5 1.1. Khái niệm chung về đăng ký kiểu dáng công nghiệp ...............................5 1.1.1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp .................................................................5 1.1.2. Vai trò của kiểu dáng công nghiệp trong hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ ..............9 1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký kiểu dáng công nghiệp ..........14 1.2.1. Đối tượng của kiểu dáng công nghiệp.........................................................14 1.2.2. Tiêu chuẩn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ..................................................16 1.2.3. Quyền nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp .........................................22 1.2.4. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên .......................................................................22 1.2.5. Tính thống nhất của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp ..........................24 1.2.6. Nguyên tắc ưu tiên ......................................................................................25 1.2.7. Thẩm định đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp .........................................27 1.2.8. Phí đăng ký kiểu dáng công nghiệp ............................................................37 1.2.9. Văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ....................................................39 1.2.10. Thời hạn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp .....................................................40 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA THỎA ƯỚC LA-HAY VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP .............................................45 2.1. Khái niệm chung về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ..................45 2.1.1. Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ........................................................45 2.1.2. Lợi ích của việc đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ..............................49 2.2. Quy định của Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ................................................................................................51
  4. 2.2.1. Hệ thống Thoả ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ................51 2.2.2. Quy định của Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp theo Văn kiện Geneva 1999 ............................................................58 Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG VIỆC GIA NHẬP THỎA ƯỚC LA-HAY VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP ..........................................................74 3.1. Yêu cầu gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp của Việt Nam ........................................................................74 3.1.1. Sự cần thiết gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp .................................................................................................74 3.1.2. Cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ................77 3.2. Những điểm khác biệt cơ bản về đăng ký kiểu dáng công nghiệp theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và Văn kiện Geneva 1999 của Thỏa ước La-Hay.........................................................81 3.2.1. Quyền nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp .........................................81 3.2.2. Hồ sơ đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp .................................................82 3.2.3. Yêu cầu về tính thống nhất của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp.................86 3.2.4. Phí và lệ phí .................................................................................................88 3.2.5. Ngày nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp ...........................................89 3.2.6. Trì hoãn công bố kiểu dáng công nghiệp ....................................................90 3.2.7. Thẩm định nội dung ....................................................................................92 3.2.8. Hiệu lực của Văn bằng bảo hộ ....................................................................93 3.2.9. Ngôn ngữ của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp ....................................95 3.3. Công tác chuẩn bị của Việt Nam khi gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ..............................................96 3.3.1. Những thách thức khi Việt Nam gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ...............................................................96 3.3.2. Công tác chuẩn bị khi Việt Nam gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ...............................................................98 KẾT LUẬN ............................................................................................................108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................109
  5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT WTO: World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới WIPO: World Intellectual Property Organization - Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới BIRPI: Uỷ ban quốc tế thống nhất về Bảo hộ Sở hữu trí tuệ - Tổ chức tiền thân của WIPO ARIPO: Cơ quan Sở hữu Trí tuệ Khu vực châu Phi tại các nước châu Phi nói tiếng Anh. OAPI: Tổ chức Sở hữu Trí tuệ châu Phi tại các nước châu phi nói tiếng Pháp. BDO: Cơ quan kiểu dáng Benelux tại các nước Bỉ, Hà Lan và Luxembourg. OHIM: Cơ quan Hài hòa hóa thị trường nội địa tại Liên minh châu Âu. EU: European Union - Liên minh châu Âu. ASEAN: Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. GATT 1994: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994. TRIPS: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Công ước Paris: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp ký ngày 20/3/1883 tại Paris, được xem xét lại tại Brussels năm 1900, tại Washington năm 1911, tại La-Hay năm 1925, tại London năm 1934, tại Lisbon năm 1958, tại Stockholm năm 1967 và được sửa đổi vào năm 1979. Thỏa ước La-Hay: Điều ước quốc tế về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp được ký kết trong khuôn khổ Công ước Paris vào ngày 6/11/1925 tại La-Hay và có hiệu lực từ ngày 1/6/1928. Văn kiện 1934: Văn kiện về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ký tại London ngày 2/6/1934 trong khuôn khổ của Thỏa ước La-Hay. Văn kiện 1960: Văn kiện về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ký tại La- Hay ngày 28/11/1960 trong khuôn khổ của Thỏa ước La-Hay.
