BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………/…………

BỘ NỘI VỤ ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA ĐÀO THỊ QUỲNH LAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Hà Nội - 2021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………/…………

BỘ NỘI VỤ ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA ĐÀO THỊ QUỲNH LAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Chuyên ngành: QLNN về Kinh tế và Tài chính công

Mã số: 8 31 01 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Lê Chi Mai Hà Nội - 2021

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả

nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số

liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung

thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài

chính theo quy định của Học Viện hành Chính Quốc Gia.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Quản lí Nhà nước về kinh tế xem

xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!.

Người cam đoan

Đào Thị Quỳnh Lan

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự

hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.

Với tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến

PGS.TS. Lê Chi Mai đã trực tiếp hướng dẫn về kiến thức cũng như phương pháp

nghiên cứu, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện Luận văn.

Mặc dù bản thân cũng rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện

Luận văn nhưng do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi

những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô

giáo và tất cả bạn bè.

Cuối cùng, xin cám ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và động viên tôi

hoàn thành bản luận văn này.

Tác giả luận văn

Đào Thị Quỳnh Lan

iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan ............................................................................................................................ i

Lời cảm ơn ............................................................................................................................... ii

Mục lục .................................................................................................................................... iii

Danh mục sơ đồ và bảng biểu .............................................................................................. vi

PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ...................... 8

1.1. Tổng quan về phát triển du lịch bền vững ...................................................... 8

1.1.1. Các khái niệm liên quan .................................................................. 8

1.1.1.1. Khái niệm du lịch ..................................................................... 8

1.1.1.2. Khái niệm phát triển bền vững ............................................... 9

1.1.1.3. Khái niệm phát triển du lịch bền vững .................................. 11

1.1.2. Các nguyên tắc và tiêu chí phát triển du lịch bền vững ................ 13

1.1.2.1. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững .......................... 13

1.1.2.2. Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững ................. 15

1.2. Quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền vững trên địa

bàn tỉnh.................................................................................................................... 19

1.2.1. Các khái niệm cơ bản .................................................................... 19

1.2.1.1. Khái niệm Quản lý nhà nước ................................................. 19

1.2.1.2. Khái niệm Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền

vững trên địa bàn tỉnh ......................................................................... 20

1.2.1.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về phát triển du lịch

bền vững trên địa bàn tỉnh .................................................................. 21

1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch theo hướng phát triển

bền vững trên địa bàn tỉnh ....................................................................... 23

1.2.3. Nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về du lịch theo hướng

phát triển bền vững .................................................................................. 29

iv

1.3. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền

vững của một số địa phương trong nước ............................................................. 33

1.3.1. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát

triển bền vững ở Huế ............................................................................... 33

1.3.2. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát

triển bền vững ở Nha Trang ..................................................................... 34

1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho quản lý Nhà nước du lịch theo

hướng phát triển bền vững tại địa bàn thành phố Hà Nội ....................... 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ...................................................................................................... 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH THEO

HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI.......................... 39

2.1. Tổng quan về phát triển du lịch Hà Nội ........................................................ 39

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch .......................................... 39

2.1.2. Kết quả kinh doanh du lịch giai đoạn 2016-2020 ......................... 42

2.2. Thực trạng quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền

vững ở thành phố Hà Nội ...................................................................................... 47

2.2.1. Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch về phát triển du lịch

bền vững .................................................................................................. 47

2.2.2. Ban hành và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về du

lịch ở thành phố Hà Nội ........................................................................... 50

2.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý du lịch thành phố Hà Nội ...................... 52

2.2.4. Xây dựng và tổ chức nguồn nhân lực tham gia du lịch của

thành phố Hà Nội ..................................................................................... 54

2.2.4. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch và quản lý các hoạt

động kinh doanh du lịch .......................................................................... 57

2.2.6. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động

du lịch ...................................................................................................... 64

v

2.3. Đánh giá hoạt động quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát

triển bền vững tại thành phố Hà Nội .................................................................... 66

2.3.1. Kết quả tích cực ............................................................................. 66

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ................................................................ 68

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ...................................................................................................... 73

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

DU LỊCH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ

HÀ NỘI .................................................................................................................................. 74

3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành

phố Hà Nội giai đoạn 2021 – 2025 ........................................................................ 74

3.2. Những dự báo về nhu cầu phát triển du lịch bền vững tại thành phố

Hà Nội ...................................................................................................................... 78

3.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước du lịch theo

hướng phát triển bền vững trên địa bàn thành phố Hà Nội .............................. 81

3.3.1. Xây dựng quy hoạch, chương trình, đề án phát triển du lịch Hà

Nội gắn với các mục tiêu phát triển bền vững ......................................... 81

3.3.2. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục

vụ du lịch gắn với mục tiêu phát triển bền vững ..................................... 85

3.3.3. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và giáo dục cộng

đồng cho phát triển du lịch bền vững ...................................................... 91

3.3.4. Xây dựng các sản phẩm du lịch bền vững đặc thù và nâng cao

tính hiệu quả công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch ............................ 94

3.3.5. Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường .............................. 101

3.3.6. Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát triển văn hóa, xã hội . 102

3.4. Một số kiến nghị ............................................................................................ 104

3.4.1. Kiến nghị với UBND thành phố Hà Nội ..................................... 104

3.4.2. Kiến nghị với Sở Du lịch Hà Nội ................................................ 105

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 .................................................................................................... 106

KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 109

vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU

Hình 2.1: Cơ cấu thị trường khách quốc tế đến Hà Nội năm 2020 ........................ 44

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu nhân lực theo trình độ ngành Du lịch thành phố Hà Nội ........... 56

Bảng 2.1: Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Hà Nội theo mục đích

chuyến đi giai đoạn 2016-2020 ............................................................... 45

Bảng 2.2: Doanh thu du lịch Hà Nội giai đoạn 2016-2020 ..................................... 47

Bảng 2.4: Hiện trạng cơ sở lưu trú của Hà Nội giai đoạn 2016-2020 ..................... 59

Bảng 2.5: Doanh nghiệp du lịch Hà Nội giai đoạn 2016-2020 ............................... 63

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngành Du lịch là ngành đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, giảm

nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi

trường và giữ vững an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, so với tiềm năng và lợi thế của

đất nước thì kết quả tăng trưởng du lịch vừa qua chưa thực sự đáp ứng kỳ vọng phát

triển của Ngành; phát triển nhưng còn ẩn chứa nhiều yếu tố thiếu bền vững; chưa

đánh giá đúng và khai thác tối ưu lợi thế quốc gia về tài nguyên tự nhiên và nhân

văn; đầu tư còn manh mún; sản phẩm còn nghèo nàn, đơn điệu, thiếu đặc sắc; chất

lượng và hiệu quả thấp, kém sức cạnh tranh và chưa có tiếng vang. Do những khó

khăn, thách thức trong giai đoạn đầu phát triển về nguồn lực con người, tiềm lực tài

chính, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và năng lực hội nhập nên bài toán phát triển

du lịch còn thiếu những giải pháp đột phá cả trong tư duy và hành động, cả trong

chính sách và triển khai thực tế. Mặc dù có Luật Du lịch, có chiến lược và quy

hoạch, có Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, có chương trình hành động quốc gia

v.v. nhưng những bước đi vẫn còn dò dẫm, thiếu chủ động, thiếu tự tin và chuyên

nghiệp và còn thua thiệt trong cạnh tranh quốc tế.

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, nhu cầu du lịch ngày càng trở nên

không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người, đặc biệt là ở các nước phát

triển. Trong bối cảnh chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang có xu hướng

chuyển dịch cơ cấu từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế phát

triển Công nghiệp – Dịch vụ – Nông nghiệp. Vì vậy, việc phát triển du lịch theo

hướng bền vững tại Việt Nam rất cần thiết.

Du lịch bền vững là khái niệm không mới đối với du lịch Việt Nam. Nhưng ở

thời điểm kinh tế thế giới đang khủng hoảng, hoạt động du lịch chịu nhiều tác động

và gặp không ít khó khăn, vì vậy du lịch bền vững trở thành mối quan tâm đặc biệt

trong chiến lược phát triển của ngành du lịch. Các nhà làm du lịch đều hiểu rằng, sự

“ăn xổi” trong đầu tư, phát triển du lịch sẽ phải trả giá do những hệ lụy mà nó gây

2

ra. Vấn đề là phải làm gì và làm như thế nào để ngành du lịch nước ta phát triển một

cách bền vững?

Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra rằng: Bí quyết để phát

triển kinh tế du lịch bền vững là nhà nước phải dành ưu tiên trước hết cho công tác

quy hoạch phát triển hơn là ưu tiên cho khu vực tư nhân và lấy nó làm động lực cho

sự phát triển. Có thể thấy hoạt động kinh tế du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi cần

có sự quản lý của nhà nước để duy trì và phát triển. Việc thành công hay thất bại

của ngành du lịch phụ thuộc vào khung khổ pháp lý và những chính sách thích hợp

với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước. Do vậy, vấn đề quản lý nhà nước

đối với kinh tế du lịch theo hướng phát triển bền vững trở nên vô cùng cấp thiết

trong bối cảnh hiện nay.

Hà Nội là thủ đô 1000 năm tuổi có lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa đa

dạng và giàu bản sắc, Hà Nội thực sự là một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam.

Hà Nội luôn là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch nội địa và

quốc tế, đứng đầu cả nước về số lượng di tích Việt Nam với 3.840 di tích trên tổng

số gần 40.000 di tích Việt Nam (trong đó có 1.164 di tích trên tổng số gần 3.500 di

tích cấp quốc gia ở Việt Nam). Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang

gặp khó khăn như hiện nay số lượng khách du lịch giảm, số lượt khách đến Hà Nội

giảm, thu nhập về du lịch giảm thì chúng ta cần có giải pháp để thu hút, phát triển

ngành du lịch nói chung và du lịch Hà Nội nói riêng một cách bền vững, phát huy

tiềm năng du lịch của thủ đô Hà Nội.

Thời gian qua UBND thành phố Hà Nội đã định hướng cho hoạt động du lịch

phát triển tích cực, vẫn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế song vẫn giữ gìn các giá trị

truyền thống và bảo tồn tài nguyên du lịch của đất nước. Tuy nhiên việc dung hoà

mối quan hệ và lợi ích giữa du lịch với các ngành kinh tế khác; đảm bảo hài hoà về

quyền lợi giữa cộng đồng dân cư, nhà đầu tư du lịch và khách du lịch vẫn còn hạn

chế. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện quản lý Nhà nước về Du lịch

theo hướng phát triển bền vững tại thành phố Hà Nội.

Góp phần luận giải vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài “Quản lý Nhà nước

về Du lịch theo hướng phát triển bền vững tại thành phố Hà Nội” làm đề tài

nghiên cứu cho bài luận văn.

3

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững nói

chung từ trước đến nay đã và đang là đề tài được nhiều cơ quan, ban ngành, học giả

quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều đề tài khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao

góp phần ứng dụng vào việc tăng cường quản lý và phát triển ngành du lịch bền

vững trên phạm vi cả nước. Cụ thể như sau:

Luận văn Thạc sỹ Vũ Anh Tuấn, năm 2015, trường Đại học kinh tế thành phố

Hồ Chí Minh với đề tài: “Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch sinh thái vườn

Quốc gia Cát Tiên”. Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch sinh

thái và phát triển bền vững. Điều tra khảo sát, thu thập tài liệu thông tin phục vụ cho

việc đánh giá tiềm năng và hiện trạng khai thác tài nguyên phát triển bền vững du

lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Tiên. Từ đó, xây dựng định hướng phát triển du

lịch bền vững của vườn quốc gia Cát Tiên. Đồng thời, đưa ra mô hình phát triển du

lịch sinh thái và đề ra giải pháp thực hiện.

Luận văn Thạc sỹ Vũ Thị Hòa, năm 2017, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

với đề tài: “Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại tỉnh Nam Định”. Luận văn

trình bày tổng quan một số vấn đề lý luận liên quan đến phát triển du lịch theo

hướng bền vững, những bài học trong nước và quốc tế theo hướng phát triển bền

vững. Phân tích, đánh giá những điều kiện phát triển du lịch của tỉnh Nam Định về

tiềm năng, lợi thế sẵn có, những thuận lợi và khó khăn của tỉnh Nam Định trong

phát triển du lịch theo hướng phát triển bền vững. Đề xuất một số giải pháp và kiến

nghị để phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Nam Định nhằm khai thác có

hiệu quả các thế mạnh về tiềm năng du lịch, đảm bảo sự đóng góp của ngành Du

lịch vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng như khai thác và sử dụng

bền vững các nguồn tài nguyên du lịch, bảo vệ cảnh quan môi trường.

Luận văn thạc sỹ Võ Thị Mỹ Trang, năm 2018, Trường Đại học Kinh tế thành

phố Hồ Chí Minh với đề tài: “Văn hóa miệt vườn trong phát triển du lịch sinh thái

ở Hậu Giang”. Luận văn trình bày tổng quan một số vấn đề về khái niệm văn hóa,

miệt vườn, du lịch, du lịch sinh thái; cơ sở thực tiễn về điều kiện tự nhiên, kinh tế -

4

xã hội, đặc điểm du lịch sinh thái ở Hậu Giang. Phân tích, đánh giá các giá trị văn

hóa miệt vườn ở Hậu Giang từ đó đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch miệt

vườn ở Hậu Giang. Bài viết “Du lịch tỉnh Vĩnh Long: những giải pháp để phát triển

bền vững” của NCS Nguyễn Ngọc Sĩ được đăng trên tạp chí khoa học số 18 ngày

13/5/2018, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết phân tích những hạn

chế và những ưu thế của du lịch Vĩnh Long, đồng thời đề xuất những giải pháp phù

hợp để phát triển du lịch theo hướng bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập.

Luận văn thạc sỹ Nguyễn Minh Đức (Hà Nội-2017) “Quản lý nhà nước đối

với hoạt động thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La trong quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa” [6, tr.2-10], luận án tiến sĩ kinh tế, học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh.

Luận án đã nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về thương mại và du

lịch; làm sáng tỏ hơn các khái niệm, vai trò và mối quan hệ liên quan, xác định rõ

chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch ở cấp

tỉnh; từ đó luận án đã nghiên cứu điều kiện, tiềm năng và thực trạng hoạt động

thương mại và du lịch của tỉnh Sơn La, trong đó có tập trung nghiên cứu về thực

trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch trong thời gian qua;

luận án đã nêu rõ những bất cập của quản lý nhà nước về thương mai, du lịch, chỉ

ra nguyên nhân của tình hình. Để góp phần đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt

động thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH;

luận án đã xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ, trước mắt cũng như lâu dài,

tâp trung vào một số nhóm giải pháp sau: Thứ nhất là, tăng cường công tác giáo

giáo dục, tuyên truyền pháp luật và nâng cao nhận thức về thương mại, du lịch của

tỉnh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đó phải tập trung làm tốt

công tác giáo dục tuyên truyền và phổ biến luật cho cán bộ và nhân dân. Việc phổ

biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật phải được tiến hành thường xuyên, liên

tụcthông nhiều hình thức và phải có biện pháp cụ thể để từng bước nâng cao nhận

thức cho cán bộ đảng viên và nhân dân về vai trò của thương mại, du lịch, về yêu

5

cầu đổi mới quản lý nhà nước về thương mại, du lịch trong sự nghiệp CNH-HĐH

của tỉnh. Thứ hai là, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch và hỗ trợ

các doanh nghiệp thương mại, du lịch trong quá trình hội nhập; trong đó tập trung

điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển thương mại, bổ dung, hoàn thiện quy hoạch

phát triển du lịch như: phân kỳ đầu tư xây dựng các khu và nâng cao chất lượng

xây dựng và điều hành kế hoạch phát triển thương mại, du lịch, hỗ trợ các doanh

nghiệp thương mại, du lịch trên địa bàn tỉnh, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh

trong quá trình hội nhập. Thứ ba là, tiếp tục đổi mới và thực thi các chính sách kinh

tế để phát triển thương mại, du lịch như: chính sách đầu tư, chính sách thị trường,

giá cả, chính sách thành phần kinh tế. Thứ tư là, chủ động hội nhập và tăng cường

hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về thương mại, du lịch. Thứ năm là, chấn

chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động thương mại, du

lịch; trong đó tập trung chấn chỉnh bộ máy gắn liền với nhiệm vụ tập trung xây

dựng, cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về thương mại, du lịch củ

tỉnh, tăng cường sự phối hợp giữa Sở Thương mại-Du lịch với các Sở, Ngành trong

tỉnh, đặc biệt là với Sở Kế hoạch và Đầu tư-cơ quan tham mưu tổng hợp về kinh tế

ở địa phương, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về

thương mại, du lịch từ tỉnh đến huyện đến cơ sở, xây dựng đội ngũ quản lý bao gồm

quản nhà nước và quản trị kinh doanh về thương mại, du lịch. Thứ sáu là, tăng

cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thương mại, du lịch tỉnh Sơn La trong tiến trình

thực hiện CNH-HĐH. Luận án đã đưa ra giải pháp rất đầy đủ và có thệ thống đảm

bảo tính lô gích, có thể vận dụng vào giải quyết việc đổi mới quản lý nhà nước đối

với hoạt đông thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La.

Bài viết “Phát triển du lịch bền vững tại tiểu vùng sông Mekong: Giải pháp

cho đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Quyết Thắng được đăng trên tạp chí

Phát triển và hội nhập số 27 – tháng 03 – 04/2018. Bài viết cho biết vùng đồng bằng

sông Cửu Long có vị trí quan trọng trong liên kết phát triển du lịch các nước tiểu

vùng sông MeKong. Việc phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu

Long sẽ góp phần thực hiện thành công kế hoạch “Hành động thập kỷ MeKong

6

xanh” và đảm bảo tính đồng nhất cho sự phát triển liên vùng, liên quốc gia một cách

bền vững. Thông qua phương pháp tổng hợp, nghiên cứu tài liệu, phương pháp

thống kê và điều tra khảo sát, bài viết đã tổng hợp việc phát triển du lịch bền vững

tại một số nước thuộc tiểu vùng sông MeKong cũng như thực trạng triển khai du

lịch bền vững tại đồng bằng sông Cửu Long nhằm đưa ra một số giải pháp phát

triển du lịch bền vững tại khu vực này.

Các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho tác giả cơ sở lý luận cùng những

kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc về phát triển bền vững. Tuy nhiên chưa có đề tài

nghiên cứu về Quản lý Nhà nước về Du lịch theo hướng phát triển bền vững tại

thành phố Hà Nội trong những năm qua. Do đó, đề tài tác giả lựa chọn không bị

trùng lắp với các nghiên cứu trước đây và có tính thực tiễn cao.

3. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng quản lý nhà nước về

phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất phương

hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền

vững trên địa bàn thành phố.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa lý luận quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững.

- Nghiên cứu thực trạng, đánh giá kết quả quản lý Nhà nước về phát triển du

lịch bền vững tại địa bàn thành phố Hà Nội.

- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển

du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu ở đề tài này là quản lý nhà

nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về nội dung: Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại

địa bàn thành phố Hà Nội

+ Phạm vi về không gian: Vấn đề “quản lý Nhà nước về phát triển du lịch bền

vững” được nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà ội.

7

+ Phạm vi về thời gian: Sử dụng các số liệu thống kê trong phạm vi 3 năm gần

nhất cụ thể là khoảng thời gian từ năm 2018 tới năm 2020, nêu ra các kiến nghị giải pháp

đến năm 2025.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Vấn đề lý luận được đúc rút từ các giáo trình, tài liệu chuyên ngành trong

nước, các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tài liệu, thông tin nội bộ từ

Cục Thống kê thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2018 - 2020.

5.2. Phương pháp xử lý dữ liệu

Luận văn sử dụng các phương pháp xử lý dữ liệu bao gồm phân loại, sắp xếp,

phân tích, so sánh, tổng hợp, sử dụng sơ đồ, bảng biểu.

6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt, phụ

lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát

triển bền vững trên địa bàn tỉnh.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng

phát triển bền vững tại thành phố Hà Nội.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng

phát triển bền vững tại thành phố Hà Nội.

8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

1.1. Tổng quan về phát triển du lịch bền vững

1.1.1. Các khái niệm liên quan

1.1.1.1. Khái niệm du lịch

Sau hội nghị Manila năm 1980 của Tổ chức Du lịch Quốc tế, định nghĩa du

lịch được nêu ra là “việc lữ hành của mọi người được bắt đầu từ mục đích không

phải là di cư hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển cá nhân về các

phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần cùng với đẩy mạnh sự hiểu biết và

hợp tác giữa mọi người”.

Du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người,

lúc đầu du lịch mới chỉ là những hiện tượng riêng lẻ và cá biệt của một nhóm người

nào đó, nhưng ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến.

Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu khác nhau “do hoàn

cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi

người có một cách hiểu về du lịch khác nhau”.[13; trang 7]

Tiếp cận trên góc độ nhu cầu của con người thì du lịch là một hiện tượng xã

hội, đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa

lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm việc làm và trong thời gian

đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được. Mặt khác có thể xem xét du lịch là một

hoạt động xảy ra khi con người vượt biên giới một nước hay ranh giới một vùng,

một khu vực nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú ở đó ít nhất 24 giờ

nhưng không quá một năm.

Hội nghị Liên Hợp quốc về du lịch họp ở Roma năm 1963 đã đưa ra định

nghĩa về du lịch như sau:"Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và

các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân

hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục

9

đích hòa bình”. Với cách tiếp cận nói trên bản chất của du lịch chủ yếu mới chỉ

được giải thích dưới góc độ là một hiện tượng, một hoạt động thuộc nhu cầu của

khách du lịch.

Tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch là một lĩnh vực kinh

doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu

trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú

với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.

Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các

điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du

khách. Du lịch tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng được tổ chức nhằm giúp

đỡ việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể. Du lịch là cơ hội để bán các sản

phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực

tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và

tinh thần của người dân địa phương.

Tiếp cận trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh

tế - xã hội. Trong giai đoạn hiện nay nó được đặc trưng bởi sự tăng nhanh khối

lượng và mở rộng phạm vi, cơ cấu dân cư tham gia vào quá trình du lịch của mỗi

nước, mỗi vùng trên thế giới. Thông qua du lịch, một mặt có thể làm tăng thu nhập,

nhưng mặt khác cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như: môi

trường, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn chốn ở....

Tiếp cận du lịch dưới góc độ của một ngành kinh tế: Du lịch là một ngành

tổng hợp của các lĩnh vực lữ hành, khách sạn, vận chuyển và tất cả các yếu tố cấu

thành khác kể cả xúc tiến quảng bá nhằm “phục vụ cho việc đi lại, nghỉ ngơi, ăn

uống, đón tiếp du khách đến nghiên cứu, tham quan”.

1.1.1.2. Khái niệm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà

không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai

trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề

xã hội và bảo vệ môi trường.

10

Phát triển bền vững bao gồm 4 nội dung chính: tăng trưởng kinh tế; bảo đảm

công bằng xã hội; bảo vệ môi trường và tôn trọng các quyền con người. Khái niệm

phát triển bền vững được xây dựng trên một nguyên tắc chung của sự tiến bộ loài

người - nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng giữa các thế hệ.

Phát triển bền vững thể hiện quan điểm nhân văn, hiện đại hơn hẳn so với

quan điểm "phát triển bằng bất kì giá nào", bởi phát triển bằng mọi giá, là khai thác

tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho hoạt động phát triển, không

tính đến sự ảnh hưởng của nó đến chính quá trình phát triển.

Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện rõ rệt lần đầu tiên trong “Chiến lược

bảo tồn thế giớï của Hiệp hội bảo tổn thiên nhiên quốc tế (IUCN) năm 1980, song

mới chỉ chủ yếu đề cập đến vấn đề bền vững sinh thái.

Ngày nay, định nghĩa được chấp nhận một cách rộng rãi và cũng là là định

nghĩa trong “Báo cáo Brunđtland' của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới

(WCED) của Liên hợp quốc năm 1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp

ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của các thế hệ

tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ.

Ủy ban WCED đã có những đóng góp đáng ghi nhận vào quá trình phát triển

bền vững:

- Thứ nhất, WCED đề ra trách nhiệm của thế hệ hiện tại phải đảm bảo những

cơ hội và lựa chọn phát triển của các thế hệ tương lai thông qua việc bảo vệ môi

trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

- Thứ hai, WCED đặt ra mục tiêu giảm nghèo ở các nước đang phát triển như

là một trục chính mà các nước cần phải vượt qua.

- Thứ ba, WCED đúc kết lại việc theo đuổi phát triển bền vững trong bối cảnh

nền kinh tế quốc tế bằng cách nhận ra rằng cần phải sắp xếp lại mô hình thương mại

quốc tế và dòng vốn cũng như phải đảm bảo được các nước đang phát triển sẽ có

ảnh hưởng lớn hơn trong các quan hệ kinh tế đó.

Như vậy, phát triển bền vững là một phương thức phát triển tổng hợp đa

ngành, liên ngành, thành chương trình hành động với nhiều tiêu chí ngày càng được

11

cụ thể và rõ nét. Phát triển bền vững, mang tính tất yếu và là mục tiêu cao đẹp của

quá trình phát triển. Là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế

tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng và

môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững. Do vậy, hệ thống

hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc

phát triển bền vững trong cả “ba thế chân kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường.

1.1.1.3. Khái niệm phát triển du lịch bền vững

Hiện nay, phát triển du lịch bền vững đang nhận được sự quan tâm đặc biệt

của nhiều quốc gia trên thế giới; tuy nhiên, đây là một phạm trù còn khá mới mẻ

nên còn nhiều quan điểm khác nhau:

Phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển du lịch ở một khu vực cụ

thể sao cho nội dung, hình thức và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời gian,

không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các

hoạt động phát triển khác.

Với cách tiếp cận là một hoạt động kinh tế, tác giả Machado định nghĩa: Du

lịch bền vững là “các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch,

ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp

ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy

tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự

nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương” [7, tr.13]. Theo định nghĩa trên,

tác giả mới chỉ tập trung vào tính bền vững của các hình thức du lịch (sản phẩm du

lịch), chứ chưa đề cập một cách tổng quát tính bền vững cho toàn ngành Du lịch.

Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới: “Du lịch bền vững là việc đáp

ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả

năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai” [20, tr.63]. Dựa trên quan

điểm phát triển bền vững thì định nghĩa trên là tương đối khái quát. Tuy nhiên, định

nghĩa này còn quá chung chung, chỉ mới đề cập sự đáp ứng nhu cầu của du khách

hiện tại và tương lai chứ chưa nói đến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương,

đến môi trường sinh thái, đa dạng sinh học.

12

Định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới: “Du lịch bền vững là việc phát triển

các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người

dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài

nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế

hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội,

thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa

dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc

sống con người” [7, tr.14]. Đây là một định nghĩa khá hoàn chỉnh, hàm chứa được

nội dung, các yếu tố liên quan đến du lịch bền vững. Định nghĩa này cũng đã chú

trọng đến cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản

sắc văn hóa.

Ở Việt Nam khái niệm phát triển du lịch bền vững đã được đề cập đến và cũng

xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Lương - Viện Nghiên cứu

Phát triển Du lịch cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là một hoạt động khai thác

một cách có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn nhu cầu đa

dạng của khách du lịch, có quan tâm đến lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm

bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn

vẹn văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi

trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” [25].

Ngoài ra, trong cuốn “Du lịch bền vững”, tác giả Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn

Hiếu đã chỉ ra 10 nguyên tắc phát triển du lịch bền vững [20, tr.65-66]; Hội đồng

khoa học của Tổng cục Du lịch cũng đã đưa ra 12 mục tiêu phát triển du lịch bền

vững [7, tr.15].

Các quan điểm trên thế giới cũng như Việt Nam đã đề cập nhiều đến mục tiêu,

nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững. Trên cơ sở kế thừa những quan niệm

của các học giả đi trước, kết hợp với thực tế nghiên cứu quá trình phát triển du lịch

ở thành phố Hà Nội, tác giả cho rằng: Phát triển du lịch bền vững là một hoạt động

kinh tế, dựa trên cơ sở khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch để tạo ra các sản phẩm

13

du lịch độc đáo, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của du khách, góp phần mở rộng

các nguồn lực sản xuất, duy trì ổn định và lâu dài các chỉ tiêu tăng trưởng, không

ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, thúc đẩy văn hóa - xã

hội địa phương phát triển, có đóng góp tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái,

giữ gìn tài nguyên du lịch cho các thế hệ tương lai và bảo đảm ổn định về quốc

phòng - an ninh, trật tự - toàn xã hội trên địa bàn.

1.1.2. Các nguyên tắc và tiêu chí phát triển du lịch bền vững

1.1.2.1. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa

cao, muốn phát triển bền vững đòi hỏi sự nỗ lực chung của toàn xã hội. Mục tiêu

của phát triển bền vững mang tới sự hài hòa giữa kinh tế - xã hội và môi trường

nhưng không làm ảnh hưởng tới tương lai. Để thực hiện những mục tiêu trên, cần

xác định được các nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững, lấy làm kim chỉ nam

cho những hoạt động tiếp theo, giúp du lịch phát triển bền vững trong tương lai.

Thứ nhất, khai thác sử dụng nguồn lực một cách hợp lý: Nguồn lực là tổng thể

vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường

lối chính sách, vốn và thị trường… ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai

thác nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch. Việc sử dụng, bảo tồn bền vững tài

nguyên thiên nhiên văn hóa xã hội là hết sức cần thiết đảm bảo cho sự phát triển lâu

dài, khai thác phục vụ hoạt động du lịch dựa trên sự tính toán nhu cầu hiện tại.

Thứ hai, giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên: Việc tiêu thụ

tài nguyên thiên nhiên ở mức vừa đủ một mặt giúp cho việc phục hồi tài nguyên

thiên nhiên, mặt khác giảm chất thải ra môi trường. Các tài nguyên thiên nhiên cần

được quy hoạch, quản lý tránh sự khai thác một cách ồ ạt hoặc phát triển nóng.