  6. Văn kiện 1999: Văn kiện về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp ký tại Geneva ngày 2/7/1999 trong khuôn khổ của Thỏa ước La-Hay. Thỏa ước Locarno: Thỏa ước về phân loại kiểu dáng công nghiệp quốc tế được ký tại Locarno ngày 08/10/1968 và có hiệu lực từ ngày 27/4/1971. Quy chế: Quy chế thi hành Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp Luật sở hữu trí tuệ: Luật sở hữu trí tuệ của nước CHXHCN Việt Nam do Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2006, được sửa đổi ngày 19/6/2009. Nghị định 103/2006/NĐ-CP: Nghị định được Chính phủ ký ban hành ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Thông tư 01/2007/TT-BKHCN: Thông tư do Bộ Khoa học và Công nghệ ký ban hành ngày 14/2/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ. Thông tư này được sửa đổi, bổ sung bởi các Thông tư số 13/2010/TT- BKHCN ngày 30/7/2010, Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngày 22/7/2011 và Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN ngày 20/2/2013. SHTT: Sở hữu trí tuệ CHF: Đồng tiền France Thụy Sĩ.
  7. DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ Bảng 1.1. Biểu phí và lệ phí đăng ký kiểu dáng công nghiệp ................................38 Bảng 1.2. Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp đã được nộp từ 1988 đến 2012 .......... 42 Bảng 1.3. Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp đã được cấp từ 1989 đến 2012 .................................................................................................43 Bảng 2.1. Danh sách thành viên Hệ thống Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp tính đến tháng 10/2013 ........................71 Hình 1.1. Sơ đồ quy trình thẩm định đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp ...........28
  8. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời đại ngày nay, các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ rất đa dạng, phong phú và hoạt động trên phạm vi rộng không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia như: sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bản quyền tác giả... và có thể nói quyền sở hữu trí tuệ luôn có yếu tố nước ngoài. Quyền sở hữu trí tuệ nói chung cũng như quyền đối với kiểu dáng công nghiệp nói riêng muốn được bảo hộ ở nước ngoài phải được thực hiện thông qua các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương hoặc bảo hộ thông qua việc các quốc gia cùng chấp nhận nguyên tắc “có đi có lại”, trong đó vai trò của các điều ước quốc tế đa phương rất quan trọng. Kiểu dáng công nghiệp được đăng ký bảo hộ nhằm bảo vệ cho chủ sở hữu trong việc tiến hành các hoạt động thương mại liên quan đến sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp. Doanh nghiệp cần tiến hành bảo hộ kiểu dáng công nghiệp tại thị trường nước ngoài nơi dự định xuất khẩu sản phẩm nhằm ngăn chặn các hoạt động khai thác thương mại liên quan đến sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp từ phía các đối thủ cạnh tranh. Kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm được nhìn nhận như một yếu tố tương đồng với chất lượng và hình ảnh của doanh nghiệp kinh doanh, vì vậy việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở nước ngoài là phương tiện hữu hiệu và là cách quảng bá hiệu quả trong việc bảo vệ sản phẩm xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Thông thường, kiểu dáng công nghiệp chỉ có hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ quốc gia nơi kiểu dáng công nghiệp đó đăng ký. Việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở nước ngoài theo hệ thống quốc gia bị giới hạn theo phạm vi 1