Thứ ba, duy trì bảo tồn sự đa dạng thiên nhiên, xã hội và nhân văn: Cần trân

trọng tính đa dạng của thiên nhiên, xã hội, môi trường của điểm đến, đảm bảo nhịp

độ, quy mô và loại hình phát triển du lịch, để bảo vệ tính đa dạng của văn hóa địa

phương. Xem xét quy mô và sức chứa của mỗi vùng, giám sát chặt chẽ các hoạt

động du lịch đối với động thực vật, lồng ghép các hoạt động du lịch vào các hoạt

14

động của cộng đồng dân cư, ngăn ngừa sự thay thế các ngành nghề truyền thống lâu

đời bằng các ngành nghề hiện đại. Phát triển du lịch phù hợp với văn hóa bản địa,

phúc lợi xã hội, nhu cầu của sự phát triển, đảm bảo quy mô, tiến độ của các loại

hình du lịch nhằm gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa du khách và dân cư sở tại...

Thứ tư, phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch tổng thể của kinh tế xã hội:

Sự tồn tại lâu dài của ngành Du lịch phải nằm trong khuôn khổ chiến lược của quốc

gia, vùng, địa phương về kinh tế - xã hội. Để đảm bảo sự phát triển, ngành Du lịch

cần phải tính tới nhu cầu trước mắt của cả người dân và du khách, trong quy hoạch

cần phải thống nhất các mặt kinh tế - xã hội, môi trường, tôn trọng chiến lược của

quốc gia, vùng, lãnh thổ, địa phương. Phát triển ngành Du lịch phải phù hợp với địa

phương, phù hợp với quy hoạch mà địa phương giao cho, sự phát triển đó mới bền

vững và lâu dài.

Thứ năm, phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế cho địa phương: Với tính đặc thù

liên ngành, phát triển bền vững không phải chỉ riêng nó mà kéo theo nhiều lĩnh vực

khác. Trong lĩnh vực du lịch, việc hỗ trợ cho ngành nghề khác không chỉ các doanh

nghiệp trực tiếp tham gia hoạt động du lịch mà còn hỗ trợ rất nhiều doanh nghiệp

gián tiếp tham gia vào hoạt động này, từ đó dẫn đến hỗ trợ kinh tế cho địa phương.

Thứ sáu, thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển bền

vững du lịch: Việc tham gia của cộng đồng địa phương là một nhân tố đảm bảo cho

phát triển du lịch bền vững. Khi cộng đồng địa phương được tham gia phát triển du

lịch sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho du lịch, vì sự tham gia của cộng đồng địa

phương sẽ gắn quyền lợi và trách nhiệm của mỗi cư dân đối với sự phát triển chung

của du lịch.

Thứ bảy, lấy ý kiến của nhân dân và các đối tượng có liên quan: Tham khảo ý

kiến của các bên liên quan và cộng đồng dân cư, các tổ chức trong và ngoài nước,

phi chính phủ, chính phủ với các ý kiến cho dự án, là nguyên tắc quan trọng trong

việc phát triển du lịch bền vững. Chia sẻ lợi ích của các bên nhằm mục đích hài hòa

về lợi ích trong quá trình thực hiện.

Thứ tám, chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực: Với phát triển du lịch

bền vững, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ vô cùng cần thiết. Lực

15

lượng lao động trong lĩnh vực du lịch đang thiếu hụt một lượng rất lớn, lao động

được đào tạo có trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được nhu cầu chung của ngành.

Một lực lượng lao động đào tạo kỹ năng thành thạo, không những mang lại lợi ích

về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.

Thứ chín, coi trọng công tác nghiên cứu khoa học du lịch: Để du lịch trở thành

ngành kinh tế chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững, hoạt động nghiên cứu khoa học

đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đào

tạo và thực hiện hoạt động phát triển du lịch. Các thành tựu khoa học công nghệ về

du lịch trong các lĩnh vực thời gian qua đã trở thành những nền tảng khoa học quan

trọng với tính ứng dụng thực tiễn cao, góp phần vào sự phát triển của ngành công

nghiệp du lịch.

1.1.2.2. Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững

Xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững là cơ sở

để các doanh nghiệp lữ hành, du khách, cơ quan quản lý và cộng đồng nhận thức và

hành động đúng trong quá trình phát triển du lịch. Theo đó, phát triển du lịch bền

vững cần có những tiêu chí sau đây:

Một là, tiêu chí về quy hoạch, quản lý du lịch.

Đây là cơ sở đầu tiên để xây dựng các tiêu chí khác. Phát triển bền vững phải

được đặt ra trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển, bắt đầu từ việc

thiết kế, thi công cơ sở hạ tầng du lịch: phải chấp hành những quy định về bảo tồn

di sản tại địa phương; tôn trọng những di sản thiên nhiên và phong tục tập quán của

địa phương trong công tác thiết kế; đánh giá được những tác động cả tích cực, tiêu

cực và áp dụng các phương pháp xây dựng bền vững phù hợp. Trong công tác quản

lý du lịch, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du

lịch cần thực hiện hệ thống quản lý chặt chẽ, phù hợp với quy mô và khả năng của

mình để góp phần giải quyết tốt các vấn đề về môi trường, văn hóa xã hội, sức khỏe

và an toàn cho cộng đồng; tuân thủ luật pháp và quy định có liên quan đến lĩnh vực

du lịch; tất cả nhân viên được đào tạo định kỳ về nhiệm vụ của họ trong quản lý môi

trường, văn hóa xã hội, sức khỏe và các thói quen an toàn; cần lấy ý kiến đánh giá

16

sự hài lòng của khách hàng để có các biện pháp điều chỉnh phù hợp; quảng cáo

đúng sự thật về các sản phẩm du lịch; cung cấp thông tin cho khách hàng về môi

trường du lịch, di sản, văn hóa địa phương, đồng thời giải thích cho họ những quy

định khi tham quan các khu vực tự nhiên, di sản văn hóa quốc gia và thế giới.

Hai là, tiêu chí về kinh tế.

Tiêu chí về kinh tế được đánh giá dựa trên sự phát triển ổn định và lâu dài của

sản phẩm du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh

tế của xã hội và đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là cho người dân địa

phương nơi có tiềm năng du lịch. Lấy doanh thu hay mức tăng GDP, GNP từ ngành

Du lịch là tiêu chí quan trọng để bảo đảm sự tồn tại cho hoạt động du lịch, song

phải đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, hiệu quả và bền vững. Tổ chức kinh doanh

các sản phẩm du lịch dựa trên điều kiện về thiên nhiên, lịch sử và văn hóa địa

phương (bao gồm thức ăn, nước uống, sản phẩm thủ công, nghệ thuật biểu diễn và

các mặt hàng nông sản) nhằm không ngừng thu hút, gia tăng số lượng du khách đến

tham quan và quay trở lại các điểm du lịch; chú trọng việc sử dụng hợp lý tài

nguyên du lịch trong quá trình sản xuất kinh doanh, tận dụng tối đa các nguồn tài

nguyên có thể tái tạo; chủ động chia sẻ lợi nhuận thu được từ kinh doanh du lịch (tài

chính, nhân lực hoặc vật chất) để hỗ trợ các hoạt động phục vụ cộng đồng với mục

tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Ba là, tiêu chí về môi trường, sinh thái.

Du lịch có mối quan hệ gắn bó mật thiết với môi trường, sinh thái. Vì vậy,

phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải khai thác và sử dụng hợp lý (không vượt

quá khả năng tự phục hồi) các nguồn tài nguyên tái sinh và không tái sinh, tìm cách

gia tăng sự bền vững của môi trường và giảm nhẹ tác động tiêu cực, vừa đảm bảo

nhu cầu hiện tại cũng như nhu cầu của thế hệ mai sau. Có biện pháp tích cực trong

bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (ưu tiên phát triển những sản phẩm du lịch, dịch vụ

thân thiện môi trường; cân nhắc thận trọng khi xây dựng các sản phẩm tiêu dùng

khó phân hủy và hạn chế sử dụng các sản phẩm ảnh hưởng không tốt tới môi trường

sinh thái; thực hiện các hoạt động tiết kiệm năng lượng đồng thời ứng dụng các

17

công nghệ tiết kiệm năng lượng mới, khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo; có

biện pháp sử dụng lượng nước hợp lý, lắp các thiết bị tiết kiệm nước, thu hồi và sử

dụng nước mưa); giảm thiểu ô nhiễm môi trường (kiểm soát lượng khí thải, thay

mới các công nghệ sản xuất nhằm hạn chế hiệu ứng nhà kính, hướng đến cân bằng

khí hậu; phân loại rác thải để xử lý riêng; sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường

(sản phẩm làm từ vật liệu tái chế, chất tẩy rửa có nguồn gốc hữu cơ, sản phẩm có

nhãn xanh), hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu, sơn, thuốc tẩy,

thay thế bằng các sản phẩm không độc hại, quản lý chặt chẽ các hóa chất được sử

dụng; áp dụng các quy định giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, nước thải, chất

gây xói mòn, hợp chất gây suy giảm tầng ôzôn và chất làm ô nhiễm không khí, đất;

tham gia vào các chiến dịch về môi trường hay biến đổi khí hậu của địa phương và

quốc tế (chương trình Giờ trái đất, trồng cây xanh, đi xe đạp…); bảo tồn đa dạng

sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên (không bắt giữ và tiêu thụ động vật

hoang dã; không bán quà lưu niệm, thực phẩm, món ăn làm từ động, thực vật hoang

dã được bảo vệ theo pháp luật và các công ước quốc tế; có chính sách, chương trình

đào tạo, bảng thông tin phổ biến luật về bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái, cảnh

quan, khai thác, mua bán động, thực vật hoang dã cho nhân viên và khách hàng;

đóng góp ủng hộ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học; hạn chế mọi tác động tiêu

cực lên hệ sinh thái tự nhiên, cảnh quan môi trường).

Bốn là, tiêu chí về văn hóa.

Phát triển du lịch mà các giá trị văn hóa bị hủy hoại hoặc biến dạng sẽ không

còn đủ sức thuyết phục, hấp dẫn du khách. Do vậy, du lịch bền vững phải dựa trên

cơ sở gia tăng lợi ích đối với các di sản văn hóa và giảm nhẹ các tác động tiêu cực;

quá trình khai thác vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại, suy thoái

các giá trị văn hóa truyền thống đã có và để lại hậu quả xấu cho các thế hệ tiếp theo.

Tiêu chí về văn hóa đòi hỏi phải: Tuân thủ các hướng dẫn và quy định về hành

vi ứng xử khi tham quan các điểm văn hóa hay lịch sử, nhằm giảm nhẹ các tác động

từ du khách; cung cấp, hướng dẫn và giải thích cho du khách thông tin về di sản văn

hóa, di sản thiên nhiên tại địa phương để du khách có thái độ và hành vi phù hợp

18

khi tham quan các điểm du lịch; thể hiện nét văn hóa, truyền thống của địa phương

trong kiến trúc, các dịch vụ của cơ sở lưu trú; tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của dân

cư bản địa khi sử dụng nghệ thuật, kiến trúc, các di sản văn hóa của địa phương

trong hoạt động kinh doanh, thiết kế, trang trí, ẩm thực; có trách nhiệm đóng góp

cho công tác bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, khảo cổ hay các sản vật có ý nghĩa

quan trọng về tinh thần, hỗ trợ địa phương phát triển các loại hình văn hóa dân tộc;

không mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di

sản văn hóa vật thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật

quốc gia ra nước ngoài; không lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử - văn hoá,

danh lam thắng cảnh.

Năm là, tiêu chí về xã hội.

Du lịch bền vững phải không ngừng nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc

sống cho tất cả mọi người, góp phần ổn định xã hội. Nó phải là công cụ trong việc

xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa địa

phương. Theo đó, trong quá trình phát triển du lịch cần ưu tiên sử dụng các dịch vụ

và hàng hoá là sản phẩm nội địa hoặc sản phẩm, nguyên liệu được sản xuất tại địa

phương nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên; hỗ trợ các nhà cung ứng của địa

phương phát triển, xúc tiến và bán các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc thù của địa

phương tại cơ sở lưu trú du lịch; thực hiện tốt chính sách chống bóc lột thương mại,

bóc lột tình dục, đặc biệt đối với trẻ em chưa đến tuổi thành niên; công bằng trong

việc tuyển dụng phụ nữ, người dân tộc thiểu số ở địa phương, kể cả vị trí quản lý,

có chính sách riêng hỗ trợ nhân viên nữ (chế độ thai sản, đào tạo, tư vấn sức khỏe

sinh sản…); tuân thủ luật pháp quốc tế và quốc gia về bảo vệ nhân công và chi trả

lương đầy đủ.

Sáu là, tiêu chí về quốc phòng - an ninh, trật tự - an toàn xã hội.

Du lịch phát triển, mở cửa thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, là điều

kiện để các thế lực thù địch, tội phạm quốc tế, đối tượng hình sự và tệ nạn xã hội trà

trộn, len lỏi theo con đường du lịch để tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật

tự tại địa phương.

19

Theo Luật Du lịch Việt Nam, một trong những nguyên tắc về phát triển du lịch

phải “bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng - an ninh, trật tự - an toàn xã hội”.

Do vậy, cần sự phối hợp chặt chẽ, liên ngành từ Trung ương đến địa phương, giữa

lực lượng quân đội, công an, cơ quan quản lý du lịch, doanh nghiệp kinh doanh du

lịch, chính quyền, nhân dân địa phương trong phát triển du lịch. Kết hợp phát triển

du lịch với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh ngay từ công tác quy hoạch,

xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển của mỗi ngành, mỗi cơ quan, đơn vị; tổ

chức triển khai thực hiện tốt “Quy chế phối hợp đảm bảo an ninh trật tự” trên các

tuyến, điểm du lịch, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo vệ

an ninh trật tự khu du lịch; xây dựng lực lượng quân đội và công an thực sự là lực

lượng nòng cốt trong củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật

tự - an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch; tăng cường quản

lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch, không để kẻ địch lợi dụng phá hoại các mục

tiêu, công trình kinh tế, văn hoá, an ninh - quốc phòng hay thực hiện “Diễn biến hòa

bình”, “Bạo loạn lật đổ” chống đối Đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết

toàn dân; nghiêm cấm các hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật hay

truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ, mê tín, dị đoan; đấu tranh có hiệu quả với bọn tội

phạm hình sự, tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự trên các tuyến, điểm du lịch,

không để tồn tại băng nhóm gây rối an ninh trật tự…

1.2. Quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền vững trên địa

bàn tỉnh

1.2.1. Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1. Khái niệm Quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại

cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn

liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước - bộ phận quan trọng của

quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội.

Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực

thi quyền lực nhà nước.

20

Hiện nay, quyền lực nhà nước ở mọi quốc gia trong quá trình thực thi đều được

chia thành ba bộ phận cơ bản là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.

- Quyền lập pháp là quyền ban hành và sửa đổi Hiến pháp và Luật, tức là

quyền xây dựng các quy tắc pháp lý cơ bản để điều chỉnh tất cả các mối quan hệ xã

hội theo định hướng thống nhất của nhà nước. Quyền lập pháp do cơ quan lập pháp

thực hiện.

- Quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật, tức là quyền chấp hành luật và

tổ chức quản lý các mặt của đời sống xã hội theo pháp luật. Quyền này do cơ quan

hành pháp thực hiện, bao gồm cơ quan hành pháp Trung ương và hệ thống cơ quan

hành pháp ở địa phương.

- Quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật do cơ quan tư pháp (trước hết là hệ

thống Tòa án) thực hiện.

Ở Việt Nam, “quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối

hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi ba quyền lập pháp,

hành pháp và tư pháp” [2, tr5]. Theo cơ chế đó, quyền lập pháp được trao cho một

cơ quan duy nhất thực hiện là Quốc hội. Quyền hành pháp được trao cho Chính phủ

và bộ máy hành chính địa phương thực hiện bao gồm quyền lập quy và điều hành

hành chính. Quyền tư pháp được trao cho hệ thống Viện kiểm sát nhân dân các cấp

và hệ thống Tòa án nhân dân các cấp thực hiện.

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các

cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên

tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính

cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy

trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống

nhất của Nhà nước.

1.2.1.2. Khái niệm Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững trên địa

bàn tỉnh

Hoạt động du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi có sự quản lý của Nhà nước để

duy trì và phát triển bền vững. Việc thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào

21

khung pháp lý và những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển

của đất nước. Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững là một lĩnh vực của

quản lý nhà nước, là hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước nhằm quản lý vi

mô các hoạt động du lịch thông qua hệ thống các chính sách, chương trình, văn bản

quy phạm pháp luật các văn bản chỉ đạo, điều hành về lĩnh vực du lịch nhằm tạo

điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực du lịch.

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp từ những quan điểm khác nhau đối với quản

lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững, có thể đưa ra định nghĩa tổng quát như

sau: “Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững là sự tác động có tổ chức và

được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước (qua hệ thống pháp luật) đối với các quá

trình, hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng bền vững

các hoạt động du lịch trong nước và quốc tế nhằm đạt được hiệu quả về kinh tế, tự

nhiên và xã hội đã đặt ra”. Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững nhằm

đưa du lịch phát triển bền vững theo định hướng chung của tiến trình phát triển đất

nước và theo quy định của pháp luật.

Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh là sự tác

động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật của chính quyền địa phương đối

với các quá trình, hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng

bền vững các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh nhằm đạt được hiệu quả về kinh tế,

tự nhiên và xã hội của tỉnh.

1.2.1.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững trên

địa bàn tỉnh

Nhà nước ra đời là nhằm thực hiện vai trò, chức năng quản lý mọi mặt của đời

sống kinh tế - xã hội. Bất cứ một lĩnh vực hoạt động nào cũng cần đến sự quản lý,

điều tiết của nhà nước nhằn đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế và đáp ứng

nhu cầu ngày càng cao của con người, và du lịch cũng không ngoại lệ. Du lịch là

một hiện tượng, một yếu tố cấu thành nên các hình thái kinh tế xã hội. Bên cạnh các

quy luật chung, nó hình thành, vận động và phát triển theo những quy luật riêng của

22

mình. Thực chất quá trình quản lý các hoạt động du lịch là việc tác động đến chúng

nhằm thực hiện các mục tiêu đã định trước. Chính vì vậy, để đảm bảo cho ngành

kinh tế du lịch phát triển ổn định, bền vững, phát huy được tối đa những lợi ích và

những hạn chế, tiêu cực thì cần phải có sự quản lý của nhà nước. Nhà nước cần thể

hiện vai trò của mình để đảm bảo ngành du lịch phát triển bền vững theo định

hướng, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nhà nước là người đại diện cho nhân dân để đảm bảo các quyền trong hiến

pháp của công dân nói chung và văn hóa nói riêng, điều tiết sự phát triển hài hòa,

phù hợp với sự phát triển bền vững của du lịch, lợi ích văn hóa của các nhóm xã

hội, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn du lịch của các dân tộc, các vùng miền trên

lãnh thổ cả nước. Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể để can thiệp vào

hoạt động du lịch nhằm tạo ra môi trường du lịch lành mạnh, phân bổ các nguồn lực

một cách tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hòa,

phù hợp với giá trị và văn hóa của một quốc gia, một vùng, một địa phương. Mặt

khác, với tính chất mà một ngành kinh tế - xã hội mang lại những hiệu quả tổng

hợp, cũng như các ngành kinh tế khác, du lịch muốn phát triển bền vững không thể

đặt ngoài sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.

Sự quản lý của nhà nước đảm bảo cho du lịch phát triển ổn định, bền vững,

phát huy tối đa những lợi thế và hạn chế của những mặt trái. Điều này xuất phát từ

bản chất của du lịch là một lĩnh vực kinh tế mang tính đặc thù rõ nét, bên cạnh các

quy luật chung, du lịch được hình thành, vận động và phát triển theo những quy luật

riêng của mình. Theo đó, ngoài những tác động tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh tế

- xã hội của đất nước, hoạt động này cũng làm nảy sinh nhiều mặt tiêu cực, đặc biệt

là đối với môi trường. Chính vì vậy, để đảm bảo cho ngành du lịch phát triển bền

vững không thể thiếu sự quản lý của nhà nước.

Nhà nước định hướng sự phát triển bền vững của du lịch bằng chiến lược, quy

hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của hoạt

động du lịch và ngành du lịch. Cụ thể là nhà nước không buông lỏng hay thả nổi

công tác quy hoạch, kế hoạch nhưng phải đổi mới công tác đó cho phù hợp với yêu

23

cầu xã hội, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế

quốc tế. Cần phát huy tối đa mọi lợi thế về du lịch và các hoạt động phục vụ du lịch

của quốc gia, vùng và địa phương. Thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh

tế - xã hội nói chung và của ngành du lịch nói riêng. Thông qua các chiến lược, quy

hoạch, kế hoạch phát triển bền vững ngành du lịch, nhà nước sẽ định hướng cho các

hoạt động du lịch phát triển bền vững theo hướng tích cực với việc khai thác hiệu quả

và bền vững các tài nguyên du lịch, nhất là tài nguyên du lịch tự nhiên và lịch sử.

Sự quản lý của nhà nước sẽ giúp cho các chủ thể kinh doanh du lịch hoạt động

trong khuôn khổ cho phép, xóa bỏ dần các hành vi cạnh tranh không lành mạnh,

thiếu văn minh, hoặc đơn thuần chỉ chạy theo lợi nhuận mà phá hoại môi trường

sinh thái, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội. Cơ quan quản lý nhà

nước không chỉ đơn thuần là kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp

mà còn có vai trò quan trọng trong việc giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc

trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các

doanh nghiệp được phát triển hoạt động kinh doanh của mình.

Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu buông lỏng

quản lý nhà nước để tự nó phát triển, hoạt động du lịch sẽ bị chệch hướng, thị

trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, không đảm bảo phát

triển du lịch bền vững.

1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền vững

trên địa bàn tỉnh

1.2.2.1. Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch về phát triển du lịch bền vững

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phức tạp, do

đó, nhà nước phải đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển

du lịch và dùng công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch để thúc đẩy du lịch phát

triển nhanh và bền vững, trở thành kinh tế mũi nhọn của quốc gia. Để làm được

điều này, nhà nước phải xác định được chiến lược tổng thể phát triển du lịch bền

vững phù hợp với điều kiện đất nước, vừa phát huy được tính đặc thù, huy động

được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch, vừa phù hợp với thông lệ

quốc tế, vừa tranh thủ được nguồn lực bên ngoài.

24

Trong hoạt động kinh doanh, mục tiêu cuối cùng là các đơn vị kinh doanh có

lợi nhuận. Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí,

kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa

phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng các khu,

điểm du lịch,…hoặc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật như nhà hàng, khách

sạn. Vì thế, nhà nước phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và tổ chức thực hiện

các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch bền vững của đất nước.

Phát triển bền vững chủ trương ủng hộ việc lưu lại cho các thế hệ tương lai

một nguồn tài nguyên thiên nhiên không kém so với cái mà thế hệ trước đã được

hưởng, ngăn ngừa trước những thay đổi mà có thể tránh được đối với những tài

nguyên môi trường không thể tái tạo, thay thế, tính vào chi phí các hoạt động kinh

tế, dịch vụ được mô trường thiên nhiên cung cấp những dịch vụ này không phải là

“hàng hóa cho không”. Các nguyên tắc như vậy cũng được áp dụng đối với tài

nguyên nhân văn. Chúng ta cần trân trọng các nền văn hóa địa phương, truyền

thống dân tộc, kế sinh nhai và đất đai mà người ta dựa vào để sống.

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao. Chính vì

vậy, mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy

hoạch tổng thể kinh tế – xã hội của địa phương, của vùng kinh tế. Du lịch được thiết

lập đúng đắn sẽ tăng cường các giá trị về tài sản môi trường, bảo vệ các loài quý

hiếm và mang lại sự cải thiện đối với cộng đồng địa phương. Những nơi mà du lịch

không kết hợp với các ngành khai thác thông qua quy hoạch có chiến lược thì du

lịch sẽ bung ra nhanh chóng và khó kiểm soát được nền kinh tế địa phương. Hợp

nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia và

địa phương, tiến hành đánh giá tác động môi trường làm tăng khả năng tồn tại lâu

dài của ngành du lịch.

1.2.2.2. Ban hành các văn bản pháp luật về phát triển du lịch bền vững

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng từ các quy định

chính sách, pháp luật của Nhà nước, buộc mọi người phải tuân thủ theo.

25

Để các quy định, chính sách đó đi vào cuộc sống thì Nhà nước phải xây dựng,

ban hành và tổ chức thực hiện chúng một cách nghiêm chỉnh. Như vậy, muốn quản

lý sự phát triển ngành du lịch tại địa phương, các cơ quan nhà nước ở địa phương

cần chỉ đạo thực hiện các luật lệ, chính sách của Trung ương ban hành có hiệu quả ở

địa phương mình, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương xuất

phát từ yêu cầu quản lý phát triển ngành ở địa phương nhưng không trái với luật

pháp của Nhà nước. Mục đích là thiết lập môi trường pháp lý để đưa các hoạt động

du lịch vào khuôn khổ, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển bền vững. Tăng

cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản, các chính sách, pháp

luật du lịch trên địa bàn, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật. Không

tùy tiện thay đổi các chính sách của mình, xóa bỏ các văn bản cũ trái với các văn

bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lắp gây khó khăn cho hoạt động du lịch.

Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo theo đúng quy

định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, vừa phải thông

thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển.

Phải đảm bảo tính ổn định, bình đẳng và nghiêm minh trong quá trình thực thi văn

bản quy phạm pháp luật.

1.2.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững

Du lịch là hoạt động mang tính liên ngành, do đó quản lý nhà nước đối với

phát triển du lịch bền vững phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị

trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi

cho mọi hoạt động du lịch phát triển bền vững. Và để thực hiện tốt điều này, bộ máy

quản lý nhà nước phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ Trung

ương đến địa phương, đồng thời các cơ quan trong bộ máy đó phải luôn được phối

hợp chặt chẽ với nhau để đảm bảo du lịch luôn có sự thống nhất trong tổ chức và

hoạt động.

Hiện nay, theo quy định của Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì hoạt động du

lịch chịu sự quản lý thống nhất của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi

nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phát

26

triển du lịch bền vững. Chính phủ trao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý

nhà nước về phát triển du lịch bền vững và chịu trách nhiệm trước Chính phủ. Bộ,

cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân

công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về phát

triển du lịch bền vững ở Trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về phát

triển du lịch bền vững.

Tổng cục Du lịch là tổ chức trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực

hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý

nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về phát triển du lịch bền vững trong phạm vi

cả nước, quản lý các dịch vụ công về du lịch theo quy định của pháp luật. Ủy ban

nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn

của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà

nước về phát triển du lịch bền vững tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy

hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch bền vững phù hợp với thực tế

tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi

trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. Các cơ quan quản

lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương phải thống nhất và luôn giữ mối

quan hệ chặt chẽ, liên quan mật thiết với nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp

luật và thực hiện quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững.

1.2.2.4. Xây dựng nguồn nhân lực ngành du lịch có chất lượng

Cũng như các lĩnh vực khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động du

lịch cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này. Bởi lẽ, từ cạnh

tranh toàn cầu, cạnh tranh quốc gia, giữa các ngành các doanh nghiệp cho đến cạnh

tranh từng sản phẩm suy cho cùng là cạnh tranh bằng trí tuệ của nhà quản lý và chất

lượng nguồn nhân lực. Để hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa

phương phát triển, việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng

nguồn nhân lực cho hoạt động phát triển du lịch bền vững cần được quan tâm thực

hiện thường xuyên. Đặc biệt, những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển du

lịch bền vững cần phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng

27

nguồn nhân lực, có như vậy mới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần

thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Sự tham gia của cộng đồng địa phương là rất cần thiết cho ngành du lịch.

Người dân địa phương với nền văn hóa bản địa, môi trường, lối sống và truyền

thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch đến với một điểm

du lịch, đồng thời cũng hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu sống của người dân địa phương,

bảo vệ môi trường thiên nhiên và văn hóa của họ và sự tham gia của cộng đồng địa

phương cũng làm phong phú thêm các loại hình và sản phẩm du lịch. Hơn nữa, khi

cộng đồng địa phương được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch thì sẽ tạo ra được

những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng sở tại là chủ nhân và

là người có trách nhiệm chính với tài nguyên và môi trường khu vực. Điều này sẽ

tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch. Sự tham gia của cộng đồng địa

phương vào hoạt động du lịch được thực hiện thông qua việc khuyến khích họ sử

dụng các phương tiện, các cơ sở vật chất của mình để phục vụ khách du lịch như

chuyên chở, thuyết minh hướng dẫn du khách,…

Khuyến khích cộng đồng địa phương cùng làm du lịch không chi qua những

việc làm có thu nhập thấp, theo mùa và những việc phục vụ như bồi bàn, dọn phòng

mà nên có những công việc ở mức cao hơn và những công việc quản lý có thu nhập

cao thường do người nước ngoài làm thì người dân địa phương cũng có thể đảm

đương bởi họ cũng có kinh nghiệm và sự hiểu biết đặc biệt về địa phương mình để

góp phần không nhỏ cho sự phát triển du lịch của địa phương mình.

Việc đào tạo đúng mức và nhận thức của người học về tầm quan trọng và tính

chất phức tạp của du lịch sẽ giúp cho việc nâng cao lòng tự hào nghề nghiệp và tăng

cường sản phẩm du lịch đối với du khách và ngành du lịch. Việc đào tạo phải bao

gồm cả giáo dục đa văn hóa nhằm tăng cường sự hiểu biết và cảm nhận khác nhau

về văn hóa và làm cho nhân viên du lịch và học viên nắm được nhu cầu của khách

và cả chủ nhà. Điều đó cũng góp phần loại bỏ các thành kiến không tốt và tư tưởng

bài ngoại.

Lợi ích lâu dài cho mọi người đòi hỏi việc đào tạo và sử dụng nhân viên là

người địa phương, điều này được áp dụng đặc biệt đối với các cán bộ tổ chức và

28

hướng dẫn viên có kiến thức sâu rộng và mối quan tâm lớn trong vùng và việc tham

gia của họ sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ. Đào tạo nhân viên địa phương không chỉ

hạn chế trong những công việc đơn giản, có vị trí thấp và mức lương thấp. Việc đào

tạo nhân viên, trong đó có lồng ghép vấn đề du lịch bền vững vào thực tiễn công

việc, cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương vào mọi cấp sẽ làm tăng chất

lượng du lịch.

1.2.2.5. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch và quản lý các hoạt động

kinh doanh du lịch

Cơ sở hạ tầng là một thuật ngữ tổng hợp dùng để chỉ những bộ phận kết cấu,

nền tảng cho việc phát triển nền kinh tế.