  9. lãnh thổ của hệ thống bảo hộ kiểu dáng công nghiệp. Doanh nghiệp thường phải lựa chọn từng quốc gia riêng biệt và tiến hành đăng ký theo thủ tục độc lập theo quy định của từng quốc gia. Các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp phải được làm bằng một ngôn ngữ nhất định; phải tuân thủ theo hệ thống các quy định của nước sở tại và được nộp cho cơ quan sở hữu trí tuệ của nước đó; phải nộp lệ phí bằng một loại tiền tệ nhất định. Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở nước ngoài theo hệ thống đăng ký quốc tế của Thỏa ước La-Hay là việc giành được sự bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở một số nước thông qua việc đăng ký kiểu dáng công nghiệp chỉ một lần duy nhất với văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO). Với chỉ một đơn đăng ký quốc tế bằng một ngôn ngữ, doanh nghiệp có thể đạt được cùng một kết quả bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở một số nước và chỉ cần phải trả một lần các khoản phí bằng một loại tiền tệ cho một cơ quan duy nhất. Việc quản lý độc quyền đạt được sau đó cũng được thực hiện một cách dễ dàng hơn. Ví dụ như việc gia hạn hiệu lực đối với một kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký chỉ cần một thủ tục đơn giản duy nhất đối với mọi thay đổi liên quan đến chủ sở hữu. Việc Việt Nam tham gia Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp và lựa chọn tham gia văn kiện nào là một vấn đề đòi hỏi cần phải nghiên cứu một cách khoa học và toàn diện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam cũng như lợi ích quốc gia, đồng thời đáp ứng được xu hướng hội nhập hợp tác phát triển quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp thông qua Thỏa ước La-Hay và các văn kiện về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp là việc làm cần thiết và là một sự chuẩn bị đầy đủ cho việc Việt Nam quyết định lựa chọn thời điểm thích hợp tham gia Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công 2
  10. nghiệp và lựa chọn ký kết văn kiện phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, hiện chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về việc gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp. Vấn đề trên hiện chỉ xuất hiện rải rác trong nội dung một số bài tham luận tại các cuộc hội thảo về sở hữu công nghiệp do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam tham gia tổ chức và trong một số bài viết trên một số tạp chí và trang báo chuyên ngành. Các bài viết trên mới chỉ dừng lại ở các nội dung khái quát, hoặc chỉ đi vào tìm hiểu một số khía cạnh riêng lẻ của vấn đề, chưa đi sâu vào phân tích tổng thể và so sánh tổng quan thực tiễn hoạt động đăng ký kiểu dáng công nghiệp tại Việt Nam và các quy định trong Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp nhằm đề xuất thời điểm cũng như lựa chọn văn kiện để Việt Nam tham gia Thỏa ước La-Hay trong tương lai gần. Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đi sâu vào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống việc Việt Nam có thể tham gia Thỏa ước La-Hay về Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp; so sánh một cách chi tiết quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký kiểu dáng công nghiệp với các quy định của Thỏa ước La-Hay để tìm ra những ưu nhược điểm nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về đăng ký và bảo hộ kiểu dáng công nghiệp tại Việt Nam. 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn Việc nghiên cứu đề tài "Việt Nam với việc gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp" nhằm đạt các mục đích chủ yếu sau đây: - Tìm hiểu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam 3
  11. về đăng ký kiểu dáng công nghiệp và các quy định của Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp. - So sánh và tìm ra những điểm khác biệt cơ bản về đăng ký kiểu dáng công nghiệp theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và Văn kiện Geneva 1999 của Thỏa ước La-Hay. - Nghiên cứu, phân tích và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn khi Việt Nam gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế thị trường của Đảng và Nhà nước ta được trình bày trong các văn kiện, nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợp thống kê cũng sẽ được sử dụng ở mức độ phù hợp để hoàn thành mục tiêu của đề tài. 5. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký kiểu dáng công nghiệp. Chương 2: Quy định của Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp. Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong việc gia nhập Thỏa ước La-Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp. 4