Xét trên phương diện hình thái, cơ sở hạ tầng là những tài sản hữu hình gồm

đường xá, cầu cống, hệ thống thủy lợi, các công trình công cộng, các công trình hạ

tầng kỹ thuật, lực lượng lao động tri thức… Dựa trên cơ sở có sẵn, các hoạt động

kinh tế, văn hóa, xã hội luôn được duy trì và phát triển. Đây cũng chính là những

công trình thuộc hạ tầng xã hội hoặc hạ tầng cơ sở theo quy định tại Mục 1.2 Quy

chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2008/BXD.

Xét trên phương diện kinh tế hàng hóa thì cơ sở hạ tầng là một loại hàng hóa

công cộng. Loại hàng hóa này dùng để phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội.

Xét trên phương diện đầu tư, cơ sở hạ tầng là kết quả, sản phẩm của quá trình

đầu tư được gom góp lại qua nhiều thế hệ. Nó được coi là một bộ phận giá trị, tiết

kiệm quốc gia, được đầu tư đáp ứng mọi yêu cầu, mục tiêu phát triển trên mọi mặt

của đất nước.

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật được ví như việc “mở đường”

để đón làn sóng đầu tư vào du lịch. Đồng thời, góp phần kết nối các khu, điểm, tour,

tuyến du lịch nội và ngoại tỉnh một cách hiệu quả.

Về bản chất, kinh doanh du lịch chính là tổng hòa mối quan hệ giữa kinh tế

của các hoạt động liên quan đến du lịch và các hiện tượng kinh tế. Các hoạt động

được hình thành dựa trên sự phát triển của các sản phẩm và quá trình trao đổi mua

bán hàng hóa du lịch trên thị trường.

29

Sự vận hành hoạt động kinh doanh du lịch là việc trao đổi sản phẩm liên

quan đến du lịch giữa người mua (du khách) và người bán (người kinh doanh dịch

vụ du lịch).

Quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch là sự tác động bằng quyền lực của

Nhà nước đối với các hoạt động du lịch nhằm tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và

hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển du lịch mà vẫn bảo tồn được tài nguyên, duy

trì và phát triển văn hoá, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ

chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia

phát triển du lịch.

1.2.2.6. Tổ chức việc kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý

vi phạm pháp luật về phát triển du lịch bền vững

Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như khai

thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái,

những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa

phương…Do đó, cơ quan nhà nước phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác

kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động phát triển du lịch bền vững để

phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra. Để thực

hiện tốt nội dung này, cơ quan nhà nước cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ

biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các điểm,

khu du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng ký và hoạt động theo đăng ký kinh

doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú,

kinh doanh lữ hành,...đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về

phát triển du lịch bền vững trên địa bàn.

1.2.3. Nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về du lịch theo hướng phát

triển bền vững

1.2.3.1. Các nhân tố khách quan

a) Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Là một hoạt động đặc trưng, du lịch chỉ phát triển một cách bền vững trong

những điều kiện cho phép. Trong những điều kiện này có những điều kiện mang đặc

tính chung thuộc về các mặt của đời sống xã hội, bên cạnh đó do đặc điểm vị trí địa

lý từng vùng mà nó tạo nên những tiềm năng du lịch khác nhau.

30

Điều kiện tự nhiên là toàn bộ các điều kiện môi trường tự nhiên như: địa hình

đa dạng; khí hậu ôn hòa; nguồn động, thực vật phong phú; vị trí địa lý thuận lợi, có

nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn…Đây là cơ sở cho quy hoạch phát

triển du lịch bền vững và các biện pháp chính sách để phát triển sản phẩm du lịch,

khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch. Những yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài

nguyên thiên nhiên thuận lợi đã giúp cho việc hoạch định phát triển du lịch bền

vững và đưa ra thực thi các quyết định quản lý nhà nước về du lịch.

b) Kinh tế xã hội

Tình hình phát triển kinh tế của đất nước và địa phương là nhân tố quan trọng

tác động tới sự phát triển bền vững của du lịch và quản lý du lịch. Khi kinh tế phát

triển ổn định với môi trường chính sách thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức,

doanh nghiệp và du khách thuận lợi tham gia vào các hoạt động du lịch, điều đó

cũng thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước. Trong thực tế, sự ổn định chính trị và

xã hội được một số nghiên cứu xem như là một đặc điểm của sản phẩm du lịch ảnh

hưởng trực tiếp đến cầu của nhiều phân đoạn thị trường du lịch. Khi các điều kiện

kinh tế, chính trị và xã hội của một điểm du lịch biến động nhiều hơn khả năng dự

trữ nguồn tài nguyên thì chúng có thể là nguyên nhân làm vai trò và sự đóng góp

của ngành du lịch trong GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) không ổn định.

Cơ sở vật chất kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp cũng như chất

lượng dịch vụ du lịch cung cấp cho khách hàng. Có hai loại cơ sở vật chất kỹ thuật

đó là: cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cơ sở hạ tầng xã hội. Các thành tựu kinh tế,

chính trị cũng có sức thu hút đối với nhiều khách du lịch. Các cuộc triển lãm thành

tựu kinh tế, kỹ thuật là một ví dụ cho việc thu hút du khách. Các thương nhân tìm

đến để thiết lập quan hệ, quảng bá sản phẩm. Khách tham quan tìm đến để thỏa mãn

những mối quan tâm, hiếu kỳ. Các nhà nghiên cứu tìm đến để quan sát, xem xét và

học hỏi,….

c) Đường lối phát triển du lịch bền vững

Đường lối phát triển du lịch bền vững có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với

mỗi quốc gia, bởi đây chính là chìa khóa mang lại sự thành công cho ngành công

31

nghiệp được ví như “con gà đẻ trứng vàng”. Đường lối phát triển du lịch bền vững

được biểu hiện cụ thể qua các chính sách, chiến lược xác định phương hướng, mục

tiêu phát triển du lịch bền vững về tổng thể dài hạn như: chiến lược đầu tư, xúc tiến,

quảng bá du lịch, chiến lược về sản phẩm, nâng cao chất lượng các dịch vụ, giữ gìn

tôn tạo và phát triển tài nguyên môi trường đi kèm với đó là những giải pháp cơ bản

nhất để nhằm thực hiện chiến lược. Nó góp phần hỗ trợ và giúp các nhà quản lý chủ

động trong kế hoạch đầu tư phát triển ngành du lịch bền vững, tạo cơ sở xây dựng

các quyết sách đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế. Như vậy, có thể nói việc

xây dựng được chiến lược phát triển bền vững, đưa ra được những bước đi đúng

hướng sẽ tạo cho ngành du lịch có những bước đột phá mới trong tiến trình hoạt

động, ngược lại, nếu đưa ra những đường hướng không phù hợp với quy luật và

thực tế phát triển nói chung sẽ trở thành nguyên nhân kìm hãm du lịch phát triển

bền vững.

Sự phát triển bền vững của du lịch là đối tượng của quản lý nhà nước du lịch

trên địa phương hay lãnh thổ nào đó. Hoạt động du lịch tốt thể thiện qua sự phát

triển bền vững của du lịch. Khi du lịch phát triển một cách bền vững, quy mô của nó

ngày càng lớn hơn, phạm vi mở rộng hơn và chất lượng cao hơn cũng như nhiều

quan hệ phát sinh và phức tạp hơn. Hay nói cách khác, đối tượng của quản lý nhà

nước du lịch vận động và thay đổi theo thời gian và theo quy luật kinh tế khách

quan. Trong khi các quyết định của quản lý nhà nước mang tính chủ quan, chỉ có

hiệu lực nếu phù hợp và có tính khoa học cao. Do đó, quản lý nhà nước du lịch cũng

luôn phải đổi mới toàn diện từ hoạch định, tổ chức, điều hành đến kiểm soát và điều

chỉnh. Chỉ có như vậy quản lý nhà nước mới có hiệu lực thật sự.

1.2.3.2. Các nhân tố chủ quan

a) Các quy định của pháp luật về quản lý ngành du lịch trên phạm vi cả nước

cũng như trên địa bàn tỉnh:

Các văn bản pháp luật chính là cơ sở pháp lý tạo hành lang an toàn, quy chuẩn

cho các hoạt động và kinh doanh du lịch. Chính quyền các cấp cần chú trọng ban

hành các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các văn bản mang tính pháp lý - hành

32

chính để cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương, quan điểm chỉ đạo, chính

sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước trên địa bàn tỉnh phù hợp với điều kiện và

đặc điểm của địa phương. Thông qua đó, đảm bảo quá trình gắn kết lợi ích giữa Nhà

nước và nhân dân; vừa nhằm đạt được các mục tiêu của nhà nước vừa thực hiện ý

chí, nguyện vọng của nhân dân.

b) Định hướng, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

của tỉnh:

Thông qua việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các định hướng,

chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội sẽ huy động các nguồn

lực hiện có của địa phương và sự hỗ trợ từ trung ương vào việc thúc đẩy phát triển

kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lịch Tỉnh nói riêng.

c) Chính sách thuế, giá của các cơ quan quản lý du lịch ở Trung ương và các

cấp của tỉnh cũng như của các tổ chức kinh doanh du lịch:

Đây được coi là các công cụ mang tính chất đòn bẩy, có thể kích thích hoặc

kìm hãm sự phát triển của ngành Du lịch. Chẳng hạn chính sách giảm giá các dịch

vụ - hàng hóa phục vụ du lịch trước và sau thời vụ du lịch chính, hoặc dùng các

hình thức khuyến mãi để kéo dài thời gian, thời vụ du lịch.

d) Vai trò, năng lực, hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương các cấp

của tỉnh trong việc quản lý chung cũng như quản lý ngành Du lịch:

Vấn đề bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; khả

năng tổ chức quản lý và khai thác, sử dụng các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội,

du lịch của tỉnh; khả năng tổ chức cung cấp các dịch vụ công (cả dịch vụ hành chính

công và dịch vụ công cộng) để đáp ứng yêu cầu của QLNN trên địa bàn và nhu cầu

của công dân và tổ chức; tính chủ động trong việc hỗ trợ xúc tiến đầu tư phát triển

thị trường du lịch.

e) Nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch:

Vốn là một trong những nguồn lực rất quan trọng để ngành Du lịch của tỉnh có

sức phát triển. Cần có chính sách hỗ trợ vay vốn và đổi mới về cơ chế cho vay để

tăng khả năng tiếp cận vốn vay của tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh du lịch,

33

tạo ra một môi trường bình đẳng trong tiếp cận tín dụng mà không phân biệt thành

phần sở hữu; xem xét sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để tăng nguồn vốn cho

ngành kinh tế này; nhân rộng mô hình và hiệu quả hoạt động của các Quỹ bảo lãnh

tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành Du lịch trên địa

bàn tỉnh nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tốt hơn tới nguồn vốn tín dụng từ hệ thống

ngân hàng thương mại; triển khai hoạt động hỗ trợ các hộ kinh doanh du lịch trong

việc đa dạng hóa kênh huy động vốn. Khuyến khích các ngân hàng và quỹ tín dụng

cho các hộ kinh doanh du lịch vay vốn và bảo đảm tín chấp cho hoạt động vay vốn.

f) Nguồn nhân lực quản lý và lao động trong ngành Du lịch:

Trước hết là yếu tố năng lực, phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức địa phương

làm công tác quản lý hoạt động du lịch. Bên cạnh đó, sự phát triển của ngành Du

lịch tỉnh còn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, văn hóa lối sống, trình độ, kỹ năng

của đội ngũ lao động trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ du

lịch. Muốn có đội ngũ cán bộ quản lý và nguồn lao động du lịch có chất lượng cao,

phải chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.

1.3. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền

vững của một số địa phương trong nước

1.3.1. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền

vững ở Huế

Huế là cố đô duy nhất ở Việt Nam còn bảo lưu được khá nguyên vẹn tổng thể

kiến trúc nghệ thuật Cung đình. Với một kho tàng di sản văn hóa phong phú, có giá

trị và tầm vóc quốc tế, trong đó có 2 di sản văn hóa thế giới, Huế là điểm đến quan

trọng trong các hành trình du lịch di sản của du khách. Ngành du lịch Thừa Thiên –

Huế đã có những giải pháp thiết thực, mang tính lâu dài để phát huy bền vững tiềm

năng, lợi thế tài nguyên cho phát triển du lịch.

Trong đó, công tác bảo tồn di sản được thực hiện rất tích cực, thường xuyên,

có tính chiến lược với nhiều giải pháp cụ thể như đầu tư trùng tu, tôn tạo di tích, bảo

tồn và vinh danh văn hóa phi vật thể, tôn tạo cảnh quan môi trường quanh các khu

di sản, hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân

34

lực. Duy trì mối quan hệ tương tác cùng phát triển lâu bền giữa hoạt động du lịch và

công tác bảo tồn di sản: Bảo vệ di sản truyền thống để thu hút và phục vụ phát triển

du lịch văn hóa đồng thời thông qua hoạt động du lịch để giới thiệu, phát huy giá trị

di sản và sử dụng nguồn thu từ du lịch trực tiếp đầu tư trở lại cho bảo tồn di sản.

Công tác bảo vệ môi trường du lịch nhìn chung được chính quyền địa phương và

ngành du lịch rất quan tâm trong quá trình triển khai các dự án đầu tư, các hoạt

động du lịch. Ngành du lịch cũng đã có nhiều giải pháp xây dựng các mô hình du

lịch cộng đồng như du lịch làng nghề, du lịch nhà vườn…, xây dựng nhiều cơ chế,

chính sách khá hiệu quả thu hút nguồn lực xã hội, huy động sự tham gia của cộng

đồng, lắng nghe ý kiến cộng đồng và các ý kiến phản biện trước khi quyết định đầu

tư, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư, khách du

lịch, cộng đồng trong phát triển du lịch.

1.3.2. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền

vững ở Nha Trang

Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn

hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Thành phố Nha Trang hiện

nay có diện tích tự nhiên là 251 km² với dân số 392.279 (2009). Nha Trang là thành

phố du lịch biển nổi tiếng nhất của Việt Nam. Các bãi biển dọc chiều dài thành phố

và trên các đảo thuộc Vịnh Nha Trang như Hòn Tre, Hòn Tằm, Hòn Mun, Hòn

Chồng – Vợ đều là những thắng cảnh tuyệt vời thu hút du khách trong và ngoài

nước. Du lịch Nha Trang còn thu hút khách bởi di tích Chămpa nổi tiếng là Tháp Bà

Ponagar và các điểm tham qua thú vị trong thành phố như Chợ Đầm, Chùa Long

Sơn, Nhà Thờ Núi và Biệt thự Cầu Đá (Lầu Bảo Đại). Nha Trang cũng tổ chức

nhiều sự kiện du lịch, đáng chú ý là Festival Biển Nha Trang với nhiều hoạt động

vui chơi giải trí phong phú. Những năm gần đây, ngành dịch vụ du lịch ngày càng

khẳng định vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố Nha Trang, hệ thống

cơ sở hạ tầng, các loại hình dịch vụ được đầu tư đồng bộ, hiện đại. Đến đây, du

khách có nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí, thư giãn phù hợp với túi tiền. Vì vậy,

quanh năm hai thành phố này luôn tấp nập khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế

lưu trú dài ngày nên doanh thu du lịch luôn cao và tăng trưởng đều theo từng năm.

35

Quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững của Thành phố Nha

Trang được chú trọng và đẩy mạnh. Thành ủy Nha Trang, Tỉnh ủy Khánh Hòa trực

tiếp chỉ đạo các sở, phòng, ban chuyên môn xây dựng các nghị quyết chuyên đề

hoặc đề án như: đề án quản lý vỉa hè lòng đường không vì mục đích giao thông; đề

án quản lý các tuyến phố kinh doanh theo từng nhóm hàng, dịch vụ; đề án thu gom

rác thải; đề án chăm sóc cây xanh; đề án về an ninh du lịch…trong đó, phân giao

nhiệm vụ cụ thể cho từng sở, ngành, phòng ban chuyên môn. Công tác phối hợp

giữa các phòng ban của thành phố Nha Trang và cấp phường chặt chẽ, thông tin hai

chiều, toàn diện. Thành phố Nha Trang có lực lượng thanh niên xung kích hơn 100

người, chốt trực 24/24 giờ trên các bãi biển, tuyến điểm du lịch làm nhiệm vụ giữ

gìn trật tự đô thị. Mỗi ngày có 8 công an được bố trí hỗ trợ lực lượng thanh niên

xung kích thực hiện nhiệm vụ. Kinh phí cho công tác giữ gìn trật tự đô thị gần 8 tỷ

đồng/năm. Dưới bãi biển, để bảo đảm an toàn tính mạng cho khách tắm biển, thành

phố Nha Trang có lực lượng cứu hộ bờ biển chuyên nghiệp, cứ cách 30m có 1

người, chốt trực từ 5 giờ 30 đến 19 giờ hàng ngày.

Để có được những hiệu quả tích cực về phát triển du lịch bền vững, Thành phố

Nha Trang đã có những biện pháp tích cực trong vấn đề quản lý nhà nước đối với

phát triển du lịch bền vững. Chính quyền địa phương đã xây dựng được các chiến

lược, quy hoạch, kế hoạch cụ thể về phát triển du lịch bền vững tổng thể, lâu dài

trên cơ sở bảo vệ môi trường, an toàn cho du khách. Có chính sách tăng cường thu

hút vốn đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch; đào tạo, bồi dưỡng

nguồn nhân lực cho ngành du lịch. Bên cạnh đó, chính quyền luôn quan tâm, tạo điều

kiện thuận lợi nhằm đưa công nghệ thông tin hiện đại vào quản lý du lịch. Thực hiện

các chương trình tuyên truyền, quảng bá theo chuyên đề, kết hợp những sự kiện thể

thao, văn hóa, lễ hội lớn trên toàn quốc và tham gia các hội trợ triển lãm, hội thảo du

lịch trong nước và quốc tế để giới thiệu rộng rãi tiềm năng du lịch của tỉnh…

1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho quản lý Nhà nước du lịch theo hướng

phát triển bền vững tại địa bàn thành phố Hà Nội

Thứ nhất, phải xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bền vững cho

thời gian dài, hợp lý; có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, và các chính sách khai

36

thác tiềm năng thúc đẩy du lịch phát triển bền vững. Ở nhiều nước trên thế giới và

nhiều vùng trong cả nước, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy

kinh tế - xã hội phát triển. Mỗi nước, mỗi địa phương đều có chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch và chính sách nhằm huy động các nguồn lực trong và và ngoài nước để

phát triển du lịch bền vững. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển

bền vững được xây dựng rất đồng bộ, thống nhất và có các mục tiêu cụ thể cho từng

giai đoạn phát triển. Đồng thời, cũng cần quan tâm đến việc đầu tư phát triển kết

cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch.

Thứ hai, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đồng thời tạo ra được các sản

phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách. Xã hội càng văn minh thì

nhu cầu của du khách càng phong phú, đa dạng. Vì vậy, việc đa dạng hóa các sản

phẩm du lịch và tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du

khách là một tất yếu cần được thực hiện tốt.

Thứ ba, làm tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến du lịch. Mục đích của tuyên

truyền, xúc tiến trong kinh doanh du lịch là nhằm giới thiệu, hình thành và định

hướng nhu cầu của du khách đối với các sản phẩm du lịch của địa phương. Có thể

nói, làm tốt công tác tuyên tryền, quảng bá du lịch là một trong những kinh nghiệm

quan trọng cần học hỏi để đưa du lịch của tỉnh Hà Nội phát triển một cách bền vững.

Thứ tư, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các địa phương, các vùng, các doanh

nghiệp với nhau để phát triển du lịch. Trong bối cảnh Việt Nam trở thành thành viên

chính thức của tổ chức WTO, ngành du lịch phải đối mặt với những cạnh tranh ngày

càng gay gắt. Do vậy, liên kết, hợp tác du lịch giữa các địa phương, các vùng, các

doanh nghiệp du lịch với nhau để cùng phát triển trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Việc liên kết, hợp tác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành các tour,

các tuyến du lịch và trong việc xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch để thu hút khách du

lịch nhất là du khách quốc tế.

Thứ năm, quan tâm đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành

du lịch ở địa phương. Du lịch là một ngành kinh tế - dịch vụ có đối tượng phục vụ

là con người. Hơn nữa, con người ở đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng,

37

một nước mà còn bao gồm cả du khách quốc tế. Vì vậy, việc đào tạo và phát triển

nguồn nhân lực cho du khách không giống với các ngành kinh tế và dịch vụ khác,

nó mang tính toàn diện, từ cán bộ quản lý cho đến nhân viên phục vụ đều phải được

trang bị đầy đủ kiến thức về du lịch để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững ngày

càng cao của du lịch.

Thứ sáu, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động

du lịch, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường tự nhiên và xã hội của du lịch. Việc

phát triển du lịch bền vững đang đặt ra ngày càng nhiều vấn đề không thể xem nhẹ,

chẳng hạn, tình trạng gây tổn hại về môi trường, tài nguyên du lịch thiên nhiên,

thậm chí là xâm phạm cả vào các công trình lịch sử, văn hóa, kéo theo sự phát triển

của một số tệ nạn xã hội hoặc tình trạng cố tình vi phạm pháp luật của một số tổ

chức, cá nhân kinh doanh du lịch. Điều đó cho thấy, cần phải tăng cường công tác

kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong

kinh doanh du lịch, đồng thời làm tốt việc bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường tự

nhiên và xã hội của du lịch.

38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 của Luận văn đã đề cập đến và làm rõ những cơ sở khoa học của

quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững. Trong chương này, luận văn đã

làm rõ khái niệm và nội hàm của phát triển du lịch bền vững, theo đó phát triển du

lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại

đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai. Luận văn trình bày lý luận về quản lý

nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh, tập trung vào

khái niệm, vai trò và các nội dung của quản lý nhà nước, cũng như các yếu tố tác

động đến quản lý nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền vững trên địa bàn

tỉnh. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước

về phát triển du lịch bền vững của một số địa phương trong nước như Nha Trang,

Huế trên một số lĩnh vực, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho TP. Hà Nội

nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững để tiến kịp và

sánh ngang với các nước và tỉnh, thành phố có ngành du lịch phát triển.

39

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Tổng quan về phát triển du lịch Hà Nội

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch

Hà Nội nằm ở phía Tây Bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có vị trí

từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với

các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hòa Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng

Yên, Phú Thọ. Ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu

ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông: sông Đáy, sông Đuống,

sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu... Ngoài hệ thống sông, hệ

thống hồ (hồ Tây, hồ Gươm, hồ Đồng Mô, hồ Suối Hai, hồ Quan Sơn...) cũng là

một trong những nét đặc trưng của Hà Nội. Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc

Bộ nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa; độ

ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa/năm. Đặc điểm rõ nét của khí

hậu Hà Nội là có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Với vị trí địa lý, khí hậu, thủy

văn kể trên, đây chính là điều kiện lý tưởng, tiềm năng lớn để Hà Nội phát triển

kinh tế du lịch.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên

của Hà Nội được bổ sung đáng kể. Tiêu biểu có: Khu vực vùng núi Ba Vì với các

khu tham quan, nghỉ dưỡng nổi tiếng như: Khu bảo tồn thiên nhiên Vườn Quốc gia

Ba Vì, Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Thác Đa, Thiên Sơn - Suối Ngà, rừng

nguyên sinh Bằng Tạ, vườn cò Ngọc Nhị… Khu vực vùng núi Nương Ngái -

Hương Sơn: cấu tạo chủ yếu bằng đá vôi với gần trăm hòn núi, hình dáng độc đáo

(như núi Trượng, núi Sư Tử, núi Hàm Long, núi Trống, núi Chiêng, núi Gà, núi

Yên Ngựa...) và nhiều hang động đẹp (như hang Dơi, hang Rắn, động Hương Tích,

Linh Sơn, Bồng Lai, Tiên Cảnh, Ngọc Long…). Ngoài ra, Hà Nội còn nhiều dãy

núi có phong cảnh đẹp giàu tiềm năng khai thác du lịch như khu vực núi Sóc, núi

Thầy, núi Tử Trầm...

40

Hồ nước ở Hà Nội cũng là một điểm nhấn để phát triển kinh tế du lịch. Mỗi hồ

có vẻ đẹp và truyền thống lịch sử riêng biệt, làm nên một phần hồn vía Thăng Long

ngàn tuổi. Những hồ nổi tiếng đã đi vào văn thơ như: hồ Gươm, hồ Tây, hồ Trúc

Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thủ Lệ, Giảng Võ... Khu vực ngoại thành có nhiều

hồ nước lớn nhiều tiềm năng phát triển kinh tế du lịch như: hồ Đồng Mô, hồ Quan

Sơn, hồ Suối Hai…

Không gian nông nghiệp (với vành đai cây chuyên canh ở các huyện Thanh

Trì, Gia Lâm, Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín; vành đai trồng hoa cảnh có

truyền thống lâu đời tại các huyện Từ Liêm, Đông Anh, Mê Linh) vừa sản xuất các

sản phẩm nông nghiệp phục vụ đô thị, vừa là cảnh quan tự nhiên và nhân văn, đang

dần trở thành những sản phẩm du lịch “xanh” độc đáo của Hà Nội với các loại hình

du lịch nông thôn, du lịch trang trại, du lịch cộng đồng…

Trải qua hơn 1000 năm lịch sử, “Thăng Long - Hà Nội là nơi hội tụ và lắng

đọng những giá trị tinh túy của nền văn minh Đại Việt trong sự giao thoa và kết tinh

những giá trị nhân văn lớn của khu vực châu Á” [57, tr.32]. Qua thời gian, bề dày

văn hóa - lịch sử của Hà Nội đã tạo nên một hệ thống giá trị nhân văn vô giá. Đây

chính là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn - lợi thế so sánh quan trọng để Hà Nội

phát triển bền vững kinh tế du lịch.

Đến Hà Nội, du khách có thể hiểu sâu sắc về đất nước và con người Việt Nam

thông qua các di tích lịch sử - văn hóa. Tính đến nay, Hà Nội có 5.175 di tích lịch

sử - văn hóa trong đó 1.050 di tích được xếp hạng cấp quốc gia (chiếm gần 20%),

mật độ cao nhất cả nước. Riêng số di tích đang được khai thác phục vụ hoạt động

du lịch có mật độ 23,3 di tích/100 km2 (mật độ trung bình cả nước chỉ 2,2 di

tích/100 km2). Hà Nội nổi tiếng với Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường đại học đầu

tiên của Việt Nam (xây dựng từ năm 1070), cùng nhiều di tích lịch sử kiến trúc độc

đáo, linh thiêng như chùa Trấn Quốc, chùa Quán Sứ, đền Ngọc Sơn, đền Quán

Thánh, phủ Tây Hồ, thành Cổ Loa, đền Phù Đổng... Phố cổ Hà Nội, một khu vực đô

thị lâu đời của Hà Nội, là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về Thăng

Long - Đông Đô - Hà Nội. Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long - với chiều dài

41

liên tục suốt hơn 13 thế kỷ - là di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại

của lịch sử dân tộc (được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc

(UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới ngày 31/7/2010) cũng đang là một

địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch đặc biệt. Hà Nội còn có những di tích gắn

liền với cuộc đời và sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhà văn hoá lớn của

thế giới. Chỉ ở Hà Nội mới có hàng loạt các bảo tàng quốc gia như: Bảo tàng Lịch

sử, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Dân tộc học... Đây là những kho tư liệu cô đọng,

súc tích giúp du khách hiểu về đất nước và con người Việt Nam nói chung, Hà Nội

nói riêng.

Vùng đất cổ Hà Tây cũ, trải qua hàng nghìn năm lịch sử đã để lại một kho tàng

di tích lịch sử - văn hoá đồ sộ và quý giá với 351 di tích quốc gia, đặc biệt có 12 di

tích cổ tự nổi tiếng, được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xếp vào loại quan trọng

như: chùa Hương, chùa Thầy, chùa Mía, chùa Đậu, chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian,

chùa Tây Phương và các ngôi đình Tây Đằng, Chu Quyến, Thuỵ Phiêu, Đại Phùng,

Hoàng Xá, khu di tích K9 - nơi lưu giữ thi hài Bác Hồ trong chiến tranh…

Thăng Long - Hà Nội còn là vùng đất tập trung nhiều lễ hội nổi tiếng. Mỗi lễ

hội như một viện bảo tàng sống mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống, tạo ra sức

lôi cuốn đặc biệt, khác lạ đối với du khách, như: Lễ hội Gióng (được UNESCO

công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 16/11/2010); Lễ

hội chùa Hương; Lễ hội Đống Đa; Lễ hội đền Cổ Loa; Lễ hội Phù Đổng; Lễ hội đền

Hai Bà Trưng; Lễ hội chùa Thầy; Hội làng Lệ Mật; Hội làng Triều Khúc; Hội thổi

cơm thi Thị Cấm... Ngoài ra, Hà Nội còn có hơn bốn trăm lễ hội nhỏ khác ở nhiều

địa phương nội, ngoại thành.

Theo thống kê, hiện nay Hà Nội có 1.350 làng nghề, trong đó có 198 làng

nghề truyền thống được công nhận và cấp bằng danh hiệu. Khu trung tâm Phố cổ là

nơi tập trung chính các phố nghề có giá trị về khai thác du lịch. Các làng nghề ở khu

vực phụ cận ngoại ô Hà Nội lại có những nét đặc sắc riêng biệt như đúc đồng Ngũ

Xã, gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, nón Chuông, khảm trai Chuyên Mỹ, mây tre

đan Phú Vinh, mộc Chàng Sơn, tạc tượng Sơn Đồng… đều được coi là những tiềm

42

năng du lịch nhân văn quý giá, nhiều nơi đã trở thành điểm đến hấp dẫn trong các

tour du lịch, được nhiều du khách biết đến.

Là trung tâm văn hóa của cả miền Bắc từ nhiều thế kỷ, đến Hà Nội du khách

có thể được thưởng thức những món ăn truyền thống, món quà ngon của riêng Hà

Nội. Các món ngon Hà Nội đặc biệt hấp dẫn thực khách có thể kể đến là: cốm làng

Vòng, chả cá Lã Vọng, phở Hà Nội, bánh tôm Hồ Tây, bánh cuốn Thanh Trì, nem

chua làng Vẽ, bánh dày Quán Gánh, giò chả Ước Lễ...

Hà Nội còn là nơi nuôi dưỡng, phát triển các loại hình văn hoá truyền thống

như ca trù (được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ

khẩn cấp ngày 1/10/2009), tuồng, chèo, múa rối nước… cùng nhiều cơ sở hoạt động

văn hoá văn nghệ, rạp chiếu phim, sân khấu, nhà hát. Văn học Hà Nội cũng rất

phong phú, từ văn học truyền miệng, văn học chữ Hán, chữ Nôm đến chữ Quốc

ngữ. Các truyền thuyết, truyện kể dân gian đến ca dao, tục ngữ đều mang những nét

rất Hà Nội, thanh lịch và tinh tuý. Đây là những tư liệu quý cho những du khách,

học giả có nhu cầu quan tâm, nghiên cứu.

Đánh giá chung: Tài nguyên du lịch Hà Nội khá đa dạng, phong phú cả về tự

nhiên và nhân văn. Giá trị nổi trội và cơ bản là tài nguyên du lịch nhân văn trên nền

1000 năm văn hiến với điểm nhấn là khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long,

đồng thời tiềm năng du lịch sinh thái cũng là một thế mạnh của Hà Nội với khu bảo

tồn thiên nhiên Vườn Quốc gia Ba Vì, thắng cảnh Hương Sơn... Đây là lợi thế so

sánh quan trọng để kinh tế du lịch Hà Nội phát triển bền vững.

2.1.2. Kết quả kinh doanh du lịch giai đoạn 2016-2020

a) Chỉ tiêu khách du lịch đến Hà Nội

Hà Nội đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, Hà Nội đón 30 triệu lượt

khách, trong đó có 5,7 triệu lượt khách quốc tế, tốc độ tăng trung bình 8-10%/năm.

Giai đoạn 2016-2019, lượng khách du lịch đến Hà Nội tăng khá nhanh và ổn

định, năm sau cao hơn năm trước, mức tăng bình quân đạt 10,1%/năm, cụ thể: Năm

2016, khách du lịch đến Hà Nội đạt 21,83 triệu lượt, năm 2017 đạt 23,83 triệu lượt,

năm 2018 đạt 26,30 triệu lượt và năm 2019 đạt 28,945 triệu lượt khách. Tốc độ tăng

43

bình quân về khách du lịch đạt 10,1%/năm, hoàn thành vượt chỉ tiêu về tốc độ tăng

trung bình từ 8-10%/năm. Về tổng số lượng khách du lịch, tính đến năm 2019, đã

đạt tỷ lệ 96,49% so với chỉ tiêu đề ra vào năm 2020.

Tuy nhiên, do tác động của dịch Covid-19, lượng khách du lịch đến Hà Nội

giảm sâu, năm 2020 Hà Nội đón 8,65 triệu lượt khách, đưa tốc độ tăng bình quân cả

giai đoạn sụt giảm (-6,0%), không đạt chỉ tiêu Nghị quyết.

- Khách du lịch quốc tế

Năm 2016, khách quốc tế đến Hà Nội đạt 4,02 triệu lượt, năm 2017 đạt 4,94

triệu lượt, năm 2018 đạt 6,005 triệu lượt, năm 2019 đạt 7,025 triệu lượt. Trong giai

đoạn 2016-2019, mức tăng trưởng bình quân khách du lịch quốc tế đạt 21,2%/năm,

hoàn thành sớm 02 năm chỉ tiêu khách du lịch quốc tế đến Hà Nội đến năm 2020 đề

ra tại Nghị quyết số 06-NQ/TU. Thị phần khách quốc tế đến Hà Nội ngày càng lớn,

chiếm 39% so với cả nước.

Năm 2020, lượng khách quốc tế đến Hà Nội đạt 1,11 triệu lượt khách, giảm

84,2% so với năm 2019, dẫn đến mức tăng trưởng bình quân khách du lịch quốc tế

trong cả giai đoạn chỉ đạt 0,09%, không đạt chỉ tiêu Nghị quyết.

- Khách du lịch nội địa

Giai đoạn 2016-2019, khách du lịch nội địa đến Hà Nội tăng trưởng bình quân

đạt 7,5%/năm, chiếm 26,4% trên tổng lượng khách du lịch nội địa đi lại giữa các địa

phương trên toàn quốc: Năm 2016 khách du lịch nội địa đến Hà Nội đạt 17,81 triệu

lượt khách; năm 2017 đạt 18,88 triệu lượt khách, năm 2018 đạt 20,30 triệu lượt

khách; năm 2019 đạt 21,92 triệu lượt khách.

Năm 2020, khách du lịch nội địa đến Hà Nội đạt 8,65 triệu lượt khách, giảm

65,6% so với năm trước, đưa mức tăng trưởng bình quân cả giai đoạn 2016-2020

xuống thấp tới (-7,2%), không đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra.

Xét về cơ cấu thị trường khách du lịch đến Hà Nội thì lượng quốc tế đến Hà

Nội rất đa dạng quốc tịch, đến từ hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo Tổng

cục Du lịch, trong năm 2020 phân khúc khách quốc tế vào thị trường Hà Nội cho

thấy: khách Đông Bắc Á và Trung Quốc chiếm 44%, các nước ASEAN chiếm 17%,

44

Châu Âu: 14%; Bắc Mỹ: 12%, Úc và NewZealand chiếm 6,03%, còn lại là từ các

thị trường khác. Ngoài ra, theo điều tra của Tổng cục thống kê, cơ cấu khách quốc

tế đến Hà Nội đã có sự thay đổi theo mục đích chuyến đi, thay vì giảm tỷ lệ du

khách đến nghỉ ngơi, du lịch thuần tuý thì tỷ lệ du khách quốc tế đến Hà Nội vì mục

đích công vụ, thương mại tăng lên. Điều này phản ánh hoạt động kinh tế đối ngoại

và quá trình hội nhập của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vào nền kinh tế

thế giới có sự phát triển. Xét theo từng quốc gia, đứng đầu về lượng khách đến Hà

Nội là từ thị trường Hàn Quốc chiếm tỷ trọng 13,54%, tiếp đến là Trung Quốc với

9,87%, Nhật Bản với 8,79%, Pháp với 7,02%, Australia và Mỹ.

Hình 2.1: Cơ cấu thị trường khách quốc tế đến Hà Nội năm 2020

Nguồn: Sở du lịch Hà Nội

Nếu xét theo các hoạt động đặc trưng trong tour du lịch, sản phẩm dịch vụ du

lịch được cung cấp cho du khách tới Hà Nội chủ yếu là du lịch phố cổ, du lịch làng

nghề, văn hoá lễ hội, du lịch sinh thái, du lịch ẩm thực, du lịch MICE, du lịch tín

ngưỡng…Trên thực tế số liệu thống kê chỉ ghi nhận được lượng khách đến Hà Nội

du lịch còn không thống kê được cụ thể khách đến Hà Nội du lịch theo loại hình du

lịch với số lượng là bao nhiêu do đặc điểm khách đến vừa tham gia du lịch MICE

đồng thời sử dụng các dịch vụ du lịch sinh thái, ẩm thực… có thể thực hiện theo

tour hoặc sử dụng dịch vụ một cách đơn lẻ.

45

Theo điều tra của Viện nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng cục du lịch

Việt Nam thì khách du lịch quốc tế đến với Hà Nội với mục đích du lịch – nghỉ

dưỡng thuần túy chiếm 33,5%, với mục đích thương mại trung bình chiếm 23,5%,

với mục đích thăm thân chiếm 10%, còn lại là các mục đích khác. Trong những năm

gần đây khách du lịch có mục đích thương mại có tăng nhưng nhìn chung vẫn duy trì

ở mức khoảng 24-25% thị phần, khách đi với mục đích khác như nghiên cứu, học tập,

công tác, tham quan… có xu hướng ngày càng tăng. Như vậy cần xem xét những nhu

cầu, thị hiếu của khách và xu hướng trong tương lai để định hướng thị trường.

Bảng 2.1: Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Hà Nội

theo mục đích chuyến đi giai đoạn 2016-2020

TT Nội dung Đơn vị 2016 2017 2018 2019 2020

Các mục đích chính 100 100 100 100 100

1.1 Du lịch thuần túy % 33.5 34 34 34 35

1.2 Thương mại % 24.5 27 28.5 30.0 32,1

1.3 Thăm thân % 20 20 20 20 20

1.4 Mục đích khác % 46.5 19 46 16 12,9

Nguồn: Tổng cục du lịch - Viện nghiên cứu phát triển du lịch.

Khách du lịch nội địa vẫn là nguồn khách chủ yếu của thành phố, trung bình

hàng năm chiếm trên 84% tổng lượng khách đến. Ngoài khu vực nội đô là nơi tập

trung thu hút khách, còn có các khu nghỉ dưỡng sinh thái, sân golf ở Ba Vì, Sơn

Tây… cũng thu hút khách nội địa đến ngày một nhiều hơn. Nguyên nhân của điều

này một phần là do nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của người dân trong cả nước

ngày càng cao. Bên cạnh đó là việc ngành du lịch Hà Nội chú trọng phát triển du

lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, du lịch văn hoá – lễ hội, du lịch về nguồn… phù hợp hơn

với thị hiếu của khách du lịch trong nước.

Về thời gian lưu trú trung bình của khách: Đối với khách nội địa đến Hà Nội

thường lưu trú trung bình từ 2,7-3,0 ngày/khách (Hải Phòng là 1,15-1,25

ngày/khách. Số ngày lưu trú của khách quốc tế trung bình giao động từ 3,1-3,5

ngày/khách (Hải Phòng là 1,43-1,5 ngày/khách). Theo số liệu thống kê lượng khách

46

du lịch quốc tế đến Hà Nội trong giai đoạn 2011-2020 đạt mức bình quân 15%/năm

trong khi tỷ lệ này bình quân của cả nước là 11,7%.

b) Chỉ tiêu doanh thu du lịch

Doanh thu du lịch bao gồm tất cả các khoản thu do khách du lịch chi trả từ lưu

trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ du lịch khác,...Bởi vì “Du

lịch là một ngành công nghiệp đa thành phần, nhiều thành phần của nó có quan hệ

chồng chéo với lĩnh vực kinh tế khác; chẳng hạn giữa hàng không với giao thông

vận tải, các cửa hiệu quà lưu niệm, các gian hàng thuê nhượng và các cửa hàng bán

lẻ hay dịch vụ và khách sạn cùng những phương tiện nhà trọ làm nền cho phát triển

thương mại. Nhưng trên thực tế tất cả những khoản thu này không chỉ do ngành du

lịch trực tiếp thu mà còn do nhiều ngành khác có tham gia các hoạt động du lịch

thu. Ngoài ra còn một số ngành dịch vụ khác không những chỉ phục vụ người dân

địa phương mà còn phục vụ cho cả khách du lịch như y tế, ngân hàng, bảo hiểm,

giao thông công cộng, bưu điện...; trong trường hợp này, một phần chi tiêu của

khách du lịch do ngành khác trực tiếp thu. Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) đã áp

dụng hệ thống thống kê cho các nước thành viên về thu nhập du lịch được tính bằng

toàn bộ số tiền mà khách du lịch phải chi trả khi đi thăm một nước khác (trừ chi phí

cho việc vận chuyển hàng không quốc tế). Tuy nhiên, ở nước ta nói chung và Hà

Nội nói riêng, hệ thống thống kê chưa được hoàn chỉnh nên toàn bộ các khoản chi

trả của khách du lịch trong toàn bộ chương trình du lịch chưa tập hợp được đầy đủ

và chính xác. Trên thực tế có những doanh nghiệp du lịch tham gia kinh doanh xuất

nhập khẩu, kinh doanh tổng hợp ...nhưng nguồn thu này lại tính cho ngành du lịch,

điều này là chưa hợp lý. Chính vì vậy, thống kê sự đóng góp của ngành du lịch

trong nền kinh tế chưa được đầy đủ và chuẩn xác. Bên cạnh đó, Hà Nội chưa thống

kê được doanh thu từ du lịch của các hộ cá thể kinh doanh du lịch. Xuất phát từ tình

hình thực tế như vậy nên công tác thống kê doanh thu từ du lịch thuần tuý còn gặp

nhiều khó khăn và số liệu thống kê chưa phản ánh đúng thực trạng của ngành du lịch

Hà Nội. Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, đánh giá vai trò của ngành du lịch,

các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến chỉ tiêu doanh thu xã hội từ du lịch.

47

Bảng 2.2: Doanh thu du lịch Hà Nội giai đoạn 2016-2020

Chỉ tiêu Đơn vị 2016 2017 2018 2019 2020

Doanh thu Tỷ đồng 61.778 70.958 77.480 103.812 28.021

Đóng góp vào GRDP của % 7,89 8,07 10,15 12,54 3,66 Hà Nội

Nguồn: Sở du lịch Hà Nội

Theo bảng 2.2, ta thấy giai đoạn 2016-2019, tốc độ tăng trưởng tổng thu từ

khách du lịch bình quân đạt 17,6%/năm, hoàn thành chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng

bình quân từ 15-17%/năm Nghị quyết 06 đề ra. Tuy nhiên đến năm 2020, sự sụt

giảm mạnh về lượng khách du lịch đã dẫn đến tổng thu từ khách du lịch giảm 73%

so với năm 2019 và bằng 23,4% so với mục tiêu Nghị quyết. Cụ thể: năm 2016,

tổng thu từ khách du lịch đạt 61.778 tỷ đồng, năm 2017 đạt 70.958 tỷ đồng, năm

2018 tổng thu từ khách du lịch đạt 77.480 tỷ đồng, năm 2019 tổng thu từ khách du

lịch đạt 103.812 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 86,5% so với chỉ tiêu đề ra vào năm 2020. Tuy

nhiên đến năm 2020, sự sụt giảm mạnh về lượng khách du lịch đến Hà Nội đã dẫn

đến tổng thu từ khách du lịch đạt 28.021 tỷ đồng, giảm 73% so với năm 2019, đưa

tốc độ tăng trưởng trung bình về tổng thu của cả giai đoạn 2016-2020 giảm xuống

còn -0,52%, không đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra.

- Theo số liệu tính toán từ kết quả điều tra khách du lịch đến Hà Nội năm

2017, 2018, 2019 do Sở Du lịch phối hợp với Cục Thống kê Thành phố thực hiện;

năm 2017, ngành du lịch đóng góp 8,07% vào GRDP của Thành phố (đóng góp trực

tiếp là 3,24% và đóng góp gián tiếp là 4,83%); năm 2018 là 10,15% (đóng góp trực

tiếp là 4,12% và đóng góp gián tiếp là 6,03%); năm 2019 là 12,54% (đóng góp trực

tiếp là 5,16% và đóng góp gián tiếp là 7,38%). Thông qua kết quả đóng góp của

ngành Du lịch vào GRDP của Thành phố ngày càng tích cực, cho thấy ngành du

lịch đã phát huy được vai trò của ngành kinh tế tổng hợp, có mức độ tác động lan

tỏa tới các ngành, lĩnh vực khác.

2.2. Thực trạng quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền

vững ở thành phố Hà Nội

2.2.1. Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch về phát triển du lịch bền vững

Hà Nội là một trong 2 Trung tâm du lịch quan trọng nhất của cả nước. Du lịch

Hà Nội có vị trí quan trọng trong Chiến lược phát triển du lịch và Quy hoạch tổng

48

thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2030; đồng thời

cũng là một trong 5 Trung tâm du lịch quan trọng của cả nước và là Trung tâm du

lịch của khu vực phía Bắc, là cầu nối giữa du lịch các tỉnh Bắc Bộ với du lịch cả

nước, giữa Du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế.

Với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên du lịch phong phú cả về tự nhiên và nhân

văn, cơ sở kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, xã hội tốt, du lịch Hà Nội ngày càng có vị trí

quan trọng trong các chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước nói chung và của

Thủ đô nói riêng. Nghị quyết về phát triển du lịch Thủ đô Hà Nội xác định đến năm

2025 và những năm tiếp theo: Xây dựng Hà Nội thực sự là một Trung tâm du lịch

của cả nước và khu vực, thực hiện chức năng cầu nối giữa Thủ đô với các tỉnh,

thành phố trong cả nước và quốc tế. Đến năm 2030, trở thành thành phố dịch vụ du

lịch cao cấp, điểm đến du lịch được ưa chuộng trên thế giới. Phát triển một cách

tương xứng các loại hình du lịch văn hoá; du lịch hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ

chức sự kiện; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng; du lịch cộng đồng.

Thực hiện Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2013 của Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến

năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Sở Du lịch thành phố Hà Nội đã đưa ra đề án

cũng như kế hoạch hành động nhằm phát triển du lịch Hà Nội một cách bền vững cụ

thể như sau:

- Tập trung chỉ đạo tiến hành rà soát và thực hiện tốt công tác Quy hoạch phát

triển du lịch thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030: các Sở,

ngành đã tích cực phối hợp với các địa phương liên quan triển khai công tác kiểm

tra giám sát việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch; xem xét các dự

án liên quan đến tổng thể quy hoạch phát triển du lịch gắn với các quy hoạch phân

khu, quy hoạch vùng của Thành phố. Đến nay, một số chỉ tiêu phát triển du lịch tại

quy hoạch đã đạt vượt mốc đề ra.

- Đã chỉ đạo nghiên cứu lập quy hoạch phân khu các khu chức năng khu du

lịch quốc gia Ba Vì - Suối Hai theo quy định pháp luật mới về quy hoạch .

- Thành phố đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch và triển khai lập quy hoạch chi

tiết bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng gốm sứ Bát

Tràng, làng dệt lụa Vạn Phúc tỷ lệ 1/500.

49

- Chỉ đạo thực hiện cung cấp thông tin quy hoạch kiến trúc, giới thiệu địa điểm

để kêu gọi đầu tư dự án phát triển du lịch; hướng dẫn, hỗ trợ thuận lợi cho các nhà

đầu tư trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính.

- Nhiều địa phương đã chủ động khảo sát các di tích lịch sử văn hóa, làng

nghề, nhà hàng, khách sạn, các cơ sở lưu trú, công viên, khu vui chơi,... có tiềm

năng phát triển du lịch. Trên cơ sở đó xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phát

triển du lịch tại địa phương.

- Thành phố đã kết hợp tốt việc sử dụng nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà

nước với việc khai thác, sử dụng nguồn vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân theo

phương châm xã hội hóa phát triển du lịch bền vững. Đến cuối năm 2020, cơ bản

hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư khai thác

có hiệu quả các dự án đầu tư vào các khu, điểm du lịch trọng điểm trong thành phố.

Tập trung khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống; phát triển đồng bộ cơ sở

vật chất kỹ thuật chuyên ngành, cơ sở vui chơi giải trí, thể thao, mua sắm, ăn

uống,… đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và tăng nguồn thu từ hoạt động du lịch.

- Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch bằng nhiều hình thức linh hoạt như:

tham gia hội chợ, hội thảo, triển lãm, gameshow trên truyền hình, Internet và các

phương tiện thông tin tuyên truyền khác để nâng cao hình ảnh tốt đẹp của du lịch

Hà Nội đến du khách trong và ngoài nước. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các

ngành nhằm quảng bá tiềm năng và giới thiệu các sản phẩm du lịch đặc thù có thế

mạnh của thành phố, giới thiệu các tiềm năng, lợi thế của thành phố, chính sách và

danh mục các dự án kêu gọi đầu tư, phát triển du lịch bền vững.

- Nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn xã hội trong việc bảo vệ, trùng tu,

nâng cấp tài nguyên môi trường du lịch, các di tích lịch sử, văn hóa. Phát triển du

lịch đạt hiệu quả cao nhưng phải gắn liền với việc bảo vệ và tôn tạo cảnh quan, môi

trường, bảo tồn hệ sinh thái.

Phát triển du lịch văn hóa, lễ hội truyền thống trên nguyên tắc bảo vệ và phát

huy truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương.

Phát triển du lịch nghỉ tại nhà dân (homestay), du lịch tham quan vườn cây ăn

trái, thưởng thức trái cây tại vườn, thưởng thức ẩm thực địa phương, ngắm cảnh

50

quan sông nước miệt vườn,…làm cho du khách muốn xâm nhập thực tế vào cộng

đồng dân cư để tìm hiểu cách sống của người dân địa phương, đồng thời thông qua

đó giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân địa phương và du

khách nhằm bảo vệ môi trường bền vững.

2.2.2. Ban hành và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch ở thành

phố Hà Nội

Hệ thống pháp luật du lịch là một trong những công cụ, cơ sở quan trọng nhất

cho việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững trong sự

nghiệp phát triển nói chung và nền kinh tế thị trường nói riêng, đặc biệt là ở thành

phố Hà Nội. Hệ thống pháp luật về du lịch bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật

của ngành du lịch và văn bản pháp luật của các ngành khác có liên quan.

Ngày 20/2/1999, Pháp lệnh du lịch ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng

trong hoạt động du lịch. Pháp lệnh du lịch được ban hành sẽ là cơ sở để hệ thống

pháp luật về du lịch được hình thành một cách đầy đủ và hoàn thiện hơn. Từ khi ban

hành pháp lệnh du lịch, hoạt động du lịch đạt nhiều kết quả khả quan, đóng góp

ngày càng tăng trong thu nhập quốc dân, thể hiện qua việc tăng trưởng khá nhanh

về số lượng khách và thu nhập du lịch.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng, ban hành văn

bản còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, đôi lúc còn

chậm, không phù hợp với thực tiễn, gây cản trở trong công tác quản lý hoạt động

kinh doanh du lịch, không đáp ứng được với xu hướng phát triển ngày càng tăng

của hoạt động du lịch. Luật du lịch 2017 ra đời những nội dung cơ bản, thể chế hóa

Nghị quyết của Đảng và nhà nước về phát triển du lịch bền vững thành ngành kinh

tế mũi nhọn, khuyến khích đầu tư và chuyển đổi cơ cấu, góp phần xóa đói giảm

nghèo ở những nơi có tiềm năng du lịch phát triển bền vững. Phạm vi luật du lịch

bao gồm những quy định điều chỉnh các mối quan hệ tương xứng với vai trò và tác

động của ngành du lịch trong nền kinh tế xã hội.

Cùng với pháp lệnh du lịch và luật du lịch ra đời, các văn bản hệ thống pháp

luật được điều chỉnh các hoạt động du lịch ở địa phương cũng được xây dựng và

ban hành.

51

Quyết định 4597/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc

phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch Thành phố Hà Nội đến năm 2020, định

hướng đến năm 2030, trong đó quan điểm phát triển du lịch là:

- Phát triển du lịch Hà Nội phù hợp với Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam

đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; quy hoạch

chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050.

- Phát triển du lịch Hà Nội với vai trò là trung tâm phát triển du lịch cả nước,

đầu mối phân phối khách cho các tỉnh khu vực phía bắc. Phát triển du lịch chất

lượng cao, theo hướng chuyên nghiệp.

- Phát triển du lịch theo hướng bền vững gắn với việc bảo tồn và phát huy các

giá trị văn hóa dân tộc; kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng- an ninh

và trật tự an toàn xã hội; giữ gìn cảnh quan và bảo vệ môi trường.

- Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước đầu

tư phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh về du lịch của các địa

phương, các thành phần kinh tế trên địa bàn Thủ đô.

- Phát triển có trọng tâm, trọng điểm trong đó đặc biệt coi trọng phát triển du

lịch văn hóa, lấy du lịch văn hóa làm cơ sở, nền tảng phát triển các loại hình khác

du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí.

Có thể thấy rằng, hệ thống các văn bản pháp luật du lịch ngày càng được hoàn

thiện theo hướng thông thoáng tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh du lịch.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn, chồng chéo với nhau cần được sửa đổi

và bổ sung kịp thời nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của du lịch trong

thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Luật du lịch được ban hành sẽ tạo cơ hội để hệ

thống pháp luật về du lịch được hình thành một cách đầy đủ và hoàn thiện hơn.

Đồng thời sẽ tạo ra hàng loạt các cơ chế, chính sách phát triển du lịch bền vững, từ

đó giúp du lịch Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vươn lên trong quá trình

hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế.

52

2.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý du lịch thành phố Hà Nội

Sở Du lịch Hà Nội là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố; tham mưu

và giúp UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch

theo quy định của pháp luật và phân cấp của UBND thành phố.

Sở Du lịch Hà Nội có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp kinh phí

hoạt động thường xuyên từ ngân sách và được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước

để hoạt động theo quy định. Sở Du lịch chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế

và công tác của UBND thành phố; đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra về

chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.

Sở Du lịch có trách nhiệm báo cáo các công tác của Sở đối với UBND thành

phố, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch theo định kỳ hoặc khi được yêu cầu.

- Sở Du lịch có nhiệm vụ:

+ Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt

+ Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu tài

nguyên du lịch của thành phố theo Quy chế của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

+ Thực hiện các biện pháp bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý và phát

triển tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu, điểm du lịch của thành phố

+ Tổ chức lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch địa phương, điểm du lịch,

tuyến du lịch địa phương; công bố sau khi có quyết định công nhận

+ Cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép thành lập văn

phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài đặt trên địa bàn thành phố theo

quy định của pháp luật và theo phân cấp, ủy quyền của UBND cấp thành phố

+ Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh lữ hành

quốc tế của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố theo quy định của pháp luật

+ Quyết định xếp hạng 1 sao, hạng 2 sao cho khách sạn, làng du lịch, hạng đạt

tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du lịch; hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu

trú du lịch đối với bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch

thuê, cơ sở lưu trú du lịch khác

+ Thẩm định và cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở

kinh doanh dịch vụ trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch

53

+ Tổ chức cấp, cấp lại, đổi, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch; cấp, thu hồi giấy

chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

+ Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thực hiện

chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch của địa

phương sau khi được phê duyệt.

Sở du lịch Hà Nội được điều hành bởi một Giám đốc và một số Phó Giám đốc.

Giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân TP, Chính quyền TP Hà Nội

về ngành thông tin, văn hóa và du lịch theo đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn

được giao.

Phòng quảng bá du lịch; Phòng quản lý du lịch; Phòng phát triển du lịch và

Trung tâm huấn luyện du lịch là các đơn vị thực hiện chức năng QLNN về du lịch

trên địa bàn TP [57].

- Bộ máy tổ chức của Sở Du lịch gồm:

Bộ máy tổ chức của Sở Du lịch Hà Nội gồm có: Phòng hành chính; Phòng tổ

chúc; Phòng kiểm tra; Phòng kế hoạch-hợp tác; Phòng thông tin; Ban thông tin-báo

chí; Đài tiếng nói; Đài truyền hình; Phòng nghiệp vụ văn hóa; Bảo tàng; Công tác

nghệ thuật; Trường nghệ thuật; Phòng quảng bá du lịch; Phòng quản lý du lịch;

Phòng phát triển du lịch; Trung tâm huấn luyện du lịch.Văn phòng, phòng Thanh

tra, phòng Quản lý Lữ hành, phòng Quản lý cơ sở lưu trú, phòng Kế hoạch, phát

triển tài nguyên du lịch.

Sở Du lịch thành phố Hà Nội được điều hành bởi một Giám đốc và ba Phó

Giám đốc. Số lượng Phó Giám đốc do UBND thành phố quyết định tùy theo tình

hình thực tế. Giám Đốc sở chịu trách nhiệm trước UBND thành phố và trước pháp

luật về toàn bộ hoạt động của Sở.

Có thể nói đội ngũ cán bộ quản lý du lịch ở địa phương khá mỏng nhất là ở cấp

huyện và cấp cơ sở hầu như không có. Mặt khác, cán bộ quản lý có trình độ chuyên

môn về du lịch lại rất ít chỉ chiếm khoảng 30% trên tổng số cán bộ phụ trách.

Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Hà Nội còn có một đơn vị hành chính – sự

nghiệp thuộc UBND có chức năng tham mưu, giúp UBND thành phố quản lý, xây

54

dựng và phát triển nhà nước về: Văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch. Đó

chính là phòng Văn hóa Thông tin. Phòng Văn hóa Thông tin có tư cách pháp nhân,

có con dấu và tài khoản riêng, chịu sự chỉ đạo quản lý về tổ chức biên chế và hoạt

động của UBND thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo kiểm tra, hướng dẫn về

chuyên môn nghiệp vụ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và

Truyền thông thành phố Hà Nội. Phòng Văn hóa Thông tin huyện, thị xã, thành phố

có trách nhiệm tổ chức thực hiện đầy đủ các lĩnh vực công tác của ngành và chấp

hành nghiêm chế độ thông tin, báo cáo định kỳ, đột xuất theo quy định. Theo đó,

phòng Văn hóa Thông tin cấp huyện chỉ có 01 lãnh đạo và 01 chuyên viên phụ trách

quản lý du lịch ở địa phương.

Vận hành mô hình trung tâm thông tin hỗ trợ khách du lịch tại phố Lê Thạch,

số 28 Hàng Dầu, quận Hoàn Kiếm gắn với triển khai Tổng đài 24/7 tư vấn, giải đáp

thông tin du lịch Hà Nội 1800556896 giúp du khách dễ dàng tiếp cận thông tin về

du lịch cũng như các thông tin về kinh tế - xã hội, văn hóa, lịch sử, giao thông, các

sự kiện nổi bật và các ý kiến đóng góp, phản ảnh, kiến nghị của du khách và người

dân được tiếp nhận, xử lý một cách nhanh chóng. Tính từ ngày 01/01/2017 đến hết

tháng 12/2020, Bộ phận thông tin hỗ trợ khách du lịch thuộc Sở Du lịch đã hỗ trợ

32.682 lượt khách, Tổng đài Thông tin - Hỗ trợ khách du lịch (1800556896) đã tư

vấn cho 2.535 lượt khách, tiếp nhận 112 thông tin kiến nghị.

2.2.4. Xây dựng và tổ chức nguồn nhân lực tham gia du lịch của thành phố

Hà Nội

Lao động trong ngành du lịch là loại lao động đặc thù, có vai trò rất quan trọng

trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của một quốc gia và của từng địa

phương, tham mưu cho các cấp đảng, chính quyền trong việc đề ra đường lối, chính

sách phát triển du lịch bền vững. Mặt khác, họ cũng đại diện cho nhà nước để

hướng dẫn, giúp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch hiệu quả,

cũng như kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh đó.

Lực lượng lao động ngành du lịch Hà Nội trong những năm qua có những

chuyển biến tăng về số lượng và chất lượng, do các cơ quan nhà nước du lịch thành

phố Hà Nội đã chú trọng hơn trong công tác tuyển dụng nhân sự làm việc. Hiện

55

nay, đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước, viên chức làm việc trong lĩnh vực

du lịch đa số là cán bộ trẻ, được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ đầy đủ. Mặt khác,

do nhu cầu phát triển của xã hội nên các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đã chủ

động đưa lao động của mình đi đào tạo nhằm đáp ứng với môi trường kinh doanh

du lịch ngày càng năng động.