  12. Chương 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP 1.1. Khái niệm chung về đăng ký kiểu dáng công nghiệp 1.1.1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp Ở đâu có hoạt động nghiên cứu, sáng tạo thì ở đó xuất hiện tài sản trí tuệ. Những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo được thừa nhận là tài sản trí tuệ. Trên thế giới, khái niệm sở hữu trí tuệ không phải là một khái niệm xa lạ, nhưng ở Việt Nam, khái niệm này còn khá mới mẻ đối với đại bộ phận nhân dân. Ở các nước phát triển, luật Sở hữu trí tuệ được ban hành từ rất sớm, như luật Sở hữu trí tuệ được ban hành ở Mỹ năm 1787, ở Pháp năm 1791, ở Bỉ năm 1854, ở Nhật năm 1855, ở Nga năm 1870, ở Đức năm 1877… Cùng với quá trình phát triển kinh tế thế giới, bảo hộ sở hữu trí tuệ được coi là vấn đề đặc biệt quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia. Các hoạt động sáng tạo và kết quả của các hoạt động sáng tạo có vai trò rất lớn đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Những năm về trước, các tài sản hiện hữu như đất đai, máy móc, lao động, tiền vốn… được coi là các chuẩn mực chung để đánh giá sự giàu có và sự phát triển của doanh nghiệp. Ngày nay, sản phẩm trí tuệ - tài sản vô hình trở thành thước đo sức mạnh và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Từ cuối thế kỷ XIX, khái niệm về kiểu dáng công nghiệp đã xuất hiện, gắn liền với khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của khoa học công nghệ và các sáng tạo trong kinh doanh, khái niệm về kiểu dáng công nghiệp ngày càng trở nên 5
  13. phổ biến. Tuy nhiên, trên thế giới hiện có nhiều khái niệm khác nhau về kiểu dáng công nghiệp. Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Kiểu dáng công nghiệp là các khía cạnh mang tính chất trang trí hay thẩm mỹ của sản phẩm. Kiểu dáng có thể bao hàm các khía cạnh ba chiều, ví như hình dạng hoặc bề mặt của sản phẩm, hoặc các khía cạnh hai chiều, ví như mẫu hoa văn, đường nét hoặc màu sắc”. Theo định nghĩa này, kiểu dáng công nghiệp có thể được hiểu theo một nghĩa rất rộng. Đầu tiên, kiểu dáng công nghiệp được xác định ở tính chất trang trí hay thẩm mỹ của nó. Bên cạnh đó, kiểu dáng công nghiệp cũng được xác định bằng biểu hiện bên ngoài của sản phẩm như họa tiết, đường nét, màu sắc hoặc ba chiều như hình khối, kết cấu của sản phẩm. Theo pháp luật của Hoa Kỳ, một trong những nước phát triển hàng đầu về những sản phẩm sở hữu trí tuệ, thì “Kiểu dáng bao gồm các đặc tính trang trí được thể hiện hay áp dụng trong một sản phẩm. Vì kiểu dáng được thể hiện ở hình dáng bên ngoài nên các đối tượng bảo hộ kiểu dáng có thể là hình dạng của một sản phẩm, là trang trí mặt ngoài của một sản phẩm, hay là sự kết hợp giữa hình dạng và trang trí bên ngoài. Một kiểu dáng trang trí bề ngoài không thể tách rời khỏi sản phẩm mà nó trang trí và do vậy không thể tự thân tồn tại một mình được”. Như vậy, đặc tính quan trọng nhất của kiểu dáng công nghiệp là các đặc tính trang trí. Theo pháp luật Hoa kỳ, điểm mấu chốt của kiểu dáng công nghiệp là nhất thiết phải gắn liền với sản phẩm mà nó trang trí, nghĩa là không có dạng kiểu dáng công nghiệp tự thân tồn tại một mình. Theo pháp luật Việt Nam, từ trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật dân sự 1995 đã quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp 6
  14. những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp”. Hiện nay, tại khoản 13 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này”. Theo định nghĩa này, có thể hiểu, kiểu dáng công nghiệp đơn thuần là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, hay là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp với họa tiết, là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp với màu sắc, hoặc là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp cả họa tiết, màu sắc. Như vậy, với tư cách là một đối tượng của sở hữu trí tuệ, kiểu dáng công nghiệp chỉ để cập đến các khía cạnh thẩm mỹ hoặc hình dáng bên ngoài của sản phẩm chứ không thể hiện các đặc điểm kỹ thuật hoặc chức năng bên trong của sản phẩm. Cách định nghĩa này của pháp luật Việt Nam cũng có nét tương đồng với định nghĩa của các nước trên thế giới khi khẳng định kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm và luôn gắn liền với sản phẩm. Mặc dù kiểu dáng công nghiệp không đề cập đến các đặc điểm kỹ thuật hoặc chức năng của sản phẩm, tuy nhiên, kiểu dáng công nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản phẩm, vì nó là cái nhìn đầu tiên của người tiêu dùng về sản phẩm. Do đó, ngoài chức năng phân biệt hình dáng, màu sắc giữa các sản phẩm cùng loại, kiểu dáng công nghiệp còn có chức năng thẩm mỹ, hấp dẫn thị hiếu người tiêu dùng thông qua những hình dáng và màu sắc đặc trưng riêng của sản phẩm đó. Hình dáng bên ngoài của sản phẩm cũng là yếu tố quan trọng trong việc góp phần nâng cao tiện ích của sản phẩm, giúp cho sản phẩm được sử dụng thuận lợi và phổ biến. Kiểu dáng công nghiệp luôn luôn mang tính thẫm mỹ, làm cho sản phẩm đẹp hơn, kích thích thị hiếu của người tiêu dùng muốn mua hàng nhiều hơn, qua đó làm tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất. 7
  15. Điểm mấu chốt trong khái niệm về kiểu dáng công nghiệp là kiểu dáng công nghiệp ít nhất phải có khả năng áp dụng công nghiệp để sản xuất ra các sản phẩm, tái tạo bằng phương pháp công nghiệp hay thủ công nghiệp (vì vậy mới gọi là kiểu dáng công nghiệp). Nếu không có yếu tố này thì không phải là kiểu dáng công nghiệp mà là sự sáng tạo nghệ thuật (thuộc bản quyền tác giả). Tuy nhiên, trong định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp thì các yếu tố như tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng không phải là điều kiện tiên quyết để xác định thế nào là kiểu dáng công nghiệp, mà đó chỉ là điều kiện để một đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa là kiểu dáng công nghiệp. So sánh với các đối tượng khác của sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu và sáng chế thì kiểu dáng công nghiệp có những điểm khác biệt cơ bản. Chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu là chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Có thể hiểu rằng bất kỳ dấu hiệu nào đáp ứng được khả năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ này với sản phẩm, dịch vụ khác đều được đăng ký là nhãn hiệu. Trong khi đó, một hình dáng bên ngoài của sản phẩm nếu được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có trình độ trung bình thuộc lĩnh vực tương ứng thì lại không được bảo hộ như một kiểu dáng công nghiệp. Như vậy, rõ ràng, tính sáng tạo trong kiểu dáng công nghiệp được đề cao hơn so với nhãn hiệu. Mặt khác, nhãn hiệu có thể gắn với hàng hóa hoặc dịch vụ; còn kiểu dáng công nghiệp thì phải gắn liền với một sản phẩm nhất định vì đó là “hình dáng bên ngoài của sản phẩm”. Giống như kiểu dáng công nghiệp, sáng chế cũng là những sản phẩm của hoạt động sáng tạo do con người tạo ra. Tuy nhiên, trong khi kiểu dáng công nghiệp chỉ gắn liền với hình dáng bên ngoài của một sản phẩm nhất định thì sáng chế lại là giải pháp kỹ thuật. Sáng chế có thể thể hiện dưới dạng sản phẩm hoặc một quy trình được tạo ra bằng cách ứng dụng các quy luật tự nhiên. Như vậy, kiểu dáng công nghiệp và sáng chế thuộc hai lĩnh vực hoàn 8
  16. toàn khác nhau. Trong khi kiểu dáng công nghiệp chú trọng đến tính thẩm mỹ của sản phẩm và có thể nhìn thấy bằng cảm quan, thì sáng chế lại là yếu tố kỹ thuật bên trong của sản phẩm. Kiểu dáng công nghiệp không thể tách rời khỏi sản phẩm, còn sáng chế có thể là quy trình, nên có thể tồn tại không phụ thuộc vào sản phẩm. 1.1.2. Vai trò của kiểu dáng công nghiệp trong hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ Kiểu dáng công nghiệp thường là yếu tố hữu hình đầu tiên của sản phẩm tạo ra sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Ngoài những đặc điểm chức năng bên trong của sản phẩm là yếu tố quyết định thị hiếu của người tiêu dùng thì cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của kiểu dáng công nghiệp đối với doanh thu của sản phẩm. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp đối với nhiều sản phẩm có cùng chức năng thì sản phẩm nào có kiểu dáng đẹp, bắt mắt hơn sẽ dễ dàng thu hút người tiêu dùng hơn. Tuy nhiên, trong các đối tượng được bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ thì kiểu dáng công nghiệp cũng là một trong những bộ phận dễ bị đánh cắp nhất và cũng thường xuyên bị bắt chước nhất. Vì vậy, việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp có vai trò vô cùng to lớn, không chỉ đối với doanh nghiệp, với người tiêu dùng mà còn với cả xã hội. Vai trò của việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với xã hội: “Sở hữu trí tuệ” là một thuật ngữ mang nghĩa rộng, được dùng để mô tả sự sáng tạo của tư duy. Sự sáng tạo này là tài sản vô hình mà pháp luật cần phải bảo hộ thông qua việc trao cho tác giả của sự sáng tạo ấy một số quyền nhất định, nhằm khuyến khích những sáng tạo hữu ích có lợi cho toàn xã hội. Ở nước ta, sự sáng tạo ấy đã có từ rất lâu, nhưng việc bảo hộ sự sáng tạo đó mới thực sự được triển khai từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Ngày nay, tất cả các dạng tài sản trí tuệ, trong đó có kiểu dáng công nghiệp, đều được pháp luật thừa nhận và là đối tượng được Nhà nước bảo hộ. 9