Tiến hành đổi mới cơ bản công tác quản lý và tổ chức đào tạo nguồn nhân lực

du lịch, đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo, gắn lý thuyết với

thực hành bằng nhiều hình thức: đào tạo mới và đào tạo lại, nâng cao kiến thức và

trình độ nghiệp vụ, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ công chức, đội ngũ lao động

thuộc các thành phần kinh tế; nâng cao tay nghề và khả năng giao tiếp của đội ngũ

nhân viên, hướng dẫn viên, lễ tân,…để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bền vững

trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

Đầu tư kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn

nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành. Phấn đấu

đến năm 2025 tất cả lao động trong ngành được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về

nghiệp vụ du lịch.

Số lượng lao động trong ngành du lịch thành phố Hà Nội tăng đều qua các

năm, tập trung nhiều nhất ở các cơ sở lưu trú, lao động trong các cơ quan nhà nước

không biến động do thực hiện theo chỉ tiêu biên chế nhà nước giao, cuối năm 2016,

Trung tâm xúc tiến du lịch được thành lập, nâng số lượng lao động trong đơn vị sự

nghiệp nhà nước tăng thêm 15 người.

Bảng 2.3. Lao động ngành du lịch thành phố Hà Nội từ 2016 – 2020

ĐVT: người

2016 2017 2018 2019 2020

Đơn vị Sở VH, TT& DL Bảo tàng Trung tâm xúc tiến du lịch 20 33 15 20 33 15 21 33 15 22 33 15 22 33 15

Cơ sở lưu trú Công ty lữ hành Tổng 3.060 2.800 5.928 3.730 2.745 6.543 3.780 3.299 7.148 3.900 3.488 7.458 4.820 3.211 8.101

(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội)

56

ĐVT: %

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu nhân lực theo trình độ ngành Du lịch thành phố Hà Nội

(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội)

Chất lượng nguồn nhân lực: ở cấp thành phố, phòng Nghiệp vụ Du lịch trực

thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập từ năm 2005 đến nay có 20

công chức quản lý các hoạt động trong lĩnh vực du lịch, tất cả đều có nghiệp vụ về

du lịch. Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch với 15 viên chức trực thuộc Sở Văn

hóa, Thể thao và Du lịch vừa đi vào hoạt động vào đầu năm 2016, với chức năng

chính là xúc tiến, quảng bá và kêu gọi các nhà đầu tư vào du lịch Hà Nội. Trình độ

chuyên môn hầu hết đều qua đại học, tuy nhiên người có chuyên môn về du lịch

chiếm tỷ lệ thấp. Cấp quận và thành phố Hà Nội, cán bộ quản lý du lịch chủ yếu là

phân công 01 cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin phụ trách kiêm nhiệm, rất ít người

có trình độ chuyên môn về du lịch dù đa số có trình độ đại học. Trình độ của người

làm việc tại các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, các khách sạn xếp hạng sao về

cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch của thành phố trong giai đoạn hiện nay.

Đối với các hộ cá thể kinh doanh nhà nghỉ du lịch phần lớn chỉ qua lớp bồi dưỡng

nghiệp vụ ngắn hạn do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.

Phần lớn lao động trực tiếp đang phục vụ trong ngành du lịch đều là lao động

phổ thông, lao động trong gia đình, chưa qua đào tạo nghề du lịch, đa số không biết

ngoại ngữ, hoặc chỉ được đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn, tay nghề thấp. Trong thời gian

qua, các thành phần kinh tế đã tham gia đầu tư tập trung nhiều vào lĩnh vực khách

sạn, nhà hàng, nhà nghỉ. Tốc độ đầu tư, nâng cấp mở rộng các loại hình kinh doanh

57

du lịch phát triển nhanh do lượng khách du lịch đến Hà Nội tăng ổn định qua các năm

và môi trường kinh doanh du lịch ngày càng năng động hơn. Trong khi đó, thực tế ở

địa phương có ít cơ sở đào tạo chuyên ngành du lịch hoặc có những cơ sở đào tạo

thiếu điều kiện để sinh viên thực hành. Do nhu cầu cần lực lượng lao động để đáp

ứng tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong khi nguồn lao động

phần lớn là lao động phổ thông nên các doanh nghiệp và người sử dụng lao động phải

chọn hình thức tuyển dụng lao động phổ thông, chưa qua đào tạo và tự đào tạo theo

yêu cầu công việc của từng đơn vị nên chất lượng chuyên môn chưa cao, năng suất

lao động thấp, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói

riêng cũng như hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch thành phố nói chung.

2.2.4. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch và quản lý các hoạt động

kinh doanh du lịch

Cơ sở vật chất và Hạ tầng du lịch cho phát triển du lịch Hà Nội

Giao thông vận tải: Chính quyền TP Hà Nội luôn quan tâm phát triển hệ thống

kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch. Bên cạnh kết cấu hạ tầng đã được đầu tư xây dựng

trước đây, hàng năm TP Hà Nội tiếp tục đầu tư phát triển các tuyến giao thông của

thành phố. Đến nay, hệ thống đường thủy cùng với mạng lưới đường bộ, đường sắt,

đường thuỷ và hàng không đã tạo cho Hà Nội điều kiện thuận lợi trong giao lưu

phát triển kinh tế. Trong đó: giao thông đường bộ: Hà Nội có 7 tuyến đường quốc lộ

đi qua trung tâm là các tuyến quốc lộ 5, 18: Hà Nội – Hải Phòng, Quảng Ninh, QL

1A: Hà Nội – Lạng Sơn và đi phía Nam, QL6: Hà Nội – Tây Bắc; QL 32: Hà Nội –

Sơn Tây; QL 3: Hà Nội – Thái Nguyên; QL 2: Hà Nội – Việt Trì. Ngoài các tuyến

đường chính đi các ngả đường đất nước, Hà Nội còn hàng nghìn km đường mạng

nội thành và ngoại thành. Hệ thống giao thông nội và ngoại thành đều đã được nâng

cấp, cải tạo, bổ sung tạo cho Hà Nội một hệ thống đường bộ hợp lý, đảm bảo giao

lưu với các tỉnh trên mọi miền đất nước, nối liền trung tâm thành phố với các quận,

huyện được thông suốt. Đồng thời các cầu lớn vượt sông qua địa bàn được hoàn

thành đã tạo nên hệ thống giao thông đồng bộ.

Giao thông đường sắt: Hà Nội có 5 tuyến đường hướng tâm là: Hà Nội – TP.

Hồ Chí Minh, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội

58

– Thái Nguyên. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì đường

sắt nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch quốc tế.

Về đường hàng không: Hiện Hà Nội có 2 sân bay dân dụng là sân bay quốc tế

Nội Bài và sân bay Gia Lâm. Những đường bay thẳng đến Hà Nội trong đó có

nhiều đường bay giá rẻ được thiết lập ngày càng nhiều cùng với chiến lược quảng

bá của các hãng hàng không như Tiger Airway, Thai Airway, Jetstar Airway...tạo

thuận lợi cho khách quốc tế đến Hà Nội. Ngoài ra, hãng hàng không Việt Nam

cũng đã mở thêm nhiều đường bay như đường bay đến Mỹ tạo điều kiện tăng

trưởng khách Mỹ,...

Để đi quanh Hà Nội có các loại xe như taxi, bus, xe ôm, xích lô rất phát triển

và ngày càng chuyên nghiệp hơn trong phong cách phục vụ và khả năng sử dụng

ngoại ngữ tuy nhiên các phương tiện giao thông công cộng ở Hà Nội còn chưa hiện

đại, chưa thuận tiện và tình trạng ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường đang là trở

ngại lớn đối với phát triển du lịch thành phố Hà Nội.

Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng

Chính quyền TP Hà Nội khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ tài chính

ngân hàng nhằm tạo điều kiện cho du lịch. Mạng lưới các ngân hàng và tổ chức tín

dụng trên địa bàn Hà Nội trong những năm qua liên tục phát triển cả về số lượng và

quy mô hoạt động. Tính đến nay toàn Thành phố có 312 Sở giao dịch, Ngân hàng

và chi nhánh NHTM với 829 chi nhánh cấp 2, phòng giao dịch, điểm giao dịch và

Quỹ tiết kiệm. Các cơ sở dịch vụ về tài chính, ngân hàng bao gồm hệ thống ngân

hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, hệ thống kho bạc từ thành phố đến

các huyện, thị trấn, công ty bảo hiểm, các quĩ tín dụng nhân dân… Hệ thống các cơ

sở dịch vụ này hiện tại thường xuyên được cải tiến về nghiệp vụ chuyên môn và

phong cách phục vụ, tăng cường trang bị kĩ thuật hiện đại, thực hiện vi tính hóa

trong quản lí và thanh toán… đang ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn cho

sản xuất – kinh doanh, đáp ứng tốt hơn các công tác thanh toán, trao đổi hàng hóa –

dịch vụ; phục vụ kịp thời cho công tác lãnh đạo, quản lí của các cấp, các ngành; góp

phần tích cực cho phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân trong thành phố.

Bưu chính viễn thông

59

Ngành bưu chính viễn thông của Hà Nội rất phát triển tương xứng với vị trí là

thủ đô của một nước. Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín các vùng trong Thành

phố với hệ thống tổng đài điện tử hiện đại của các bưu điện, hệ thống viễn thông vi

ba, cáp quang Bắc – Nam, đường cáp quang nối Việt Nam – Thái Lan – Hồng

Kông, mạng Vsat đảm bảo cho việc sử dụng thông tin vệ tinh ở bất kỳ địa điểm nào

trên lãnh thổ Việt Nam. Tất cả những điều đó tạo điều kiện thuận lợi không những

cho người dân mà còn cho cả du khách đến Hà Nội.

Cơ sở lưu trú

Chính quyền TP Hà Nội rất chú trọng đến việc phát triển hệ thống cơ sở lưu trú

phục vụ khách du lịch. Đến cuối năm 2020, Hà Nội có 1354 cơ sở lưu trú được xếp

hạng, bằng 13% số cơ sở lưu trú được xếp hạng của cả nước, trong đó có 111 khách

sạn được xếp hạng 3 sao (38% khách sạn 3 sao của cả nước), 19 khách sạn được xếp

hạng 4 sao (10% của cả nước), 12 khách sạn được xếp hạng 5 sao (bằng 25,8% khách

sạn 5 sao của cả nước) với 2.344 phòng (bằng 29% số phòng khác sạn 5 sao của cả

nước). Giai đoạn 2016-2020 có tốc độ tăng trưởng trung bình của các CSLT đạt

13,3% cao gấp đôi so với giai đoạn 2011-2015 (6,7%). Chất lượng phục vụ trong các

khách sạn, nhà nghỉ đặc biệt là khách sạn 4-5 sao, khách sạn liên doanh khá tốt. Hệ

thống các khách sạn, nhà nghỉ đang ngày càng trú trọng tới việc nâng cao chất lượng

dịch vụ nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách du lịch trong nước và quốc tế.

Cùng với số lượng các CSLT không ngừng tăng lên qua các năm thì số lượng

phòng được đưa vào sử dụng cũng không ngừng tăng lên tuy nhiên tốc độ tăng

phòng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng CSLT, giai đoạn 2011-2015 số phòng tăng

với tốc độ 5,9%/năm, 2016-2020 là 5,1%/năm.

Bảng 2.4: Hiện trạng cơ sở lưu trú của Hà Nội giai đoạn 2016-2020

Chỉ tiêu Đơn vị 2016 2017 2018 2019 2020

Tổng số CSLT Cơ sở 1.168 1.065 1.043 1.048 1.354

Tổng số phòng Phòng 13.865 13.360 13.054 13.838 16.000

Công suất SD buồng % 85 80 78 79 55

Nguồn: Sở du lịch Hà Nội

60

Công suất sử dụng phòng theo đánh giá của tổ chức du lịch thế giới nếu đạt

trên 75% thì được đánh giá là hiệu quả hoạt động tốt. Đây là tiêu chí quan trọng để

đánh giá sự phát triển của ngành du lịch, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chất

lượng cơ sở lưu trú, tính chuyên nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ, tính mùa vụ

của du lịch…Từ sau năm 2016, ngành du lịch Hà Nội luôn có công suất sử dụng

buồng trên 75% cho thấy thành phố đã đạt được vị thế của một thành phố có ngành

du lịch phát triển tốt. Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch covid 19 cho nên công suất

sử dụng buồng chỉ đạt 55%, thấp nhất trong 5 năm qua.

Về hệ thống cơ sở phục vụ ăn uống

Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách đều có cơ sở phục vụ ăn uống đáp

ứng nhu cầu từ cao cấp đến bình dân của du khách. Hệ thống các cơ sở phục vụ ăn

uống của Hà Nội rất đa dạng, ngày càng nhiều các nhà hàng chuyên doanh về ẩm

thực của một quốc gia, vùng, miền phần nào đáp ứng được nhu cầu ẩm thực phong

phú và đa dạng của khách du lịch trong và ngoài nước. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại

các cơ sở kinh doanh chạy theo lợi nhuận bất chấp vệ sinh an toàn thực phẩm, giá

cả của thực phẩm tăng tùy tiện, chất lượng phục vụ kém nhất là trong các dịp lễ, hội

khi mà lượng khách du lịch đến Hà Nội tăng đột biến. Các nhà chức trách thành phố

và những người thực hiện kinh doanh nếu làm tốt vấn đề này thì chắc chắn du lịch

Hà Nội sẽ hấp dẫn du khách hơn. Cùng với những tín hiệu tích cực trong phát triển,

du lịch Thủ đô đang phải đối mặt với không ít thách thức, một trong những "bài

toán" làm "đau đầu" các nhà quản lý du lịch, đó chính là quy hoạch phát triển du

lịch giữa cung và cầu xây dựng chưa hài hòa, chỉ sau 1 đến 2 năm, nhiều khách sạn

mọc lên nhưng trên thực tế, lượng khách không tăng cao do vậy công việc kinh

doanh gặp khó khăn công suất sử dụng phòng giảm buộc các khách sạn phải chuyển

hướng sang xây dựng văn phòng cho thuê. Và như vậy khi du lịch vào mùa cao

điểm, lượng khách tăng thì cơ sở lưu trú lại không đủ để có thể đáp ứng nhu cầu. Có

những hiện tượng như vậy xảy ra nguyên nhân là do Hà Nội nói riêng và Việt Nam

nói chung phát triển hệ thống các cơ sở lưu trú kinh doanh du lịch mang tính tự

phát, chưa có quy hoạch một cách chi tiết nhằm hướng dẫn người dân xây dựng

theo đúng quy hoạch nên lĩnh vực này vẫn còn nhiều bất cập.

61

Về hệ thống các khu vui chơi, giải trí và trung tâm mua sắm

Hệ thống các cơ sở vui chơi - giải trí - thể thao mặc dù đã được Nhà nước và

chính quyền Thành phố quan tâm đầu tư phát triển nhưng nhìn chung vẫn còn rất

nghèo nàn, quy mô nhỏ. Các vũ trường – sàn nhảy cũng đã khá phát triển tuy nhiên

chỉ phù hợp với một bộ phận nhất định thanh, thiếu niên và khách du lịch trẻ do

người Việt Nam đại đa số chưa thích nghi được với hình thức giải trí này. Các cơ sở

dịch vụ du lịch khác như sauna, xông hơi, massa.v.v… vài năm gần đây cũng đã

khá phát triển ở Hà Nội đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch đặc biệt là khách

du lịch ở các thành phố lớn và khách du lịch quốc tế.

Hà Nội có một số làng nghề mang tính đặc trưng riêng có của mình. Tuy

nhiên, ngay cả những làng nghề được cho là nổi bật nhất của Thủ đô như Bát Tràng,

Vạn Phúc – nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh và còn lưu lại phần

lớn nét văn hóa truyền thống thì lượng khách du lịch đến với làng nghề không cao.

Phần lớn khách du lịch đến với các làng nghề này là tự tìm đến. Thậm chí, nhiều

trường hợp công ty du lịch đưa khách đến làng nghề, hẹn thời gian và để tự tìm hiểu

làng nghề. Sẽ có hiệu quả hơn nếu các công ty du lịch có những chương trình liên

kết với các cơ sở sản xuất để khách được giới thiệu, tìm hiểu quá trình sản xuất các

sản phẩm truyền thống của Hà Nội, tặng quà lưu niệm chính là sản phẩm của làng

nghề cho du khách đặc biệt là đối với du khách nước ngoài.

Trung tâm mua sắm

Thực tế phát triển ngành du lịch thế giới cho thấy, các khu mua sắm là nơi rất

thu hút du khách, nơi khiến du khách phải chi nhiều tiền cho hoạt động của mình.

Đa số các nước thành công trong phát triển du lịch đều hình thành trung tâm mua

sắm lớn, như trường hợp của Thái Lan. Thái Lan được mệnh danh là thiên đường

mua sắm với rất nhiều khu mua sắm nổi tiếng, nơi mà du khách có thể tìm thấy mọi

thứ họ muốn từ áo quần, túi xách, giày, nữ trang…đến tranh, đồ gia dụng, đồ gỗ.

Riêng thủ đô Bangkok đã có sáu cửa hàng tổng hợp lớn (trung tâm mua sắm tiêu

chuẩn quốc tế Gaysorn, cửa hàng giá rẻ MBK, trung tâm mua sắm Central World,

đầu mối bán lẻ lớn nhất Thái Lan – Central Department Store, trung tâm mua sắm

62

hàng hiệu cao cấp Emporium, khu phức hợp mua sắm Siam Paragon) và bảy khu

chợ nổi tiếng khác. Khách du lịch nước ngoài đến Thái Lan có thể bỏ ra 500-600

USD/ngày trong đó khoảng 200 USD cho mua sắm, trong khi đó khách đến Thủ đô

Hà Nội con số này chỉ giao động vào khoảng 100 USD/ngày và chi cho mua sắm

còn thấp hơn nhiều. Sở dĩ như vậy vì cho đến nay, mặc dù ngành thương mại ở Hà

Nội cũng đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng Thủ đô ta vẫn chưa có trung

tâm mua sắm đạt trình độ quốc tế, hàng hóa có xuất xứ trong nước thì chất lượng

thấp, mẫu mã, chủng loại xấu, đơn điệu; hàng nhập ngoại thì giá cả cao hơn rất

nhiều so với hàng hóa cùng loại tại các quốc gia khác. Chính điều đó đã không kích

cầu tiêu dùng hàng hóa của khách du lịch tới Hà Nội.

Mặt khác, tại một số điểm mua sắm dành cho du khách khi đến Hà Nội, các

sản phẩm “made in Vietnam” được bày bán chủ yếu là bưu thiếp, tranh thêu, các

loại móc chìa khóa, túi xách, khăn thổ cẩm, tranh phong cảnh, một số loại áo, khăn,

hàng thực phẩm…Tuy nhiên, các sản phẩm này thường na ná nhau, không có sự đa

dạng về mẫu mã. Theo kinh nghiệm phát triển của thương hiệu Miss Áo Dài cho

rằng để kéo du khách đến với món hàng lưu niệm, cần quan tâm đến cách bài trí và

chất liệu của bao bì. Hầu hết các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Miss Áo Dài sản

xuất và đặt hàng đều được bao gói có nhãn mác, có đầy đủ thông số kỹ thuật, bao bì

được làm từ chất liệu vải silk. Các sản phẩm như khăn thêu tay, các loại đũa, miếng

lót ly, mứt, trà sen… đều được bọc lớp bao bì trang trí khá lạ mắt. Do đó, ngoài áo

dài, Miss Áo Dài còn thành công với các sản phẩm làm bằng thổ cẩm, tranh thêu,

thủ công mỹ nghệ.

Phương tiện vận chuyển khách

Tính đến cuối năm 2019, Hà Nội có khoảng 1.320 doanh nghiệp đăng ký kinh

doanh vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ du lịch khác. Mạng lưới xe bus hiện

có 83 tuyến, trong đó 60 tuyến có trợ giá và 23 tuyến xe bus kế cận không trợ giá

với tổng số 1.200 xe hoạt động. Tính đến tháng 12/2020 có 464 tuyến xe khách liên tỉnh

xuất phát từ các bến xe của Thành phố đi đến các tỉnh, thành trong cả nước. Trên địa bàn

63

Thành phố có 104 doanh nghiệp vận tải hành khách bằng taxi với trên 9.000 xe, 300 xe

xích lô đủ để đáp ứng nhu cầu về phương tiện đi lại cho khách du lịch.

Về doanh nghiệp kinh doanh du lịch

Ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch thành phố Hà Nội nói riêng

trong những năm gần đây chứng kiến sự lớn mạnh về mặt quy mô, hệ thống kinh

doanh du lịch không ngừng được mở rộng, thu hút sự tham gia của cả 6 thành phần

kinh tế. Số liệu thống kê ghi nhận sự gia tăng về số lượng các doanh nghiệp hoạt

động kinh doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội. Nếu như năm 2016 con số này mới

chỉ khiêm tốn đạt 1.139 doanh nghiệp thì năm 2020 đạt 1.426 doanh nghiệp tăng

gấp 1,25 lần so với năm 2016 đạt tốc độ tăng trưởng 7,5%/năm giai đoạn 2016-

2020. Thực trạng này cho thấy, ngành du lịch là một ngành kinh tế tạo ra lợi nhuận

cao nên ngày càng có nhiều doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh trong

lĩnh vực này.

Cơ cấu doanh nghiệp du lịch cho thấy khối doanh nghiệp trong nước vẫn

chiếm tỷ lệ chính trên 90% nhưng có xu hướng giảm dần qua các năm do ngày càng

có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư kinh doanh lĩnh vực du lịch tại Hà Nội.

Bảng 2.5: Doanh nghiệp du lịch Hà Nội giai đoạn 2016-2020

TĐ tăng Năm 2016 2017 2018 2019 2020 trưởng (%)

Tổng (doanh nghiệp) 1.139 1.247 1.269 1.367 1.426 8,5

DN nhà nước 30 29 28 29 29 -0,7

% DNNN 2,6 2,3 2,2 2,1 2,0

DN ngoài NN 1.076 1.177 1.197 1.290 1.349 8,5

% DN ngoài NN 94,5 94,4 94,3 94,4 94,6

DN có vốn ĐTNN 33 41 44 48 48 15,9

% DN có vốn ĐTNN 2,9 3,3 3,5 3,5 3,4

Nguồn: Tổng cục du lịch

Nếu như năm 2016 toàn thành phố mới chỉ có 33 doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài thì đến năm 2020 đã tăng lên gấp đôi đạt 48 doanh nghiệp, đạt tốc độ

64

tăng trưởng trung bình giai đoạn 2016- 2020 là 15,9% trong khi trung bình của cả

nước đạt 9,52%. Trong năm 2020, ngành du lịch Hà Nội có 3 doanh nghiệp lữ hành

quốc tế được công nhận danh hiện 10 doanh nghiệp lữ hành hàng đầu Việt Nam.

Hiện ở Hà Nội có 35 chi nhánh, 12 văn phòng đại diện doanh nghiệp trong nước và

9 văn phòng đại diện nước ngoài hoạt động kinh doanh lữ hành. Tuy nhiên, quy mô

các doanh nghiệp nhìn chung còn nhỏ. Sự xuất hiện các doanh nghiệp lữ hành nước

ngoài có thể nói là thách thức không nhỏ với các doanh nghiệp trong nước khi mà

những công ty này, với lực lượng hướng dẫn viên thạo tiếng (đặc biệt là những

ngoại ngữ hiếm như Hàn Quốc, Nhật Bản) dồi dào và mối liên hệ chặt chẽ với du

khách có nguy cơ thâu tóm hầu hết lượng khách Hàn Quốc và Nhật Bản tới Hà Nội

nói riêng và Việt Nam nói chung.

Những con số ấn tượng này nói lên rằng ngành kinh tế du lịch Hà Nội đang là

ngành được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao về khả năng thu lợi nhuận của

nó. Các doanh nghiệp trong nước cũng ngày một quan tâm hơn tới khả năng phát

triển của ngành du lịch Hà Nội, thể hiện ở số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc

doanh tăng lên nhanh chóng, trong vòng 5 năm tăng thêm 476 doanh nghiệp du lịch

ngoài quốc doanh. Số doanh nghiệp quốc doanh hầu như không thay đổi cho thấy

việc cổ phần hóa doanh nghiệp theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước diễn ra chậm

trong khi đó các doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn quen “tác phong ỷ lại vào nhà

nước” nên hoạt động thiếu tính chuyên nghiệp, sức cạnh tranh chưa cao. Tuy nhiên,

cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh du lịch thì đều

chưa có tầm nhìn dài hạn, các hoạt động mang tính chất “chộp dật, thu lợi ngay”.

Sự nở rộ về số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch đã tạo ra

môi trường cạnh tranh sôi động. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp du lịch trong

nước chủ yếu là cạnh tranh về giá. Chiến lược phát triển chung của ngành du lịch

Việt Nam vẫn là đạt mức tăng trưởng du lịch gắn với nâng cao chất lượng sản phẩm

du lịch và hướng tới phát triển du lịch bền vững.

2.2.6. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động du lịch

Sở thường xuyên chỉ đạo Thanh tra Sở phối hợp với các ngành tiến hành kiểm

tra và xử lý vi phạm trong hoạt động du lịch, luôn bám sát quy định pháp luật của

65

Nhà nước về xử lý vi phạm trên lĩnh vực du lịch để thực hiện đúng quy định. Mục

đích của các cuộc thanh kiểm tra nhằm nhắc nhở, hướng dẫn và xửlý các hành vi cố

tình vi phạm nhằm giúp hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố đi vào

nề nếp và thông qua các cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đã góp phần khắc

phục những tồn tại, hạn chế, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm, kiến nghị các cơ

quan quản lý nhà nước nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về phát

triển du lịch bền vững.

Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn đã có

sự phối hợp chặt chẽ giữa Thanh tra các cấp, các ngành và lực lượng Công an các

cấp đã cơ bản phát huy hiệu quả, tạo sức mạnh, giảm được sự kiểm tra trùng chéo

tại doanh nghiệp. Kịp thời ứng phó với những hiện tượng bức xúc trong môi trường

du lịch ngăn chặn xử lý tình trạng chèo kéo, bắt chẹt, ép giá... đối với khách du lịch,

nhất là tại những địa bàn trọng điểm như: khu vực hồ Hoàn Kiếm, Phố cổ Hà Nội,

Văn Miếu - Quốc Tử Giám, khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu vực Hồ Tây

trong dịp nghỉ lễ Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán, Ngày 30/4-1/5, Quốc khánh 2/9,

ngày Giải phóng Thủ đô 10/10... Đặc biệt trong năm 2020, Sở Du lịch Hà Nội đã

phối hợp, trao đổi cung cấp thông tin với Sở Du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du

lịch) các địa phương để truy vết đối với khách du lịch thuộc diện F1, F2, F3 có khả

năng nhiễm dịch bệnh Covid-19, đảm bảo an ninh, an toàn cho người dân và khách

du lịch trước nguy cơ dịch bệnh tại các cơ sở lưu trú, các điểm đến du lịch trên địa

bàn Hà Nội và các địa phương.

Giai đoạn 2016-2020, Thanh tra Sở đã phối hợp với Công an Thành phố Hà

Nội và các ngành chức năng tổ chức kiểm tra và nhắc nhở 291 cơ sở kinh doanh

du lịch.

Qua kiểm tra phát hiện, trên địa bàn thành phố Hà Nội còn một số cơ sở kinh

doanh lưu trú du lịch có hành vi vi phạm hành chính trên lĩnh vực du lịch như:

không đăng ký với cơ quan nhà nước để thẩm định, công nhận mới và công nhận lại

cơ sở lưu trú du lịch; không thông báo bằng văn bản về thời điểm bắt đầu hoạt động

kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; không treo

66

Quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch tại quầy lễ tân; không gắn biển

hạng cơ sở lưu trú du lịch; không niêm yết giá phòng, giá dịch vụ. Phần lớn các

trường hợp này là các hộ gia đình kinh doanh nhà nghỉ không hiệu quả nên buông

lỏng việc duy trì loại hạng cơ sở lưu trú do Sở cấp, hoặc chủ doanh nghiệp giao cho

người làm thuê quản lý nên không chú ý đến việc thẩm định, xếp hạng lại khi cơ sở

lưu trú hết hạn trong giấy phép.

2.3. Đánh giá hoạt động quản lý Nhà nước về du lịch theo hướng phát

triển bền vững tại thành phố Hà Nội

2.3.1. Kết quả tích cực

Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về du lịch ở thành phố Hà Nội

có những chuyển biến rất tích cực, góp phần quan trọng thúc đẩy du lịch phát triển

bền vững, cụ thể là:

- Thứ nhất, việc xây dựng, tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế

hoạch phát triển du lịch bền vững của thành phố có sự đổi mới cả về nội dung,

phương pháp và tổ chức thực hiện, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch trên

địa bàn xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh của mình sát hợp với thị

trường và phù hợp với định hướng phát triển chung của địa phương.

- Thứ hai, việc chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản,

các cơ chế, chính sách phát triển du lịch bền vững ngày càng tiến bộ. Điều đó đã

góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân tham gia kinh

doanh du lịch, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về

phát triển du lịch bền vững trên địa bàn thành phố. Công tác tuyên truyền, phổ biến

giáo dục pháp luật, và tổ chức hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật

của nhà nước về vấn đề phát triển du lịch bền vững được chú trọng. Các nội dung

quy định về bảo vệ và tôn tạo tài nguyên du lịch, quy hoạch du lịch, công nhận và tổ

chức quản lý khu, tuyến, điểm du lịch; các quy định về bảo đảm an ninh, an toàn,

cứu hộ, cứu nạn, bảo hiểm du lịch và giải quyết yêu cầu, kiến nghị của khách du

lịch đều đã thể hiện được chính sách của nhà nước Việt Nam trong việc nâng cao

sức cạnh tranh, hấp dẫn của du lịch Hà Nội, bảo vệ được quyền lợi chính đáng của

khách du lịch và các nhà đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực du lịch.

67

- Thứ ba, bộ máy quản lý nhà nước về du lịch Hà Nội được kiện toàn, Sở Du

lịch Hà Nội thời gian qua đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho UBND thành

phố ban hành các quyết định quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại Hà

Nội, đồng thời thực hiện tốt sự phối hợp với các sở, ban ngành có liên quan trong

việc quản lý và phát triển du lịch bền vững.

- Thứ tư, chính quyền Hà Nội đã có nhiều nỗ lực trong công tác đào tạo và xây

dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch. Tập thể cán bộ công chức Sở Du

lịch nói chung, cán bộ công chức phòng du lịch nói riêng đã tận tụy, phục vụ và

sáng tạo trong công tác, làm khá tốt vai trò tham mưu cho UBND thành phố trong

việc quản lý các hoạt động du lịch đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh du lịch

trên địa bàn thành phố Hà Nội theo sự phân cấp của nhà nước và theo quy định của

pháp luật.

- Thứ năm, công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động du lịch được duy trì

thường xuyên, góp phần ổn định thị trường, đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh du

lịch, giữ gìn kỷ cương pháp luật trong hoạt động trên địa bàn thành phố. Qua thời

gian thực hiện, công tác này đã nhận được sự quan tâm, sự chỉ đạo sát sao, kịp thời

của các cấp, các ngành và địa phương. Đội ngũ cán bộ làm công tác này được đào

tạo cơ bản, có nhiều cố gắng, nỗ lực, khắc phục khó khăn để tham mưu, hoàn thành

nhiệm vụ. Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra du lịch thành phố cơ bản được thực

hiện nghiêm túc, đúng luật du lịch năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

trong lĩnh vực du lịch và Nghị định số 149/2007/NĐ-CP ngày 9/10/2007 của Chính

phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực du lịch.

- Thứ sáu, công tác sơ kết, tổng kết hoạt động quản lý về phát triển du lịch bền

vững vẫn thường xuyên diễn ra. Trên cơ sở đó tiếp tục đề ra các mục tiêu, phương

hướng, giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch một cách bền vững trong những giai

đoạn tiếp theo, nhằm khai thác hết thế mạnh của thành phố. Qua đó, thành phố Hà

Nội đã huy động mọi nguồn lực xã hội, khai thác hiệu quả lợi thế, tiềm năng du lịch

của thành phố, từng bước đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọng,

góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, không ngừng cải thiện

đời sống nhân dân.

68

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.3.2.1. Hạn chế

- Một là, công tác xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát

triển du lịch bền vững chưa thực hiện tốt. Những căn cứ để xây dựng chiến lược,

quy hoạch, kế hoạch còn chưa đầy đủ và chính xác. Cụ thể là, còn thiếu các cuộc

điều tra, nghiên cứu thị trường trong nước và quốc tế; các tài liệu phân tích…Các

tài liệu đánh giá chưa cụ thể, danh mục đầu tư trải rộng, các dự báo, các tiêu chuẩn

định mức tính toán chưa thật sát với điều kiện cụ thể của Hà Nội, chưa lường hết

được những biến động và những khó khăn sẽ nảy sinh. Các quy hoạch, kế hoạch

thiếu các phương pháp khoa học hỗ trợ. Xác định nhiều hướng phát triển bền vững

sản phẩm du lịch, điểm du lịch cụm du lịch nhưng chưa nhận thức đầy đủ hướng

nào chính, hướng nào phụ. Chưa chú ý đến việc giúp các doanh nghiệp kinh doanh

du lịch xây dựng chiến lược phát triển, gắn chiến lược doanh nghiệp với chiến lược

của thành phố. Hệ thống các chiến lược, quy hoạch chưa quan tâm đúng đến đầu tư

khôi phục, chỉnh trang, mở rộng các cơ sở, các điểm hiện có theo quan điểm hệ

thống với chất lượng cao.

- Hai là, việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật,

các cơ chế, chính sách để quản lý, điều hành các hoạt động phát triển du lịch bền

vững còn chậm, nội dung chưa sát với điều kiện, tiềm năng phát triển du lịch bền

vững ở thành phố và chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế

tham gia kinh doanh du lịch. Thủ tục hành chính đối với các hoạt động du lịch nhìn

chung còn phức tạp. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phát triển du lịch

bền vững cho người dân và việc nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địa

phương về vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội còn thấp,

chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh hiện nay.

- Ba là, bộ máy tổ chức quản lý hoạt động còn thiếu đồng bộ, chưa có sự phối

hợp, phân chia nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng giữa các ban, ngành liên quan. Năng

lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển du lịch chưa theo kịp yêu cầu, một số

vấn đề chậm phát hiện, nghiên cứu chưa sâu, chưa kịp thời đề xuất giải pháp khắc

phục. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

69

nước hoạt động trong lĩnh vực du lịch của thành phố mặc dù có nhiều cố gắng

nhưng vẫn chậm so với kế hoạch đề ra và có hiệu quả thấp.

- Bốn là, công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng

nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch còn nhiều hạn chế, chưa khắc phục được

những bất cập trong công tác đào tạo nghiệp vụ du lịch trước yêu cầu phát triển

ngành hiện nay cũng như tình trạng chất lượng nguồn nhân lực thấp, thiếu đội ngũ

lao động tay nghề cao, chất lượng phục vụ chưa đồng đều và thiếu tính chuyên

nghiệp. Có một thực tế cho thấy rất rõ, hiện nay chương trình đào tạo tại các trường

vẫn còn nặng nề về lý thuyết, chưa chú trọng nhiều đến kỹ năng thực hành. Hàng

năm, lượng sinh viên ra trường chưa đáp ứng ngay được yêu cầu công việc, phần

lớn phải đào tạo lại. Thêm nữa lực lượng quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền

vững còn rất mỏng, hiệu quả công tác quản lý chưa cao. Ngoài ra, số lượng hướng

dẫn viên tại các điểm du lịch trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, số hướng dẫn

viên du lịch sử dụng các ngoại ngữ hiếm như Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Thái Lan

v.v…còn rất ít, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Không giống với các

ngành khác, đặc thù của ngành du lịch là tính liên ngành và tính xã hội cao. Lao

động ngành này, cần được đào tạo không chỉ về chuyên môn du lịch mà còn phải

hiểu biết nhiều chuyên môn khác như: văn hóa, ngoại ngữ, kinh tế. Đào tạo một

nhân viên du lịch không chỉ là dạy cho họ kỹ năng nghề mà còn rèn lối sống, trang

bị các kiến thức văn hóa cần thiết. Cơ cấu lao động trong ngành du lịch chưa hợp lý,

thiếu lao động có năng lực quản trị khách sạn, nhà hàng, lữ hành.

- Năm là, hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch tuy đã được đổi mới, song chưa

theo kịp sự phát triển của ngành. Các lễ hội du lịch hàng năm còn nhiều bất cập, hạn

chế, chưa thực sự mang lại sự hài lòng cho du khách khi đến tham quan. Các hình

thức còn mang tính quảng bá hình ảnh, chưa có được mô hình gắn kết giữa Hà Nội

với các doanh nghiệp, giữa khách trong nước và ngoài nước. Chưa có các biện pháp

để các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ ở Hà Nội quan tâm đến hoạt động quảng

bá, xúc tiến du lịch. Việc xây dựng thương hiệu và nâng cao nhận thức về các điểm

du lịch khác vẫn còn rất thấp. Trong hoạt động quảng bá các tài nguyên du lịch,

thành phố phát hành một số tài liệu thiếp thị với hình ảnh hấp dẫn và thông tin hữu

70

ích, nhưng những tài liệu này lại không có sẵn tại các khu trọng điểm du lịch để

khách du lịch tham khảo như tại các trung tâm du lịch và khách sạn nổi tiếng.

- Sáu là, việc quản lý các khu, điểm du lịch trên địa bàn còn chồng chéo. Việc

quản lý các cơ sở du lịch nhỏ còn chưa chặt chẽ, đầy đủ. Trong nhiệm vụ phát triển

sản phẩm du lịch bền vững, Hà Nội đã xây dựng được nhiều sản phẩm mới nhưng

quy mô, chất lượng chưa tương xứng với tiềm năng; các sản phẩm đã có lại chưa

được đầu tư xứng đáng nên chất lượng chưa cao. Sản phẩm du lịch, chương trình

tour tuyến còn đơn điệu, kém hấp dẫn, đây là một trong những thách thức lớn đối

với du lịch Hà Nội.

- Bảy là, hoạt động đầu tư, hợp tác phát triển du lịch nhằm tạo sự liên kết với

các địa phương trong nước và nước ngoài tuy được thực hiện nhưng nhìn chung còn

khá ít các văn bản được ký kết. Phạm vi liên kết, hợp tác còn tương đối hẹp, sự giao

lưu học hỏi với các nước trên thế giới chưa mang tính chuyên nghiệp. Sự liên kết

giữa các vùng trong cả nước mang tính phụ cận, chưa bắt nhịp được với sự phát

triển hiện đại của du lịch nói chung.

- Tám là, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực du lịch

mặc dù được chính quyền thành phố quan tâm chỉ đạo thực hiện, nhưng nhìn chung

còn nhiều bất cập, hiệu quả mang lại không cao. Công tác xử lý sau kiểm tra, thanh

tra từng lúc, từng nơi chưa dứt khoát, còn để kéo dài, việc tố cáo, khiếu nại trong

lĩnh vực du lịch còn diễn biến phức tạp. Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát

hoạt động đối với các doanh nghiệp còn những khó khăn nhất định, bởi nhiều doanh

nghiệp đăng ký kinh doanh nhưng không mở văn phòng, không có địa chỉ cụ thể

nên không nắm được số lượng doanh nghiệp thực hoạt động là bao nhiêu. Việc

kiểm tra, thanh tra các cơ sở kinh doanh, ăn uống, lưu trú tuy được đẩy mạnh nhưng

hiệu quả chưa cao. Các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống với mức giá quá cao vẫn

hoạt động, gây ra những hậu quả không hay cho ngành du lịch của thành phố.

2.3.2.2. Nguyên nhân

a) Các nguyên nhân khách quan

- Nền kinh tế nước ta phát triển chưa cao, trình độ khoa học – công nghệ còn

rất hạn chế. Đây là một thách thức đặc biệt lớn đối với hoạt động quản lý, điều hành

71

của Nhà nước về kinh tế nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng trong

bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ chế, chính sách, pháp luật chung liên quan

đến phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng có mặt

chậm sửa đổi, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và thiếu thông thoáng; việc ban hành

các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Du lịch còn chậm, chưa kịp thời, gây khó

khăn cho hoạt động quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững ở các địa

phương. Mặt khác, du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng

và xã hội hóa cao. Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững liên quan đến

nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực khác nhau.

- Cơ chế quản lý có liên quan đến khách du lịch của các bộ, ngành có những

điểm chưa thống nhất, còn mang tính chất riêng biệt của ngành. Doanh nghiệp

không tự giác chấp hành quy định của nhà nước đối với ngành nghề kinh doanh.

Phần lớn tư tưởng kinh doanh mang tính chộp dựt vì lợi ích cục bộ trước mắt; thiếu

tính chuyên nghiệp và tầm nhìn lâu dài.

- Bộ máy quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững thay đổi quá nhanh

do sát nhập, chia tách nhiều lần, thiếu tính ổn định nên không đảm báo tính liên tục

trong quản lý, hiệu lực quản lý chưa cao, nhất là bộ máy quản lý nhà nước về phát

triển du lịch bền vững ở cấp cơ sở. Quyền hạn, trách nhiệm cũng như lợi ích của các

cấp, ngành trong việc cụ thể hóa các cơ chế, chính sách của Nhà nước về phát triển

du lịch bền vững vào điều kiện cụ thể của địa phương cũng như trong việc ban hành

cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền và trong việc hướng dẫn, tổ chức thực hiện các

cơ chế, chính sách đó chưa được làm rõ. Sự kết hợp trong quản lý về phát triển du

lịch bền vững giữa các cơ quan chức năng của thành phố chưa thực sự chặt chẽ

trong khi đó lại chưa phân định một cách rõ ràng trách nhiệm và lợi ích của các cấp,

các ngành và cộng đồng dân cư trong quản lý về phát triển du lịch bền vững tại các

khu, điểm du lịch.

b) Các nguyên nhân chủ quan

- Một số cấp ủy đảng và chính quyền trong thành phố chưa coi trọng và quan

tâm đúng mực đến công tác quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững trên địa

72

bàn. Nhận thức về vị trí của phát triển du lịch bền vững trong phát triển kinh tế - xã

hội của thành phố còn hạn chế, nên nhiều nơi, nhiều đơn vị trong thành phố còn tư

tưởng trông chờ, ỷ lại, chưa năng động, sáng tạo, chưa quan tâm, tạo môi trường

thuận lợi cho du lịch phát triển bền vững, chưa chú trọng huy động các thành phần

kinh tế tham gia phát triển du lịch.

- Nội dung, phương thức và phương pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục

chính sách, pháp luật du lịch cho cộng đồng dân cư trên địa bàn còn nghèo nàn, đơn

điệu và chưa phù hợp với điều kiện thực tế ở thành phố.

- Trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành du lịch còn nhiều bất

cập. Công tác quản lý cán bộ, quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ quản lý nhà nước

về phát triển du lịch bền vững của thành phố, nhất là đội ngũ cán bộ kế cận, tuy có

được quan tâm nhưng chưa thường xuyên. Bên cạnh đó, các chính sách tiền lương,

chế độ đãi ngộ cán bộ, chính sách thu hút nhân tài chậm được ban hành hoặc chưa

được chú trọng thực hiện. Việc đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho

phát triển du lịch bền vững du lịch còn chắp vá, thiếu hệ thống. Mối quan hệ giữa

cơ sở đào tạo nghề du lịch và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phát triển nguồn

nhân lực chưa chặt chẽ.

- Việc quảng bá, tuyên truyền, xúc tiến phát triển du lịch bền vững chưa được

quan tâm đầy đủ và đầu tư đúng mức để phát huy hết những thế mạnh tiềm năng

phát triển của thành phố. Sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch bền vững còn

nghèo nàn, đơn điệu; hình thức quảng bá kém hấp dẫn, gây ra sự chồng chéo và

phiền hà cho các doanh nghiệp. Công tác tạo sự liên kết, hợp tác trong phát triển du

lịch bền vững và xây dựng hệ thống đảm bảo thông tin du lịch chưa được các cấp

chính quyền quan tâm, đầu tư phát triển.

- Phạm vi thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch

chưa được xác định rõ ràng. Phương thức, trình tự thanh tra, kiểm tra bộc lộ nhiều

hạn chế, chưa tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý nhà nước

liên quan, gây ra sự chồng chéo và phiền hà cho các doanh nghiệp. Công tác kiểm

tra, phối kết hợp quản lý cho các cơ quan quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền

vững chưa toàn diện, chặt chẽ, chưa theo kịp với thực tế phát sinh.

73

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Chương 2 của Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà

nước về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 –

2020. Đây là giai đoạn ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch Hà Nội

nói riêng có bước phát triển mạnh mẽ. Chương 2 đã giải quyết những vấn đề cụ thể

sau đây:

- Tổng quan về phát triển du lịch thành phố Hà Nội.

- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại địa

bàn thành phố Hà Nội, trong đó tập trung các nội dung: xây dựng, tổ chức thực hiện

chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch bền vững; xây dựng và ban hành

các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách về phát triển du lịch bền vững; tổ

chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững; xây dựng và tổ chức

nguồn nhân lực tham gia du lịch của thành phố Hà Nội; đầu tư xây dựng kết cấu hạ

tầng du lịch và quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch; thanh tra, kiểm tra trong

quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững. Qua thực trạng quản lý nhà nước

về phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành phố Hà Nội, đưa ra những đánh giá,

nhận xét về thực trạng đó: nêu lên những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn

tại và nguyên nhân của những hạn chế đó.

74

CHƯƠNG 3:

CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển du lịch bền vững tại địa bàn thành

phố Hà Nội giai đoạn 2021 – 2025

Mục tiêu phát triển du lịch của Hà Nội tại Kế hoạch triển khai Quyết định số

147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến

lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030là: Tạo bước tăng trưởng phát triển

toàn diện du lịch Thủ đô Hà Nội cả về quy mô và chất lượng dịch vụ, số lượng và

chất lượng khách du lịch đảm bảo tính bền vững. Phát triển sản phẩm du lịch chất

lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh; mang đậm bản sắc văn hóa

dân tộc và thân thiện với môi trường. Phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao tính

liên kết, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Phát triển du lịch Hà Nội

thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng cao, có tính chuyên

nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; đẩy mạnh ứng dụng các

thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chú trọng phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao. Phát triển du lịch Hà Nội trên cơ sở bảo tồn và phát huy

các giá trị văn hóa, lịch sử của Thủ đô và dân tộc; bảo vệ thiên nhiên và môi trường;

đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội; xây dựng Hà Nội là điểm đến:

- Thực hiện đầu tư phát triển hạ tầng du lịch

“An toàn - Thân thiện - Chất lượng - Hấp dẫn”.

Từ năm 2015 đến nay nhà nước cân đối một nguồn vốn nhất định để hỗ trợ

cho các địa phương đầu tư hạ tầng du lịch, nguồn vốn này đã tạo điều kiện cho các

địa phương nói chung và TP Hà Nội nói riêng đầu tư xây dựng các tuyến giao thông

vào các khu, điểm du lịch để phát triển du lịch và là nguồn vốn mồi giúp cho các

thành phần kinh tế tham gia đầu tư các hạng mục, công trình kinh doanh du lịch.

Nhưng thực chất nguồn vốn trung ương cân đối là quá ít nhưng lại được phân bổ

quá dàn trải, đầu tư không theo trọng tâm, trọng điểm để phát triển du lịch. Như

75

năm 2015 Bộ TTVH&DL cân đối 150 tỷ VNĐ cho 64 tỉnh, thành phố, trong đó TP

Hà Nội đã được xác định là một trong những trung tâm du lịch của cả nước nhưng

cũng chỉ được hỗ trợ5 tỷ VNĐ. Vì vậy các địa phương không đủ điều kiện để đầu

tư dứt điểm từng công trình, mà công trình phải đầu tư kéo dài trong nhiều năm

không phát huy được hiệu quả vốn đầu tư của những năm đầu. Do đó, việc Nhà

nước tiếp tục cân đối hỗ trợ nguồn vốn đầu tư hạ tầng du lịch cho các địa phương là

rất cần thiết nhưng cần nghiên cứu việc bố trí vốn cho phù hợp với nhu cầu phát

triển du lịch của từng địa phương, tức là không nhất thiết phải cân đối cho tất cả

các tỉnh, thành phố mà nên đầu tư có trọng điểm. Về phía TP Hà Nội, hàng năm cần

cân đối một lượng vốn nhất định từ ngân sách tỉnh, nhiều hay ít phụ thuộc vào nhu

cầu đầu tư và khả năng của ngân sách, để cùng với nguồn vốn hỗ trợ của trung ương

bố trí cho các công trình hạ tầng du lịch. Nhưng về nguyên tắc phải bố trí vốn phù

hợp với từng hạng mục và thực hiện theo thứ tự ưu tiên, không đầu tư nhiều hạng

mục cùng một lúc nếu như khả năng nguồn vốn không đáp ứng được, để đầu tư dứt

điểm trong một thời gian ngắn nhằm phát huy ngay được hiệu quả đầu tư.

Đến năm 2025, Hà Nội phát triển du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi

nhọn của Thủ đô, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành và lĩnh vực khác;

là ngành dịch vụ hiện đại, chuyên nghiệp, có chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh

tranh cao; chủ động nắm bắt xu hướng phát triển và hội nhập quốc tế; áp dụng khoa

học, công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao làm

nhân tố đột phá để phát triển du lịch. Phấn đấu đến năm 2025, Thủ đô Hà Nội đón

và phục vụ từ 45 - 49 triệu lượt khách du lịch trong đó có từ 8 - 9 triệu lượt khách

du lịch quốc tế. Tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 151 nghìn tỷ đồng.

Đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của Thành phố Hà

Nội. Dự kiến năm 2030, Thủ đô Hà Nội đón và phục vụ 58 - 59 triệu lượt khách du

lịch trong đó có từ 13 - 14 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Tổng thu từ khách du

lịch đạt khoảng từ 270 - 300 nghìn tỷ đồng.

Để đạt các mục tiêu nói trên, các định hướng thực hiện Chiến lược phát triển

Du lịch Việt Nam đến năm 2030 tại Hà Nội như sau:

76

- Đối với tăng cường công tác xúc tiến và quảng bá du lịch

Trong hoạt động du lịch, công tác xúc tiến, quảng bá là chìa khóa thành

công, đặc biệt trong xu hướng hội nhập và phát triển công nghệ thông tin như hiện

nay. Thực tế là một nơi có cảnh sắc đẹp, văn hóa đa dạng đến bao nhiêu mà không

được nhiều du khách biết đến thì không thể phát triển mạnh được. Trong phạm vi

nghiên cứu của chuyên đề, cá nhân tôi xin đề xuất một số ý tưởng về định hướng

nhằm duy trì, nâng cao hơn nữa hình ảnh du lịch TP Hà Nội trong mắt bạn bè trên

cả nước và bạn bè quốc tế, thu hút nhiều du khách, các nhà đầu tư vào lĩnh vực du

lịch của tỉnh.

TP Hà Nội cần phải tổ chức các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch tại một

số địa phương trong nước và nước ngoài để quảng bá, xúc tiến trên các lĩnh vực tiêu

thụ sản phẩm có thế mạnh của tỉnh về du lịch và xúc tiến đầu tư vào các lĩnh vực

du lịch. Đối với các địa phương trong nước, nên mở thêm các văn phòng đại diện

Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch đối với phát triển

kinh tế - xã hội của Thủ đô. Kết hợp các biện pháp phục hồi du lịch với nhiệm vụ phòng,

chống dịch; xây dựng hình ảnh điểm đến Hà Nội.

tại thành phố Hà Nội.

Đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển du lịch theo quy luật kinh tế thị trường

và chủ động hội nhập quốc tế, bảo đảm nhất quán từ quan điểm, mục tiêu, chương

trình hành động và có thể chế, chính sách đột phá, đáp ứng yêu cầu phát triển của

du lịch với vai trò ngành kinh tế mũi nhọn.

Nâng cao nhận thức của ngành Du lịch về phát triển du lịch chuyên nghiệp

theo quy luật thị trường, coi trọng hàng đầu đến chất lượng, đảm bảo hiệu quả, khả

năng cạnh tranh cao và phát triển bền vững. Nâng cao nhận thức về phát triển sản

phẩm du lịch khác biệt, đa dạng trên cơ sở kết quả nghiên cứu thị trường, phù hợp

với nhu cầu và thị hiếu của từng đối tượng khách du lịch.

Nâng cao ý thức của người dân, doanh nghiệp và cộng đồng trong ứng xử văn

minh, thân thiện với khách du lịch, xây dựng, bảo vệ hình ảnh điểm đến, môi

77

trường, góp phần phát triển bền vững, không ngừng nâng cao uy tín, thương hiệu,

sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của du lịch Thủ đô.

Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động tạo nếp ứng xử văn minh du lịch trong cộng

đồng dân cư, nhất là các tổ chức và cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch; nâng cao ý

thức người dân trong giữ gìn vệ sinh môi trường sáng - xanh - sạch -đẹp; đào tạo,

bồi dưỡng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp tại các khu, điểm tham

quan du lịch trên địa bàn Thành phố.

Hà Nội cũng tập trung đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, thu hút mạnh

mẽ mọi nguồn lực cho phát triển du lịch. Phát triển sản phẩm du lịch chất lượng cao

trong các lĩnh vực lữ hành, vận chuyển, ẩm thực,... nâng cao chất lượng điểm đến

du lịch trên địa bàn thành phố. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá và hợp tác phát triển

du lịch. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực du lịch. Nâng cao năng lực và hiệu quả

quản lý nhà nước về du lịch...

Trong thời gian tới, Hà Nội sẽ tập trung xây dựng và triển khai một số nhiệm

vụ mang tính đột phá: Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát

triển du lịch trên địa bàn thành phố; trong đó chú trọng đưa vào hoạt động các dự án

đầu tư có quy mô lớn như: Công viên văn hóa, du lịch, vui chơi giải trí Kim Quy

(huyện Đông Anh); Tổ hợp vui chơi giải trí đa năng - trường đua ngựa (huyện Sóc

Sơn); Tổ hợp công viên vui chơi giải trí và phụ trợ (quận Tây Hồ)... Đẩy nhanh thủ

tục đầu tư dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa lịch sử khu di tích

Hoàng thành Thăng Long; dự án bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp

du lịch tại làng gốm sứ Bát Tràng và tại làng dệt lụa Vạn Phúc; dự án tổng thể bảo

tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích làng cổ ở Đường Lâm… Thu hút đầu tư dự án

theo mô hình khách sạn - trường học để tăng cường số lượng, chất lượng nguồn

nhân lực đáp ứng yêu cầu tăng trưởng lĩnh vực lưu trú du lịch trên địa bàn Thủ đô;

dự án Trung tâm mua sắm dành cho khách du lịch (Outlet); dự án điểm trung

chuyển khách phục vụ du lịch..., tổ chức triển khai hiệu quả các tuyến xe buýt kết

nối từ trung tâm Thành phố tới các khu, điểm du lịch trọng điểm trên địa bàn.

78

Xây dựng khu, điểm du lịch chất lượng cao để nhân rộng mô hình hoạt động.

Cụ thể gồm các điểm đến sản phẩm du lịch: khu vực trung tâm chính trị Ba Đình

(gồm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ

tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh, công viên Bách Thảo) gắn với khu di sản thế giới

Hoàng thành Thăng Long, di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám; khu vực phố cổ, phố

cũ, hồ Hoàn Kiếm; khu vực hồ Tây và phụ cận; khu di tích Cổ Loa, múa rối nước

Đào Thục; di tích đền Hai Bà Trưng; khu du lịch núi Sóc; chùa Hương, khu vực Ba

Vì, làng cổ ở Đường Lâm, chùa Thầy, chùa Tây Phương…; làng nghề gốm sứ Bát

Tràng, dệt lụa Vạn Phúc, sơn mài Hạ Thái, du lịch cộng đồng, du lịch kết nối giữa

phố nghề, làng nghề truyền thống với các điểm tham quan du lịch khác…

Phát triển, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mới như du lịch y tế chăm sóc

sức khỏe, du lịch nông nghiệp cộng đồng, du lịch giáo dục, trải nghiệm dành cho

học sinh. Tổ chức thí điểm phát triển kinh tế đêm trên địa bàn quận Hoàn Kiếm và

các khu vực có đủ điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng du lịch.

Triển khai dự án phát triển du lịch thông minh, phát triển hệ thống hạ tầng

viễn thông tại các điểm đến du lịch để thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin,

thương mại điện tử trong quảng bá, xúc tiến và kinh doanh du lịch.

Triển khai kịp thời, hiệu quả các chính sách liên quan trực tiếp đến phát triển

du lịch được các cơ quan có thẩm quyền của Trung ương ban hành như: các chính

sách ưu đãi hỗ trợ về thuế, giá đất trong lĩnh vực đầu tư du lịch; điều chỉnh giá điện

áp dụng cho các cơ sở lưu trú du lịch ngang bằng với giá điện sản xuất; tăng cường

công tác quản lý phí, lệ phí và giá dịch vụ.

3.2. Những dự báo về nhu cầu phát triển du lịch bền vững tại thành phố

Hà Nội

a) Tình hình thế giới

Tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, đặc biệt sau khi

xuất hiện biến thể mới đã làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế trên toàn thế

giới. Hiện nay đã có vắc xin và nhiều nước đã tiến hành tiêm chủng mở rộng đồng

thời áp dụng và triển khai mạnh mẽ chính sách “hộ chiếu vắc xin” để nhanh chóng

79

phục hồi các hoạt động du lịch và giao thương quốc tế. Tuy nhiên cho đến nay Tổ

chức Y tế Thế giới vẫn chưa ủng hộ ý tưởng cấp hộ chiếu vắc xin để thúc đẩy hoạt

động đi lại trong bối cảnh nguồn cung cấp vắc xin còn hạn chế và vẫn còn nhiều ẩn

số liên quan đến hiệu quả của tiêm chủng trong việc đáp ứng các biến thể mới của

vius covid-19. Theo đánh giá của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) về những tác

động của đại dịch Covid-19 đến ngành du lịch toàn cầu năm 2020, ước tính thế giới

giảm 1 tỷ khách, theo đó ước khoảng 1,1 nghìn tỷ doanh thu từ du lịch và 120 triệu

việc làm trực tiếp bị mất đi. Kịch bản giai đoạn 2021-2024 của UNWTO dự báo,

ngành du lịch có sự phục hồi vào nửa cuối năm 2021. Tuy nhiên, để có được lượng

khách quốc tế như năm 2019, UNWTO cho rằng cần mất khoảng từ 2,5-4 năm.

b) Tại Việt Nam

Từ cuối tháng 04/2021, dịch bệnh Covid-19 bất ngờ bùng phát lại tại một số

tỉnh, thành trên cả nước. Đợt dịch này diễn ra phức tạp hơn nhiều so với lần trước,

chu trình lây nhiễm và khởi phát bệnh diễn ra nhanh hơn so với trước đây. Trước

tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã phát động triển khai chiến dịch tiêm chủng

lớn nhất lịch sử với 150 triệu liều vắc xin trong 09 tháng nhằm tăng độ bao phủ vắc

xin với người dân để đạt miễn dịch cộng đồng. Trong bối cảnh dịch bệnh tại các thị

trường châu Âu, châu Mỹ và các nước trong khu vực còn diễn biến phức tạp, thị

trường nội địa có khả năng phục hồi nhanh hơn và sẽ tiếp tục là dòng khách chủ đạo

trong thời gian tới.

Ngành du lịch Việt Nam đã có các định hướng và giải pháp để thích ứng với

giai đoạn mới như tăng cường liên kết trong ngành để phát triển các sản phẩm du

lịch; tập trung triển khai hiệu quả chương trình kích cầu; nghiên cứu định vị lại thị

trường du lịch quốc tế, chuẩn bị cho việc mở cửa lại thị trường quốc tế khi Chính

phủ cho phép; tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển đổi số; phát triển đội ngũ nhân lực

chất lượng cao, nghiên cứu triển khai thí điểm hộ chiếu vắc xin… nhằm chuẩn bị tốt

cho quá trình phục hồi và phát triển trong thời gian tới.

c) Xu hướng du lịch bền vững

Hiện nay, trên thế giới và trong nước đang chứng kiến sự thay đổi to lớn,

nhanh chóng ở tất cả các khía cạnh của xã hội, cuộc sống. Sự xuất hiện của cuộc

80

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã dẫn đến sự thay đổi trong tư duy nhận thức

của xã hội, trong đó có du lịch. Hội nhập quốc tế diễn ra càng ngày càng sâu rộng,

nhiều hình thức du lịch mới như du lịch thông minh xuất hiện. Đồng thời, dưới tác

động của dịch Covid-19, xu hướng du lịch đã dần thay đổi: ưu tiên hàng đầu của du

khách là mức độ an toàn về y tế, đảm bảo sức khỏe, chú trọng hơn đến chất lượng

điểm đến, thay đổi từ chương trình du lịch trọn gói sang hình thức tự trải nhiệm với

các chuyến đi ngắn ngày và điểm đến gần. Du lịch chữa bệnh và chăm sóc sức

khỏe, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch thực tế ảo,… ngày càng phổ biến.