  17. Do tính chất “vô hình” của tài sản trí tuệ mà việc thực hiện các quyền sở hữu đối với tài sản diễn ra khó khăn hơn. Tài sản trí tuệ luôn đứng trước một nguy cơ xâm phạm rất lớn. Khoa học công nghệ đã mang lại cho con người những thành tựu không thể phủ nhận, nhưng đó cũng chính là con dao hai lưỡi khi khoa học đã bị kẻ xấu lợi dụng làm phương tiện cho hành vi xâm phạm quyền sử hữu trí tuệ. Đối tượng bị xâm phạm thường là kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và sáng chế. Việc xác định thiệt hại trong những trường hợp xâm phạm là vô cùng khó khăn. Vì vậy, việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp càng có ý nghĩa, vai trò to lớn, góp phần ngăn chặn những hành động xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Sở hữu trí tuệ là nhân tố đem lại sự tăng trưởng kinh tế đáng kể cho xã hội. Việc bảo hộ hữu hiệu kiểu dáng công nghiệp góp phần không nhỏ cho hoạt động bảo vệ các tài sản trí tuệ. Đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển, sở hữu trí tuệ luôn được đánh giá là loại tài sản chiếm vị trí quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của đất nước. Với mỗi phát minh, sáng chế ra đời và được bảo hộ, thì nó không chỉ đem lại lợi ích cho chủ thể sở hữu sản phẩm trí tuệ đó mà đồng thời còn tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua việc thương mại hoá các sản phẩm trí tuệ đó. Sở hữu trí tuệ là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế quốc gia trong hội nhập. Mức độ “giàu có” của mỗi quốc gia không chỉ được đo bằng hệ thống tài sản hữu hình có thể cân, đong, đo, đếm; mà quan trọng hơn, tài sản sở hữu trí tuệ mới là một trong những năng lực nội sinh quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững. Quốc gia nào càng làm tốt vai trò bảo hộ tài sản sở hữu trí tuệ thì năng lực cạnh tranh của quốc gia đó càng cao. Với các nước đang phát triển như Việt Nam, năng lực cạnh tranh thường thấp, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, cho nên để có thể phát 10
  18. triển bền vững và hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánh giá đúng vị trí quan trọng của việc bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ. Cần thiết phải xây dựng một hệ thống pháp luật bảo hộ có hiệu quả cao và tương đồng với xu thế phát triển chung của thế giới. Sẽ là phát triển bền vững nếu chúng ta biết cách khai thác và sử dụng có hiệu quả tài sản trí tuệ, bởi trí thức là tài sản đặc biệt, tuy không thể nhìn thấy hay ước lượng, nhưng tài sản đó lại có khả năng tồn tại bền bỉ, có thể áp dụng vào nhiều đối tượng khác nhau. Việc thực hiện tốt công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung cũng như bảo hộ kiểu dáng công nghiệp nói riêng là bước đệm quan trọng để chúng ta có thể tiếp cận bền vững hơn với các hoạt động thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và hội nhập hiệu quả. Tài sản trí tuệ tuy “vô hình” nhưng lại là loại tài sản dễ bị sao chép, mô phỏng, thậm chí là đánh cắp. Việc đầu tư để tạo ra một công trình trí tuệ là quá trình đầu tư tốn kém về cả vật chất và ý tưởng, nên việc đánh cắp các thành quả sáng tạo của đối thủ cạnh tranh là việc dễ xảy ra. Đó cũng chính là một trong những băn khoăn của những nhà đầu tư nước ngoài, vì vậy, thực hiện tốt công tác bảo hộ xã hội sẽ tạo ra được một môi trường đầu tư ổn định, từ đó mới dễ dàng thu hút đầu tư quốc gia. Như vậy, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả sẽ là một yếu tố tiên quyết để chống lại nguy cơ tụt hậu và phát triển đất nước. Mặt khác, việc các chủ sở hữu tài sản trí tuệ tiến hành đăng ký cũng góp phần cho việc quản lý của Nhà nước diễn ra thuận lợi hơn. Khi xảy ra tranh chấp, việc giải quyết tranh chấp cũng sẽ diễn ra nhanh gọn và bảo đảm được quyền lợi cho chủ sở hữu tài sản trí tuệ. Vai trò của việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với doanh nghiệp: Tài sản của doanh nghiệp có thể được chia làm hai loại chính: tài sản hữu hình (bao gồm nhà xưởng, máy móc, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng) và tài sản vô hình (bao gồm nguồn nhân lực, bí quyết kỹ thuật, ý tưởng, nhãn hiệu, 11