- Xu thế của nền kinh tế thế giới sẽ tiếp tục đà tăng trưởng ổn định, cùng với sự

phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu đã tạo ra cơ hội lớn cho Việt Nam trong việc

gia tăng lượng khách quốc tế đến. Đông Nam Á là khu vực có tốc độ tăng trưởng du

lịch cao, được coi là điểm đến hấp dẫn với du khách toàn cầu. Cộng đồng chung

ASEAN thúc đẩy hội nhập, tăng nhu cầu đi lại và tăng dòng khách quốc tế đến.

- Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những thành tựu công nghệ mới tạo

cơ hội để du lịch Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại. Quan hệ ngoại giao tích

cực, hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng là cơ hội để Hà Nội thu hút đầu tư

phát triển, học tập kinh nghiệm trong quản lý điểm đến và kinh doanh du lịch, đồng

thời đẩy mạnh xúc tiến quảng bá du lịch, mở rộng thị trường.

- Với sự xuất hiện của đại dịch Covid-19, ngành Du lịch mở ra những xu

hướng mới cần các doanh nghiệp chuyển động để thích ứng, an toàn; du lịch trở

thành mối quan tâm hàng đầu của du khách cùng với xu hướng lựa chọn các điểm

đến gần, du lịch ngắn ngày theo các nhóm nhỏ và du lịch cá nhân. Trong bối cảnh

dịch bệnh tại các quốc gia trên thế giới còn diễn biến phức tạp, tỷ lệ tiêm chủng vắc

xin Covid-19 còn khá thấp, thị trường du lịch nội địa được nhận định là có khả năng

phục hồi nhanh hơn.

- Thành phố đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ thúc đẩy thu hút đầu tư; cơ

sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đang từng bước toàn hiện

cùng với việc quan tâm đầu tư xây dựng sản phẩm du lịch mới chất lượng cao, tích

cực đổi mới công tác xúc tiến quảng bá du lịch đã tạo dựng nền tảng, cơ hội cho du

lịch phát triển ở mức độ cao hơn.

81

3.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước du lịch theo

hướng phát triển bền vững trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.3.1. Xây dựng quy hoạch, chương trình, đề án phát triển du lịch Hà Nội

gắn với các mục tiêu phát triển bền vững

Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới với vai trò là “Trung tâm Chính trị -

Hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao

dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả

nước”[1]; và tương lai sẽ trở thành “…một trung tâm du lịch và giao dịch quốc tế có

tầm cỡ trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương”. Do vậy, để đạt được mục tiêu

trên, việc xây dựng quy hoạch, chương trình, đề án phát triển du lịch gắn với các

mục tiêu phát triển bền vững có vai trò vô cùng quan trọng, là giải pháp cần thiết để

hoạt động du lịch Hà Nội phát triển đúng hướng, khai thác hiệu quả tiềm năng, gìn

giữ và nuôi dưỡng tài nguyên du lịch lâu dài, bền vững.

Kể từ sau sự kiện mở rộng địa giới hành chính thủ đô (01/8/2008), ngành Du

lịch Hà Nội không có Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch chung thống nhất cho

toàn thành phố mà vẫn song song thực hiện các đề án theo Quy hoạch đã được phê

duyệt trước đó của tỉnh Hà Tây và Hà Nội cũ. Cho đến tháng 7/2018, Quy hoạch

tổng thể phát triển du lịch của Thủ đô Hà Nội từ nay đến năm 2025 tầm nhìn đến

năm 2030 (sau khi mở rộng địa giới hành chính) mới được Hội đồng nhân dân

thành phố Hà Nội thông qua. Tuy vậy, để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững,

việc tổ chức thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội từ nay đến năm

2020 tầm nhìn đến năm 2030 trên thực tế cần sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Sở

Du lịch Hà Nội với các Sở, Ban, ngành có liên quan. Theo đó, cần nhanh chóng bắt

tay vào xây dựng quy hoạch, chương trình, đề án phát triển du lịch cho từng khu,

điểm, không gian phát triển du lịch riêng, làm cơ sở cho hoạt động du lịch phát triển

theo đúng định hướng, đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững.

Trong quá trình xây dựng quy hoạch, chương trình, đề án phát triển du lịch,

Hà Nội cần thực hiện một số biện pháp cơ bản sau đây:

Một là, xây dựng quy hoạch, chương trình, đề án phát triển du lịch phải dựa

trên các luận cứ, cơ sở khoa học.

82

Quá trình xây dựng quy hoạch tổng thể, chương trình, đề án phát triển du lịch

đối với từng khu, điểm du lịch, đối với Hà Nội phải căn cứ vào các cơ sở pháp lý,

định hướng chiến lược như: Nghị quyết số 11/NQ/TW ngày 6/1/2012 của Bộ Chính

trị về phương hướng nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020;

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XV nhiệm kỳ 2010 - 2015;

Luật Du lịch năm 2005; Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 22/02/2012 của Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội

đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 1081/QĐ-TTg ngày 6/7/2011

của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”; Quyết định số 1259/QĐ-TTg

ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch chung xây dựng

Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”; Quyết định số 2473/QĐ-

TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển

du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số

2412/2011/QĐ-TTg ngày 19/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy

hoạch tổng thể bố trí quốc phòng kết hợp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cả

nước giai đoạn 2011 - 2020”; “Quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội đến

năm 2020, định hướng đến 2030”; Căn cứ các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân

thành phố Hà Nội tại kỳ họp thứ 4 - khoá XIV (tháng 5/2012) và kỳ họp thứ 5 -

khoá XIV (tháng 7/2012) đã thông qua các quy hoạch ngành về phát triển công

nghiệp, thương mại, nông nghiệp, giao thông vận tải, văn hóa của thành phố Hà Nội

đến năm 2020, định hướng đến năm 2030…

Bên cạnh đó, việc đánh giá đúng lợi thế, tiềm năng du lịch, thực trạng phát

triển du lịch, bám sát các mục tiêu phát triển bền vững như tăng trưởng kinh tế, văn

hóa - xã hội, môi trường sinh thái, quốc phòng - an ninh… cũng là một cơ sở khoa

học quan trọng cho xây dựng quy hoạch, đề án phát triển du lịch ở thành phố Hà

Nội. Song song với quy hoạch ngành, cần tiến hành các định hướng bảo vệ môi

trường theo địa giới địa lý, phân bổ dân cư, trong đó xác định các khu vực cần bảo

vệ nghiêm ngặt, khu vực hạn chế các hoạt động du lịch... và các kế hoạch cụ thể về

83

bảo vệ tài nguyên và môi trường. Đối với các điểm du lịch phân tán và ở những

vùng điểm nhạy cảm như: đầu nguồn, dân cư tập trung... khi lập các quy hoạch, kế

hoạch cụ thể cần phải có các giải pháp đồng bộ như về kiến trúc, hạ tầng và báo cáo

đánh giá tác động môi trường.

Hai là, xác định rõ trách nhiệm giữa các Sở, Ban, ngành liên quan trong quy

hoạch, chương trình, đề án phát triển du lịch để đảm bảo gắn kết các mục tiêu phát

triển bền vững trong hoạt động du lịch.

Đối với Du lịch: Tham mưu, đề xuất cho Ủy ban nhân dân thành phố ban hành

các chủ trương, chương trình và kế hoạch phát triển du lịch. Chủ trì triển khai và tổ

chức kiểm tra việc thực hiện quy hoạch theo định hướng và các giai đoạn phân kỳ;

quản lý về mặt nghiệp vụ du lịch; quản lý hành chính trong phạm vi thẩm quyền đối

với các hoạt động kinh doanh du lịch. Cùng với các Sở, Ban, ngành thẩm định dự án

đầu tư du lịch, chỉ đồng ý cấp phép đầu tư với những dự án đảm bảo được các tiêu chí

của phát triển bền vững. Chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã

và các đơn vị doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội thực hiện tốt quy hoạch.

Các Sở, Ban, ngành liên quan: Là các cơ quan quản lý chuyên ngành đối với

các lĩnh vực khác có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành về du

lịch tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố các chương trình, kế hoạch phát

triển du lịch của thành phố. Trong đó:

Sở Kế hoạch và Đầu tư: Tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy

chứng nhận đầu tư các dự án phát triển du lịch theo hướng bền vững; xây dựng cơ

cấu vốn ưu tiên phát triển du lịch trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt; phối

hợp với Sở Du lịch đề xuất Ủy ban nhân dân Thành phố các chủ trương, chính sách

khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực du lịch và triển khai thực hiện các chương trình

kế hoạch phát triển du lịch của thành phố trong lĩnh vực liên quan.

Sở Giao thông Vận tải: Phối hợp cùng Sở Du lịch với Ủy ban nhân dân các

quận huyện, thị xã xây dựng danh mục các dự án giao thông ý nghĩa quan trọng đối

với hoạt động du lịch trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt và cấp vốn đầu tư.

84

Sở Công Thương: Phối hợp cùng Sở Du lịch xây dựng danh mục các dự án đầu

tư trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại liên quan đến hoạt động phát triển du lịch

trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt và hỗ trợ đầu tư; triển khai thực hiện các

chương trình kế hoạch phát triển du lịch của thành phố trong lĩnh vực liên quan.

Sở Quy hoạch - Kiến trúc: Tham mưu trong việc thẩm định phê duyệt các quy

hoạch, các dự án đầu tư phát triển du lịch… trên quan điểm phát triển bền vững, tạo

điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quy hoạch cũng như các dự án đầu tư phát

triển du lịch.

Sở Xây dựng: Phối hợp với Sở Du lịch trong các nội dung liên quan đến thiết

kế cơ sở, cấp phép xây dựng cũng như các nội dung liên quan đến vệ sinh môi

trường và hạ tầng kỹ thuật.

Sở Tài nguyên và Môi trường: Chủ trì phối hợp với Sở Du lịch, các Sở, ngành

có liên quan và Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị quy hoạch quỹ đất và có kế

hoạch sử dụng đất hàng năm, 5 năm, 10 năm nhằm đảm bảo tạo ra quỹ đất phục vụ

cho phát triển du lịch bền vững; đồng thời, xây dựng phương án bảo vệ môi trường,

giữ gìn tài nguyên du lịch trên địa bàn thành phố và tại các khu, điểm du lịch.

Sở Thông tin và Truyền thông: Phối hợp với Sở Du lịch trong việc triển khai

các hoạt động truyền thông quảng bá du lịch, các sự kiện văn hóa du lịch của

thành phố.

Sở Giáo dục và Đào tạo: Phối hợp với Sở Du lịch trong việc triển khai các

chương trình đào tạo bồi dưỡng và đàò tạo lại nguồn nhân lực du lịch, giáo dục

nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư và trong hệ thống giáo dục.

Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội và Công an Hà Nội: Tham mưu, đề xuất cho Sở

Du lịch trong việc kết hợp các hoạt động du lịch với vấn đề quốc phòng - an ninh

khi xây dựng quy hoạch, chương trình, đề án phát triển du lịch; xây dựng cơ chế,

chính sách tạo thuận lợi cho du khách về các thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú và

bảo đảm an toàn tuyệt đối cho du khách trên các tuyến, điểm du lịch.

Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện: Xây dựng và tổ chức thực hiện triển khai

quy hoạch, các chương trình, kế hoạch phát triển du lịch bền vững trên địa bàn phù

hợp với quy hoạch chung của thành phố.

85

3.3.2. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du

lịch gắn với mục tiêu phát triển bền vững

Trong những năm qua, công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất

phục vụ du lịch được thành phố chú trọng hơn, thu hút nhiều nguồn lực, nhiều thành

phần kinh tế tham gia. Hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch đang

dần được xây dựng đồng bộ, tạo cơ sở, nền tảng quan trọng thúc đẩy du lịch phát

triển. Tuy nhiên, thực tế chỉ ra cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch của Hà

Nội vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu cả với hiện tại cũng như lâu dài. Thời gian

trước mắt, Hà Nội cần huy động một lượng vốn đầu tư lớn nhằm không ngừng tăng

nhanh cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động du lịch theo hướng đồng bộ, hiện đại,

chất lượng cao, mang đậm bản sắc dân tộc và thân thiện với môi trường, đưa Hà

Nội trở thành điểm đến hấp dẫn, có đẳng cấp trong khu vực. Theo dự toán của Sở

Du lịch Hà Nội từ nay đến năm 2025 thành phố cần gần 2,5 tỷ USD cho xây dựng

cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch; từ 2025 - 2030 cần khoảng 3,75 tỷ

USD; giai đoạn 2030 - 2035 cần khoảng 11,43 tỷ USD. Tính cả giai đoạn đến 2035,

tổng vốn đầu tư phát triển du lịch cần xấp xỉ 18 tỷ USD. Đây là nguồn vốn không

nhỏ, khoảng thời gian tương đối dài; vì vậy, ngành Du lịch Hà Nội cần tích cực

triển khai đồng bộ các biện pháp huy động vốn, trong đó cần thực hiện một số biện

pháp sau đây:

Một là, xây dựng cơ chế đầu tư phát triển du lịch bền vững.

Nguồn vốn đầu tư là rất quan trọng để du lịch Hà Nội phát triển, song không

vì thế mà thu hút đầu tư bằng mọi giá. Thành phố cần tạo bước chuyển biến tích cực

theo phương châm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, tập trung đầu tư

khai thác hệ thống di tích lịch sử - văn hóa đặc biệt gắn liền với Thủ đô nghìn năm

văn hiến, lấy du lịch văn hóa làm chủ đạo để góp phần phát huy các tinh hoa văn

hóa Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung và làm nền tảng cho việc phát triển

các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí...; chuyển đổi cơ cấu đầu

tư theo hướng chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu vào các khu, điểm du lịch

mang tính chất trọng điểm, các khu vui chơi giải trí tầm cỡ để tăng cường thu hút

86

khách, lưu giữ khách lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn; đầu tư vào những dự án đảm

bảo cho các mục tiêu phát triển bền vững, khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch

và các yếu tố nguồn lực khác. Xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư đối với các khu du

lịch mới, địa bàn nông thôn còn nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng nhưng có tiềm

năng to lớn để phát triển du lịch hoặc được xác định là khu du lịch quốc gia, trong

đó ưu tiên đầu tư khai thác văn hóa bản địa phát triển du lịch cộng đồng, đầu tư bảo

vệ, tôn tạo tài nguyên, môi trường tại các khu du lịch…

Hai là, đa dạng hóa các nguồn vốn trong đầu tư phát triển du lịch.

Để có vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch, Hà

Nội cần huy động tối đa từ mọi thành phần kinh tế. Trong đó, cần chú trọng huy

động vốn từ ngân sách nhà nước và nguồn lực tài chính trong nhân dân, của các tổ

chức trong và ngoài nước.

Để huy động vốn từ ngân sách nhà nước, Hà Nội cần thực hiện:

Thực thi hiệu quả các cơ chế, chính sách tài chính và các chính sách liên quan

để tranh thủ sự hỗ trợ từ Trung ương dành cho các khu, điểm du lịch quốc gia đã

được định hướng trong Chiến lược và Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam đến

năm 2025, tầm nhìn 2030.

Lồng ghép các chương trình, dự án, mục tiêu quốc gia của các ngành liên quan

trên địa bàn Hà Nội như bảo tồn tôn tạo di tích, khôi phục và phát triển làng nghề

thủ công truyền thống, trồng rừng, nông thôn mới… với phát triển du lịch để giảm

bớt những khó khăn về vốn của địa phương.

Với các nguồn lực tài chính trong nhân dân, của các tổ chức trong và ngoài

nước, Hà Nội cần có biện pháp huy động một cách tối đa:

Đẩy mạnh xúc tiến, tạo cơ chế thuận lợi, áp dụng chính sách ưu đãi thông

thoáng, đa dạng hóa các loại hình đầu tư để thu hút tối đa đầu tư trực tiếp nước

ngoài (FDI) vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

cho các khu du lịch quốc gia. Thu hút vốn đầu tư từ cộng đồng người Việt ở nước

ngoài. Coi đây không chỉ là kênh huy động nguồn vốn đầu tư mà còn là kênh tiếp

thu chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiên tiến và thị trường gửi khách du lịch.

87

Phát huy vai trò năng động của thị trường tài chính trong nhân dân; tạo cơ chế

để các thành phần kinh tế, kể cả kinh tế hộ gia đình, cá nhân có thể tham gia vào

đầu tư du lịch. Kênh đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán sẽ thu hút

luồng vốn đầu tư lớn vào ngành Du lịch. Tăng cường thực hiện xã hội hóa đầu tư,

bảo vệ, tôn tạo di tích, thắng cảnh; bảo tồn và phục dựng các lễ hội, hoạt động văn

hóa dân gian, các làng nghề phục vụ phát triển du lịch.

* Các hạng mục cần quan tâm đầu tư về kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch

Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch nằm trong tổng thể hệ thống

hạ tầng kỹ thuật của thành phố Hà Nội được định hướng theo Quy hoạch chung.

Trong đó, Hà Nội cần quan tâm đến những hạng mục sau:

Cải tạo, mở rộng hệ thống các tuyến quốc lộ và cao tốc hướng tâm chính; xây

dựng, phát triển hệ thống các tuyến giao thông vành đai kết nối các quốc lộ hướng

tâm, liên kết các đô thị trong vùng Hà Nội. Ưu tiên xây dựng các tuyến đường có

vai trò lớn trong phát triển du lịch như: Tuyến trục Ba Vì - Hồ Tây; trục Hồ Tây -

Cổ Loa; trục cao tốc Láng - Hòa Lạc - cầu Trung Hà; trục Mỹ Đình - Bái Đính kết

nối Chùa Hương đi Tam Cúc - Ba Sao - Bái Đính…

Tại các không gian ưu tiên phát triển du lịch, tập trung phát triển các tuyến

đường nội khu vực có vai trò quan trọng như: Tuyến đường ĐT 413: kết nối đô thị

Sơn Tây - hồ Suối Hai - Đá Chông; tuyến đường ĐT 415 (sườn Tây núi Ba Vì): nối

khu vực Đá Chông với Lương Sơn, Kỳ Sơn của Hòa Bình; tuyến đường ĐT 419:

kết nối hồ Quan Sơn với khu danh thắng chùa Hương; tuyến đường nối sườn Đông

với sườn Tây núi Ba Vì; tuyến đường vào hồ Suối Hai và các tuyến đường vào các

khu, điểm du lịch trên địa bàn Thủ đô.

Từng bước nâng cấp, cải tạo các tuyến đường sắt nối với các địa phương và

kết nối với tuyến đường sắt liên vận quốc tế. Xây dựng mới tuyến đường sắt nhẹ kết

nối trung tâm Hà Nội với các vùng đô thị nghỉ dưỡng, du lịch, vui chơi giải trí lớn

như tuyến Hà Nội - Hòa Lạc - Ba Vì - Hòa Bình; Hà Nội - Hưng Yên; Hà Nội - hồ

Quan Sơn - chùa Hương. Các tuyến giao thông này có thể được khai thác phục vụ

du lịch để hình thành các tour nội thị (city tour) đặc thù.

88

Phát triển cảng hàng không Nội Bài tiếp tục đóng vai trò là đầu mối giao thông

hàng không phía Bắc kết nối Hà Nội với các đô thị lớn trong cả nước và thế giới.

Phấn đấu thực hiện mục tiêu thành phố đã xác định, đến năm 2025 cảng phục vụ

15,2 triệu lượt khách và 260.000 tấn hàng hóa/năm; đến năm 2030 phục vụ 25 triệu

lượt khách và 500.000 tấn hàng hóa/năm.

Thực hiện khai thác, phát triển tuyến giao thông du lịch sông nước trên hệ

thống sông nội đô như sông Đáy, sông Tích, sông Hồng... Đầu tư nâng cấp, xây

dựng hệ thống các bến, cảng du lịch phục vụ du lịch đường thủy như: cảng Đá

Chông, Chương Dương, Bát Tràng, Ninh Sở…

Phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng tạo điều kiện thuận lợi cho

dân cư cũng như khách du lịch đến Hà Nội. Nâng cao số, chất lượng mạng lưới xe

bus nội thị nối với các khu, điểm du lịch, bảo đảm mạng lưới xe buýt > 2km/km2

đối với khu vực ngoại ô và 2-4,5 km/km2 đối với khu vực trung tâm.

Nâng cấp hệ thống cấp điện, cấp nước bảo đảm yêu cầu phát triển du lịch.

Phấn đấu toàn bộ các khu điểm du lịch của Hà Nội đến 2025 được cấp điện lưới

quốc gia 24/24, nước máy hợp vệ sinh (đạt tiêu chuẩn bình quân 200 lít/người/ngày

đêm) đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh du lịch. Ngoài ra, ngành Du lịch cần quy định

cụ thể đối với các khu, điểm du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch về việc xây dựng

hệ thống thoát nước thải, xử lý chất thải rắn phù hợp, đảm bảo các tiêu chuẩn về

môi trường theo quy định.

* Các hạng mục đầu tư về hệ thống cơ sở vật chất phục vụ du lịch

Hệ thống cơ sở lưu trú: Theo dự kiến của Sở Du lịch Hà Nội, từ nay đến năm

2025 Hà Nội cần khoảng 49.100 buồng lưu trú (gấp gần 2 lần hiện tại) và đến năm

2030 tương ứng là 64.800 buồng (gấp 2,5 lần). Để đạt được mục tiêu trên, đòi hỏi

Hà Nội cần xác định hướng đầu tư đa dạng, gắn kết chặt chẽ với các sản phẩm du

lịch mới. Tại các khu, điểm, không gian ưu tiên phát triển du lịch cần tập trung theo

hướng: Đầu tư nâng cấp chất lượng hệ thống cơ sở lưu trú hiện có. Đa dạng hóa hệ

thống cơ sở lưu trú (từ các khu resort đến khách sạn, nhà nghỉ...) với các khu, điểm

du lịch mới theo định hướng thị trường và nhu cầu của du khách. Chú trọng phát

triển các khu resort cao cấp tại khu vực Sơn Tây, Ba Vì. Như thế, hệ thống cơ sở

89

lưu trú cần được “giãn” từ khu vực trung tâm ra khu vực ngoại thành, để có được

không gian và quỹ đất cần thiết phát triển các cơ sở lưu trú quy mô lớn. Cụ thể:

Đối với hệ thống cơ sở lưu trú trong vùng lõi - Trung tâm Hà Nội: hạn chế

phát triển khách sạn mới hay mở rộng quy mô khách sạn hiện có, tập trung vào việc

nâng cao chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu khai thác hệ thống nhà cổ, khôi phục lại

các kiến trúc nhà ở cũ của Pháp, hình thành loại hình lưu trú kết hợp nhà dân cư để

khai thác các công trình phố cổ và công trình kiến trúc Pháp.

Ở các khu vực vành đai: nên chú trọng phát triển hệ thống cơ sở lưu trú gắn

với du lịch sinh thái và các làng quê dọc theo các vành đai xanh như: vành đai xanh

2 bờ sông Hồng; vành đai xanh phía Tây Nam Hà Nội dọc theo sông Nhuệ từ Tây

Tựu - Hà Đông - Thanh Trì; vành đai xanh 2 bờ sông Đáy từ Phúc Thọ - Quốc Oai -

Chúc Sơn - Vân Đình.

Tập trung phát triển cơ sở lưu trú, khách sạn cao cấp, quy mô lớn tại các khu

vực định hướng phát triển công trình hỗn hợp thương mại, dịch vụ, văn phòng, nhà

ở... theo các trục phát triển và các đô thị vệ tinh như: trục Hồ Tây - Ba Vì, trục Hồ

Tây - Cổ Loa, trục quốc lộ 32, trục đại lộ Thăng Long…

Phát triển hệ thống lưu trú đặc thù theo hình thức homestay, du khảo làng

nghề, du khảo sắc tộc, du khảo đồng quê, du khảo đô thị cổ ở các khu vực có những

đặc điểm độc đáo về dân cư, văn hóa, xã hội và tự nhiên tại: các làng nghề truyền

thống; các khu vực có người dân tộc thiểu số sinh sống ở Ba Vì, Thạch Thất, Quốc

Oai; các làng việt cổ Đường Lâm, Cự Đà; khu phố cổ ở nội đô…

Xây dựng các cơ sở dịch vụ thể thao gắn liền với du lịch, tập trung vào các

loại hình chính: sân golf cao cấp và câu lạc bộ thể thao. Khai thác những sân golf

cao cấp đã đi vào hoạt động: sân golf Đảo Vua - King Island (Sơn Tây); sân golf hồ

Văn Sơn - Sky Lake Resort and golf Club (Chương Mỹ); sân golf Vân Trì - Vân Trì

Golf Club (Đông Anh); sân golf Minh Trí - Hanoi Golf Club (Sóc Sơn). Tiếp tục

triển khai các dự án theo quy hoạch đã được phê duyệt: sân golf Sóc Sơn; sân golf

Hòa Lạc (Thạch Thất); sân golf hồ Suối Hai (Ba Vì); sân golf hồ Quan Sơn (Mỹ

Đức); sân golf Long Biên.

90

Tập trung xây dựng, khai thác các câu lạc bộ thể thao đáp ứng nhu cầu luyện

tập, giải trí của khách du lịch và dân cư ở: Trung tâm thể thao dưới nước Hồ Tây;

Trung tâm huấn luyện thể thao 1 - Nhổn; Trung tâm thể thao quốc gia Mỹ Đình;

Trung tâm thể thao cảm giác mạnh (Thanh Trì); Trung tâm thể thao địa hình Viên

Nam (Thạch Thất); Trung tâm thể thao các khu vực Sơn Tây, Đông Anh, Phú

Xuyên… Ngoài ra, các khách sạn, khu resort, các khu du lịch cần đầu tư xây dựng

các công trình thể thao như sân tennis, bể bơi, câu lạc bộ sức khỏe... để phục vụ tối

đa nhu cầu của khách du lịch khi nghỉ dưởng tại đây.

Hệ thống cơ sở văn hóa và vui chơi giải trí: Khu vực trung tâm Hà Nội cần

phát triển theo hướng nâng cấp, cải tạo hệ thống công viên, các khu vui chơi giải trí

hiện tại là: Công viên nước hồ Tây; các công viên cây xanh: Bách Thảo, Thống

Nhất, Hòa Bình, Thủ Lệ - Vườn thú Hà Nội…

Trục Hà Nội - Cổ Loa: tập trung xây dựng Khu văn hóa di tích lịch sử Cổ Loa;

Trung tâm giao lưu triển lãm quốc tế; Bảo tàng hoa; Trung tâm nghiên cứu sinh

học; Công viên nước đầm Vân Trì.

Khu vực Sóc Sơn: cần quan tâm đầu tư Khu di tích lịch sử - văn hóa đền Sóc;

Trung tâm văn hóa Sóc Sơn; Trường đua ngựa; Công viên hồ Lai Cách.

Trục văn hóa Hồ Tây - Ba Vì: triển khai xây dựng, khai thác không gian xung

quanh Trung tâm Hội nghị quốc gia; Bảo tàng Hà Nội; Cung triển lãm quốc gia;

Cung Quy hoạch quốc gia; Cung biểu diễn nghệ thuật; Cung múa rối nước; Cung

hòa nhạc quốc gia; Tượng đài độc lập; Bảo tàng nghệ thuật phương Đông; Trung

tâm đào tạo chuyên ngành nghệ thuật; Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam;

Công viên chuyên đề Thiên Đường Bảo Sơn.

Khu vực Hòa Lạc: Đầu tư xây dựng Trung tâm văn hóa Hòa Lạc; Bảo tàng

văn học Việt Nam; Bảo tàng giáo dục Việt Nam; Nhà hát trung tâm Hòa Lạc; Thư

viện Hòa Lạc; Cung Thiếu nhi; Công viên Văn hóa. Các khu vực khác như Xuân

Mai, Phú Xuyên: xúc tiến đầu tư Trung tâm văn hóa; Cung Thanh niên; Nhà hát

trung tâm... theo định hướng quy hoạch chung của Thủ đô.

Vành đai xanh cảnh quan sinh thái (dọc theo sông Nhuệ từ Tây Tựu - Hà

Đông - Thanh Trì) và khu vực 2 bờ sông Hồng: tập trung xây dựng Công viên văn

91

hóa làng nghề; các bảo tàng làng nghề truyền thống (Bảo tàng gốm sứ Bát Tràng,

Bảo tàng dệt truyền thống...); Công viên văn hóa vui chơi giải trí.

Chú trọng xây dựng một vài trung tâm vui chơi giải trí hỗn hợp theo xu hướng

hiện đại, quy mô lớn như: mô hình công viên chuyên đề (Theme park) ở khu vực

Sơn Tây - Ba Vì, Đồng Quan, núi Sóc, Hà Đông; mô hình trung tâm vui chơi giải trí

về đêm (show, game, cinema, shopping...), tạo động lực thu hút du khách trong và

ngoài nước.

Hệ thống cơ sở dịch vụ, cần được nâng cấp chất lượng, đa dạng hóa loại hình.

Chú trọng xây dựng sản phẩm du lịch ở các làng nghề, đưa các làng nghề thành các

trung tâm bán hàng lưu niệm thủ công truyền thống đặc trưng hấp dẫn khách du lịch

(khách du lịch không chỉ mua sản phẩm lưu niệm theo ý nghĩa thương mại mà còn

là quá trình trải nghiệm thực tế thông qua việc tham gia các hoạt động sản xuất trực

tiếp). Dịch vụ ẩm thực tập trung các loại hình mang tính chất độc đáo như các phố ẩm

thực đêm, các làng nghề ẩm thực... Ngoài ra, cần phát triển đa dạng các dịch vụ bán

hàng lưu niệm, mua sắm cao cấp ở các siêu thị, trung tâm thương mại hiện đại, dịch

vụ tài chính, bưu chính, viễn thông... tại các khu, điểm du lịch và khu vực nội đô.