  19. kiểu dáng, sáng chế và những tài sản vô hình khác có được từ khả năng sáng tạo và đổi mới của họ). Theo truyền thống, tài sản hữu hình chiếm phần lớn giá trị của doanh nghiệp, và được coi là có vai trò quyết định đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, quan niệm trên đã có nhiều thay đổi. Nhờ cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự phát triển của nền kinh tế dịch vụ, ngày càng nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng tài sản vô hình của họ có giá trị lớn hơn nhiều lần so với các tài sản hữu hình. Hầu như doanh nghiệp lớn hay nhỏ, cho dù sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ, thì đều tạo ra và sử dụng rất nhiều quyền sở hữu trí tuệ. Bởi những quyền sở hữu trí tuệ đó là một phần tài sản quan trọng, quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thì những tài sản trí tuệ về kiểu dáng công nghiệp luôn chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của doanh nghiệp. Ví dụ, đối với những doanh nghiệp sản xuất điện thoại di động hay ô tô-xe máy, người tiêu dùng ngày nay không chỉ chú trọng vào những tính năng sử dụng của sản phẩm mà còn đặc biệt quan tâm đến kiểu dáng sản phẩm. Với những sản phẩm có cùng tính năng thì sản phẩm nào có kiểu dáng, màu sắc đẹp hơn, độc đáo hơn sẽ có doanh thu cao hơn. Quyền sở hữu trí tuệ về kiểu dáng công nghiệp có thể hỗ trợ doanh nghiệp từ mọi khía cạnh của việc phát triển kinh doanh và xây dựng chiến lược cạnh tranh: từ phát triển đến thiết kế sản phẩm, cung cấp dịch vụ đến tiếp thị và thu hút nguồn vốn tài chính đến việc xuất khẩu hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài thông qua các hợp đồng li-xăng hoặc nhượng quyền kinh doanh. Vì vậy, ngoài việc tập trung cho công tác nghiên cứu, phát triển và mở rộng hệ thống tài sản trí tuệ cho doanh nghiệp thì các doanh nghiệp cũng cần 12
  20. phải chú trọng đến việc đăng ký bảo hộ cho sản phẩm trí tuệ của doanh nghiệp mình. Việc các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc công tác đăng ký bảo hộ sản phẩm trí tuệ cũng góp phần tăng doanh thu cho doanh nghiệp khi các nhà đầu tư yên tâm hơn khi đầu tư cho doanh nghiệp. Hoặc khi xảy ra tranh chấp, doanh nghiệp nào đăng ký tài sản sở hữu trí tuệ sẽ được Nhà nước đứng ra bảo hộ. Trong thực tế hiện nay, việc nhiều sản phẩm của nhiều doanh nghiệp khác nhau có cùng kiểu dáng, chỉ khác nhau về nhãn hiệu hay màu sắc thường xuyên xảy ra. Vì thế, các doanh nghiệp cần đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm của doanh nghiệp mình để bảo vệ tài sản của chính mình. Đăng ký kiểu dáng công nghiệp làm cho việc kinh doanh có ý nghĩa khi kiểu dáng đó giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và mang lại thu nhập bổ sung theo một hoặc nhiều cách sau: (a) Bằng việc đăng ký kiểu dáng, doanh nghiệp có nhiều khả năng hơn để ngăn chặn đối thủ cạnh tranh sao chép và bắt chước, và do đó nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp; (b) Các độc quyền có được từ việc đăng ký kiểu dáng góp phần thu hồi các khoản đầu tư cho việc sáng tạo và tiếp thị sản phẩm có liên quan, do đó nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp; (c) Kiểu dáng công nghiệp là tài sản của doanh nghiệp, có thể làm tăng giá trị thương mại của công ty và sản phẩm của họ. Kiểu dáng càng thành công thì giá trị của nó đóng góp cho công ty và thương hiệu càng cao; (d) Một kiểu dáng được bảo hộ cũng có thể được chuyển nhượng quyền sử dụng (hoặc bán) cho người khác để thu phí. Bằng việc cấp quyền sử dụng đối với kiểu dáng, doanh nghiệp có thể thâm nhập vào các thị trường mà theo cách thức khác doanh nghiệp không thể làm được; (e) Việc đăng ký kiểu dáng công nghiệp khuyến khích hoạt động cạnh 13
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2