3.3.3. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và giáo dục cộng đồng

cho phát triển du lịch bền vững

Để nâng cao chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực du lịch đóng vai trò then

chốt. Theo chỉ tiêu của ngành Du lịch Hà Nội từ nay đến năm 2025 tạo việc làm cho

gần 349.800 lao động, trong đó 116.600 lao động trực tiếp với gần 6% lao động có

trình độ trên đại học. Vì vậy, từ nay đến năm 2025 Hà Nội cần xem đây là một

trong những hướng quan trọng để ưu tiên đầu tư. Bên cạnh đó, giáo dục cộng đồng

là một trong những vấn đề rất quan trọng đối với quá trình phát triển du lịch, cần

được chú trọng trong quá trình phát triển để xây dựng văn hóa, môi trường du lịch

bền vững. Do vậy, ngành Du lịch Hà Nội cần tập trung vào các biện pháp sau đây:

Một là, xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch.

Chương trình phát triển nguồn nhân lực là định hướng chiến lược, căn cứ pháp

lý để các cấp, các ngành, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, các cơ sở đào tạo

thực hiện, đáp ứng đúng, đủ nhu cầu mà ngành Du lịch cần.

92

Đối với Hà Nội hiện nay, chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch cần

xác định rõ cơ cấu đào tạo lao động hợp lý, đảm bảo nâng cao chất lượng dịch vụ

trong ngành đồng thời đảm bảo tiết kiệm lao động. Đề xuất các chính sách thu hút

nhân lực chất lượng cao làm việc trong bộ máy quản lý du lịch của Hà Nội. Xây

dựng cơ chế hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, chú ý việc đào tạo mới và

đào tạo lại lực lượng lao động hiện có phù hợp với bước phát triển của ngành. Xây

dựng tiêu chuẩn và thực hiện chuẩn hóa một bước nhân lực ngành Du lịch Thủ đô,

phù hợp với các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế tạo để điều kiện cho hội nhập quốc tế

về lao động trong du lịch...

Hai là, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Du lịch.

Nguồn nhân lực du lịch Hà Nội đang trong tình trạng thừa mà thiếu, việc ưu

tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là điểm mấu chốt để giải bài

toán thiếu lao động của các doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu “nóng” của các doanh

nghiệp cả trước mắt cũng như lâu dài. Trong thời gian tới, Hà Nội cần tập trung

thực hiện:

Có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để thu hút nguồn nhân lực du lịch có trình độ cao

(đặc biệt là nguồn nhân lực trẻ) về công tác tại các khu du lịch; gửi cán bộ, nhân

viên ngành Du lịch đi đào tạo tại các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong

nước; tổ chức tham quan học tập mô hình, kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát

triển du lịch bền vững. Lựa chọn các cán bộ trẻ, có năng lực để đào tạo tại nước

ngoài để tạo cán bộ nguồn cho bộ máy quản lý du lịch. Kết hợp với các cơ sở đào

tạo trong nước mở các lớp đào tạo theo những hình thức phù hợp để bồi dưỡng,

nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động

trong các doanh nghiệp du lịch.

Thực hiện việc tự đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực du lịch trong các cơ

quan quản lý Nhà nước về du lịch và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Thực

hiện xã hội hóa công tác dạy nghề, đa dạng hoá các loại hình trường, lớp, trung tâm

và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng du lịch. Khuyến khích mở các cơ sở đào tạo nguồn

nhân lực du lịch ở các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội… Ngành Du lịch

kết hợp với các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp mở những lớp tập huấn nghiệp vụ,

93

bồi dưỡng ngắn ngày, ngoài giờ ngay tại cơ sở du lịch để nâng cao tay nghề cho

người lao động mà không làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thu hút các nhà quản lý, các nhà khoa học có trình độ, các doanh nhân, nghệ nhân,

chuyên gia, công nhân kỹ thuật tay nghề bậc cao tham gia đào tạo nguồn nhân lực.

Ba là, quan tâm thường xuyên công tác giáo dục cộng đồng trong phát triển

du lịch bền vững.

Đây là một yêu cầu cần được thực hiện trong toàn bộ quá trình phát triển du

lịch bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, cần chú ý:

Quán triệt tới các cấp, các ngành, các đơn vị, các tầng lớp nhân dân về vai trò,

nhiệm vụ phát triển du lịch ở Hà Nội, tác động, đóng góp tích cực của ngành Du

lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cả nước nói chung, vùng kinh tế trọng

điểm trọng Bắc Bộ và Hà Nội nói riêng.

Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư thực hiện

cuộc vận động “Người Hà Nội thanh lịch - văn minh”; giáo dục bồi dưỡng những

kiến thức về văn minh thương mại, văn minh du lịch, xây dựng văn hóa giao tiếp,

thái độ ân cần, niềm nở để cộng đồng có những hành vi ứng xử phù hợp với các

hoạt động du lịch, tạo ấn tượng tốt đẹp đối với du khách; ra sức khắc phục những

mặt yếu kém trong giao tiếp với khách du lịch, gìn giữ môi trường văn hóa du lịch,

giáo dục cho cộng đồng về lịch sử truyền thống của Thủ đô ngàn năm văn hiến, Thủ

đô Anh hùng, thành phố vì hòa bình, để Hà Nội thực sự là điểm đến an toàn, hấp

dẫn khách du lịch.

Chú trọng công tác đào tạo nghề cho cư dân địa phương liên quan đến hoạt

động du lịch; triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển cộng đồng như cấp

nước sạch, giáo dục, y tế… để nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo điều kiện để

cộng đồng cư dân tham gia tích cực hơn vào quá trình phát triển du lịch. Ưu tiên

phát triển tại chỗ, sử dụng nhân lực, lao động giản đơn là đồng bào dân tộc thiểu số

ở các khu vực có cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống như vùng núi Ba Vì, huyện

Thạch Thất, Quốc Oai… tiến tới xã hội hóa công tác phát triển nguồn nhân lực tại

các khu, điểm du lịch. Sở Du lịch cần đóng vai trò là cơ quan đầu mối thực hiện các

94

chương trình giáo dục cộng đồng; các doanh nghiệp du lịch là những chủ thể tham

gia trực tiếp vào việc triển khai các dự án hỗ trợ cộng đồng.

3.3.4. Xây dựng các sản phẩm du lịch bền vững đặc thù và nâng cao tính

hiệu quả công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch

Trong những năm qua, Hà Nội luôn quan tâm đầu tư phát triển các loại hình

và sản phẩm du lịch theo hướng đa dạng hóa, từng bước nâng cao chất lượng sản

phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách. Công tác tuyên truyền,

quảng bá có vai trò tích cực đối với quá trình xây dựng hình ảnh, thương hiệu và mở

rộng thị trường du lịch Hà Nội. Thời gian trước mắt, mục tiêu của ngành Du lịch Hà

Nội hướng tới là thu hút được 2,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế, hơn 14,2 triệu

lượt khách nội địa vào năm 2025; 3 triệu lượt khách quốc tế, hơn 18 triệu lượt

khách nội địa (năm 2030). Đây là những chỉ tiêu không dễ dàng đạt được. Để hiện

thực hóa mục tiêu trên, ngành Du lịch Hà Nội cần tập trung đột phá vào xây dựng

các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc thù theo hướng bền vững và nâng cao tính hiệu

quả công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, đưa hình ảnh Hà Nội ngày càng quen

thuộc, thân thiện với bè bạn quốc tế. Do vậy, Hà Nội cần quan tâm thực hiện một số

vấn đề sau:

Một là, xây dựng các nhóm sản phẩm du lịch mũi nhọn, có nhiều tiềm năng

thế mạnh và mang tính đột phá.

Hà Nội cần tập trung vào một số nhóm chủ yếu như:

Du lịch văn hóa: Đây là thế mạnh lớn nhất của Hà Nội và là sản phẩm du lịch

đặc trưng của thành phố. Hà Nội nên tập trung vào các loại hình: tham quan di tích

lịch sử văn hóa; tham quan làng nghề; tham quan phố cổ; du lịch lễ hội; du lịch

cộng đồng. Trong đó, chú ý khai thác, phát triển một số sản phẩm quan trọng như:

tham quan Di sản văn hóa thế giới Hoàng Thành Thăng Long, phố cổ và những công

trình kiến trúc Pháp điển hình, khu thắng cảnh văn hóa - tâm linh Hương Sơn, di tích

Cổ Loa và trải nghiệm Lễ hội Gióng (trở thành một phần của tour du lịch Kinh thành

Việt nối Hoa Lư và Thăng Long); Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam; Làng

cổ Đường Lâm; Làng khoa bảng Đông Ngạc và một số làng nghề nổi tiếng…

95

Du lịch sinh thái: Sau khi mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội có những lợi

thế lớn để phát triển du lịch sinh thái. Trong thời gian tới, du lịch sinh thái cần tập

trung vào các sản phẩm: tham quan, nghiên cứu tìm hiểu các giá trị cảnh quan, sinh

thái Vường Quốc gia Ba Vì, khu danh thắng Hương Sơn, khu vực Sóc Sơn. Ngoài

ra nghiên cứu kết hợp phát triển du lịch nông nghiệp với du lịch sinh thái tại Ba Vì,

Đông Anh.

Du lịch vui chơi giải trí: Là trung tâm du lịch quốc gia và khu vực, các khu vui

chơi giải trí của Hà Nội cần được đầu tư phát triển ở quy mô lớn cấp vùng với

những trò chơi hiện đại lồng ghép với những trò chơi dân gian cho mọi đối tượng

lứa tuổi khác nhau. Trong đó, cần tiếp tục dự án xây dựng khu vui chơi giải trí tổng

hợp (Disneyland) ở Sóc Sơn; khu vui chơi giải trí thể thao gắn với cá cược: trường

đua ngựa và đua mô tô, ô tô tại Sóc Sơn, Ba Vì; mở rộng, nâng cấp khu vui chơi

giải trí Thế giới nước hồ Tây; khu vui chơi giải trí Thiên đường Bảo Sơn; khu vui

chơi giải trí mang tính khám phá thiên nhiên tại Ba Vì.

Du lịch MICE: là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của cả nước,

Hà Nội có những tiền đề quan trọng, điều kiện thuận lợi để du lịch MICE phát triển

mạnh bởi: Các sự kiện chính trị, văn hóa thể thao, hội nghị, hội thảo quốc tế lớn…

được tổ chức ngày càng tăng cùng vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc

tế; hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của Hà Nội đáp ứng được các yêu cầu

để phát triển du lịch MICE; Hà Nội là trung tâm động lực vùng do đó thu hút một

lượng lớn khách hàng tiềm năng của du lịch MICE…

Du lịch nghỉ dưỡng: Du lịch nghỉ dưỡng tập trung phát triển theo mô hình các

resort với quy mô vừa và nhỏ ở ven các hồ ở các khu vực Ba Vì, Hương Sơn, Quan

Sơn, Suối Hai có kiến trúc bản địa hài hòa với cảnh quan thiên nhiên sẽ là sản phẩm

hấp dẫn khách du lịch. Có thể xây dựng sản phẩm đặc thù là các khu resort mang đậm

phong cách làng quê Việt với kiến trúc tái hiện làng quê cổ thuần Việt vùng đồng

bằng sông Hồng ở những khu vực có cảnh quan đẹp ven các sông Hồng, sông Đáy…

Du lịch mua sắm: Các trung tâm mua sắm cần được xây dựng đa dạng, có

những trung tâm mua sắm hiện đại dành riêng cho khách du lịch quốc tế bên cạnh

96

hệ thống siêu thị thương mại ở khu vực trung tâm thành phố và ở những đô thị vệ

tinh chính của Hà Nội. Bên cạnh đó cũng cần phát triển những trung tâm mua sắm

gắn với hệ thống các làng nghề mà ở đó chất lượng sản phẩm, giá cả sẽ được quản

lý chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lợi cho du khách.

Hai là, xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, mang tính độc đáo, gắn với các

không gian, khu vực lãnh thổ riêng.

Đây chính là cơ sở để có thể khai thác tối đa mọi tiềm năng của các địa

phương và tránh hiện tượng gây lãng phí nguồn lực, đồng thời tránh được việc đầu

tư dàn trải, đầu tư không hiệu quả, không gắn với tiềm năng thế mạnh của các địa

phương. Các không gian cần ưu tiên xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù đó là:

Khu vực trung tâm Hà Nội: Đây là khu vực hội tụ hầu hết các tiềm năng du

lịch gắn với quá trình hình thành, phát triển của Hà Nội và cũng là sự cô đọng nhất

về văn hóa Hà Nội với hệ thống các di tích lịch sử cách mạng, di tích lịch sử văn

hóa, tôn giáo như: khu phố cổ, đền Ngọc Sơn, đền Quán Thánh, chùa Một Cột, chùa

Trấn Quốc, phủ Tây Hồ, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, khu di tích Chủ tịch Hồ Chí

Minh, hồ Tây, hồ Gươm, làng hoa Nhật Tân...

Phát triển sản phẩm du lịch chủ yếu trong khu vực Trung tâm nên tập trung

vào: du lịch văn hóa với các loại hình du lịch tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử

(đặc trưng là: tour du lịch phố cổ bằng xích lô, xe điện, xe đạp, các tour đi bộ…;

tour du lịch di sản văn hóa tham quan tham quan Hoàng thành Thăng Long, di sản

bia Tiến sỹ…; các tour du lịch chuyên đề nghiên cứu văn hóa Hà Nội hoặc gắn với

nghệ thuật truyền thống: hát xẩm, múa rối nước, ca trù…); du lịch ẩm thực (tập

trung phát triển theo hướng hình thành các phố ẩm thực truyền thống trong đó lấy

phố Tống Duy Tân làm mô hình trung tâm để nhân rộng phát triển). Ngoài ra, khu

vực Trung tâm có thể đẩy mạnh phát triển các loại hình du lịch MICE, du lịch mua

sắm (xây dựng hệ thống các trung tâm thương mại, siêu thị lớn song song với hệ

thống các phố cổ truyền để giới thiệu kinh doanh các sản phẩm làng nghề truyền

thống và các sản phẩm made in Việt Nam); dịch vụ vui chơi giải trí (nên quy hoạch

theo dạng chuyên đề như: các khu vui chơi giải trí về đêm tập trung lượng lớn

khách du lịch nước ngoài ở các phố cổ như: Hàng Bạc, Hàng Bè, Mã Mây, xung

97

quanh hồ Hoàn Kiếm…; khu vui chơi giải trí công viên chuyên đề theo dạng Công

viên nước Hồ Tây (một số khu vực có thể phát triển theo mô hình này cần được

nghiên cứu như: công viên Thủ Lệ có khả năng hình thành một khu công viên về

động vật; công viên Bách Thảo - hình thành khu vườn thực vật quý hiếm và khu

công viên đô thị; công viên Thống Nhất - hình thành khu công viên chuyên đề vui

chơi giải trí và thể thao…)

Khu vực Sơn Tây - Ba Vì: là cửa ngõ phía Tây Bắc của Hà Nội, đây là khu

vực giàu tiềm năng du lịch không kém gì so với khu vực trung tâm; với các khu,

điểm du lịch nổi bật: đền Hát Môn (Phúc Thọ), làng Việt cổ Đường Lâm, chùa Mía,

đình Mông Phụ, lăng Ngô Quyền, đền Phùng Hưng, đền Và, bản làng người dân tộc

khu vực sườn Tây núi Ba Vì; thành cổ Sơn Tây; đình Tây Đằng; đền Hạ - đền

Trung - đền Thượng và đền thờ Bác Hồ; khu di tích Đá Chông; Vườn Quốc gia Ba

Vì; các khu du lịch sinh thái quanh chân núi Ba Vì: Thác Đa, Ao Vua, Khoang

Xanh…; hồ Đồng Mô, hồ Suối Hai, sông Đà, sông Hồng…

Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù trong khu vực cần tập trung vào các loại

hình du lịch chính: Du lịch văn hóa: gắn liền với các giá trị văn hóa truyền thống

nổi bật của khu vực, trong đó định hướng phát triển thành các khu du lịch chuyên đề

tầm cỡ: khu du lịch tâm linh núi Ba Vì với đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và đền

Thờ Bác Hồ; khu du lịch văn hóa làng Việt cổ Đường Lâm - đền Và. Du lịch sinh

thái nghỉ cuối tuần: hình thành vành đai du lịch sinh thái nghỉ cuối tuần xung quanh

khu vực núi Ba Vì với: hệ thống các khu du lịch sinh thái, nghỉ cuối tuần như Ao

Vua, Khoang Xanh, hồ Suối Hai…; quy hoạch Vườn Quốc gia Ba Vì thành công

viên sinh thái. Du lịch vui chơi giải trí: lấy trung tâm động lực chính là điểm du lịch

quốc gia Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam - một trong những điểm du

lịch quốc gia chuyên đề lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á. Du lịch thể thao cao

cấp: tập trung phát triển các loại hình du lịch thể thao cao cấp như du lịch sân golf,

thể thao nước ở các khu vực: hồ Đồng Mô, hồ Suối Hai theo quy hoạch sân golf

Việt Nam đến năm 2030.

Khu vực Hương Sơn - Quan Sơn: là khu vực cửa ngõ phía Tây Nam của Hà

Nội với các giá trị về du lịch văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng và sinh thái nổi bật như:

98

điểm du lịch quốc gia Hương Sơn; đền Hữu Vĩnh; hồ Quan Sơn; di tích lịch sử cách

mạng: Khu Cháy; các làng nghề truyền thống.

Trong thời gian tới, cần tập trung phát triển sản phẩm du lịch theo các loại

hình chính như: du lịch văn hóa tâm linh lễ hội: khai thác tiềm năng du lịch văn hóa

của khu vực Hương Sơn (Lễ hội chùa Hương) và các khu vực lân cận như: di tích

lịch sử cách mạng (Khu Cháy), làng nghề truyền thống (khu vực Thanh Oai, Ứng

Hòa, Mỹ Đức). Du lịch nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần và sinh thái: khai thác tiềm năng

du lịch sinh thái nổi bật ở khu vực rừng đặc dụng Hương Sơn; phát triển khu vực hồ

Quan Sơn thành đô thị nghỉ dưỡng sinh thái hồ có quy mô lớn của khu vực. Du lịch

thể thao cao cấp: phát triển các sản phẩm chính như: Golf, thể thao nước ở khu vực

hồ Quan Sơn.

Khu vực đền Sóc - hồ Đồng Quan: Nằm trong chiến lược phát triển Thủ đô Hà

Nội theo hướng Bắc với các khu, điểm du lịch nổi bật: đền Sóc; núi Sóc Sơn; hồ

Đồng Quan; đầm Lai Cách; sân golf Minh Trí; sân golf Sóc Sơn; không gian sinh

thái nông nghiệp.

Với tiềm năng du lịch như vậy, việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của

khu vực này cần tập trung vào các loại hình du lịch chính: du lịch tâm linh: gắn liền

với tín ngưỡng tôn sùng Thánh Gióng - một trong Tứ bất tử trong tín ngưỡng người

Việt. Do vậy, cần tăng cường đầu tư xây dựng di tích lịch sử đền Gióng thành khu

du lịch tâm linh tầm cỡ quốc gia. Du lịch sinh thái nghỉ cuối tuần: phát triển gắn với

giá trị sinh thái, nghỉ cuối tuần ở khu vực hồ Đồng Quan, đầm Lai Cách, núi Sóc

Sơn và các khu vực có cảnh quan sinh thái trong vùng với các loại hình du lịch

chính: du lịch sinh thái hồ đầm; du lịch nghỉ cuối tuần; du lịch sinh thái nông

nghiệp; du lịch sinh thái ở khu vực núi Sóc Sơn. Du lịch thể thao, vui chơi giải trí:

Cần tập trung phát triển các loại hình đua ngựa, đua chó, thi đấu thể thao…

Khu vực Vân Trì - Cổ Loa: là khu vực cửa ngõ phía Đông Bắc của Hà Nội với

các khu, điểm du lịch nổi bật là: khu di tích Cổ Loa; đầm Vân Trì; sân golf Vân Trì.

Sản phẩm du lịch đặc thù khu vực này cần tập trung vào các loại hình du lịch như:

du lịch thể thao, vui chơi giải trí: tập trung phát triển các sản phẩm du lịch cao cấp ở

99

khu vui chơi giải trí cao cấp Vân Trì; khu phim trường Cổ Loa; thể thao cao cấp ở

sân golf Vân Trì. Du lịch sinh thái, nghỉ cuối tuần: phát triển theo mô hình các trang

trại sinh thái nông nghiệp và các khu nghỉ cuối tuần xung quanh đầm Vân Trì

Khu vực Hà Đông và phụ cận: đây là khu vực cửa ngõ phía Tây Hà Nội có thế

mạnh về làng nghề và du lịch sinh thái như: làng dệt lụa Vạn Phúc; chùa Thầy; chùa

Tây Phương; động Hoàng Xá; đầm Thượng Thanh; hồ Đồng Xương; hồ Văn Sơn;

sân golf hồ Văn Sơn…

Định hướng phát triển sản phẩm du lịch chủ yếu trong khu vực cần tập trung

vào các loại hình du lịch chính: du lịch làng nghề: khai thác các sản phẩm du lịch

gắn với làng nghề theo mô hình các tour du lịch đồng quê, homestay ở các làng

nghề truyền thống, tập trung vào các làng nghề nổi tiếng nhất trong khu vực: làng

nghề dệt lụa truyền thống Vạn Phúc; mây tre đan Phú Vinh, mộc Vạn Điểm, khảm

Chuyên Mỹ. Du lịch văn hóa: tập trung khai thác các sản phẩm du lịch gắn với các

giá trị văn hóa trong khu vực như: hệ thống chùa chiền với các ngôi chùa nổi tiếng là

chùa Trầm, chùa Trăm Gian, chùa Thầy, chùa Tây Phương; di tích lịch sử cách mạng

nơi Bác Hồ viết lời kêu gọi kháng chiến ở Vạn Phúc… Du lịch vui chơi giải trí, nghỉ

dưỡng cuối tuần: tập trung khai thác ở khu vực ven sông Đáy, sông Nhuệ, sân golf hồ

Văn Sơn và các khu vực trạng trại sinh thái lân cận Hà Đông, Chương Mỹ…

Vành đai du lịch sông Hồng: là trục không gian cảnh quan chủ đạo của thành

phố Hà Nội, vành đai sông Hồng có không gian mặt nước và cảnh quan ven sông

hấp dẫn với nhiều di tích lịch sử văn hóa và truyền thống cách mạng: Chương

Dương, Bát Tràng, đền Dầm, đền Lộ (Thường Tín), đền Đa Hòa thờ thánh Chử

Đồng Tử, bãi giữa sông Hồng…

Phát triển sản phẩm du lịch nên tập trung vào: du lịch tâm linh: gắn với văn

hóa truyền thống của Hà Nội dọc theo các làng quê ven sông Hồng với các điểm

đến nổi bật như: đền Hát Môn; đền Đại Lộ; bãi Tự Nhiên; làng nghề Bát Tràng. Du

lịch sinh thái: khai thác tiềm năng du lịch sinh thái ven sông với mô hình các trang

trại sinh thái vườn ven sông dọc theo sông Hồng ở khu vực: Sơn Tây; Phúc Thọ;

Gia Lâm; Đông Anh; Thường Tín; Phú Xuyên.

100

Vành đai du lịch sông Đáy: sông Đáy có không gian mặt nước và cảnh quan

hữu tình gắn với nhiều di tích lịch sử văn hóa, cách mạng; với các khu, điểm du lịch

nổi bật: bến Lội (Mỹ Đức), miếu Hát ở Hát Môn, Vân Đình - quê hương cụ Dương

Khuê, tiến sĩ năm 1868 triều Tự Đức, chùa Hương, suối Yến, huyện Mỹ Đức, các

làng nghề khu vực ven sông.

Sản phẩm du lịch nên tập trung vào các loại hình: du lịch sinh thái: khai thác ở

các khu vực Phúc Thọ, Quốc Oai, Đan Phượng, Chương Mỹ, Mỹ Đức… theo mô

hình các trang trại sinh thái ven sông. Du lịch văn hóa: Khai thác hệ thống di tích

lịch sử văn hóa dọc theo dòng sông như: đền Hát Môn, chùa Thầy, chùa Trăm Gian;

các làng cổ, làng nghề truyền thống.

Ba là, xây dựng chiến lược tuyên truyền, quảng bá du lịch với tầm nhìn dài

hạn. Trong đó, cần thực hiện:

Tuyên truyền, quảng bá du lịch dưới nhiều hình thức thông qua: các phương

tiện truyền thông đại chúng, các phương tiện quảng bá chuyên về du lịch trong và

ngoài nước, các sự kiện, hội chợ du lịch, các văn phòng lữ hành, đại lý du lịch trong

và ngoài nước bằng việc biên soạn các ấn phẩm, băng hình, quảng cáo tấm lớn, phát

hành rộng rãi các sách hướng dẫn du lịch, giới thiệu về các khu du lịch, các sản

phẩm du lịch độc đáo của Hà Nội hướng vào các thị trường mục tiêu; tham gia các

sự kiện du lịch ở các thị trường mới. Đặc biệt đối với thị trường nước ngoài, Hà Nội

cần chú ý đến vấn đề tận dụng các ấn phẩm du lịch như guide book (sách hướng

dẫn), các tạp chí du lịch, các kênh truyền hình… để quảng cáo cho hình ảnh điểm

đến của Hà Nội.

Chuyên nghiệp hoá hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch từ cấp thành phố đến

địa phương. Thành lập và có cơ chế vận hành linh hoạt đối với các văn phòng đại

điện du lịch Hà Nội ở các thị trường trọng điểm. Tổ chức nghiên cứu điều tra thị

trường du lịch định kỳ theo phương pháp cố định để có được diễn biến thị trường

thường xuyên. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thị trường vững mạnh về các thị

trường nguồn, cạnh tranh, về mạng lưới đối tác trong và ngoài nước từ cơ quan

quản lý Nhà nước về du lịch và các ngành liên quan, các đơn vị, tổ chức, hiệp hội,

101

câu lạc bộ, doanh nghiệp liên quan cũng như mạng lưới đối tác cung ứng dịch vụ tổ

chức quảng cáo trong và ngoài nước.

Xã hội hoá hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, tổ chức thực hiện các chiến

dịch truyền thông, tuyên truyền và nâng cao nhận thức du lịch trong cộng đồng về

phát triển du lịch. Xây dựng cơ chế hợp tác trong và ngoài ngành đối với hoạt động

xúc tiến quảng bá du lịch và cơ chế huy động vốn đối với các cơ quan, đơn vị,

doanh nghiệp trong và ngoài nước, tập thể và cá nhân cùng tham gia hoạt động xúc

tiến quảng bá du lịch. Ủy ban nhân dân thành phố cấp vốn ngân sách phù hợp để

xúc tiến quảng bá, xây dựng hình ảnh và thương hiệu du lịch Thủ đô. Sở Văn hóa,

Thể thao và Du lịch hướng dẫn nghiệp vụ và cách thức triển khai thực hiện kế

hoạch xúc tiến quảng bá cho vùng, các địa phương và các doanh nghiệp kinh doanh.

Các doanh nghiệp tích cực thực hiện tuyên truyền quảng bá cho các sản phẩm du

lịch của mình.

3.3.5. Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường

Giải pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường cần đặc biệt được quan tâm vì bảo vệ

tài nguyên, môi trường du lịch là vấn đề cần thiết và góp phần quan trọng trong

công tác quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững Hà Nội. Việc tổ chức thực

hiện tốt về công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường sẽ góp phần nâng cao giá trị

của du lịch, an toàn tin cậy cho du khách, góp phần quảng bá hình ảnh tốt nhất của

du lịch Hà Nội đến với mọi người, thu hút khách du lịch đến với Hà Nội ngày một

đông hơn.

Tuy nhiên, bảo tồn tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch phải đáp ứng nhu

cầu về kinh tế, văn hóa, xã hội, thẩm mỹ nhưng vẫn duy trì được bản sắc văn hóa

dân tộc, đảm bảo sự đa dạng sinh học, các quá trình sinh thái cơ bản cũng như các

hệ sinh thái cho cuộc sống các thế hệ hôm nay và mai sau. Chính vì lý đó trong quá

trình thực hiện cần phải quan tâm đến một số giải pháp như:

- Tăng cường nghiên cứu, đo đạc các tài nguyên môi trường (môi trường đất,

nước, không khí, rác thải…) tại các khu du lịch trọng điểm ở Hà Nội.

102

- Tăng cường kiểm tra giám sát việc bảo vệ môi trường và tài nguyên, nghiêm

cấm mọi hành vi làm ảnh hưởng đến tính bền vững về tài nguyên và môi trường du

lịch của Hà Nội.

- Thực hiện các hoạt động thu gom rác thải và xử lý chất thải: Tại các điểm du

lịch, các khu dịch vụ, các điểm bến bãi đỗ xe cần bố trí các thùng chứa. Những ngày

thường ít khách, khối lượng rác thải nhỏ, lực lượng lao động tự thu gom rác, phân

loại vô cơ, hữu cơ rồi sau đó tập trung về trạm trung chuyển. Các ngày lễ hội chính,

lượng rác thải lớn, lực lượng lao động phân loại và tập trung về các điểm thùng

chứa rác, cuối ngày thu gom vận chuyển về khu xử lý rác hiện có của thành phố.

- Tổ chức các chương trình giáo dục môi trường, các hoạt động nhằm hạn chế

sự suy thoái và bảo vệ phát triển các hệ sinh thái như không đốt, phá rừng, không

khai thác bừa bãi tài nguyên rừng, tăng cường trồng cây xanh tại các điểm du

lịch…một cách hệ thống và thường xuyên đặc biệt trong những ngày lễ hội. Có thể sử

dụng các phương pháp giáo dục truyền thống như nhắc nhở trực tiếp du khách, phát

tờ rơi (với nội dung nhấn mạnh vai trò môi trường), tuyên truyền qua đài phát thanh.

- Đầu tư xây dựng hệ thống nước sạch cho mùa khô để giảm thiểu các nhân tố

gây ô nhiễm môi trường do thiếu nước sạch.

- Khuyến khích sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường như bao gói tự

nhiên phân hủy. Nên khuyến khích những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch,

dịch vụ ở đây tham gia vào công tác bảo vệ môi trường. Chẳng hạn việc đề ra các

nội quy về bảo vệ môi trường buộc những người làm dịch vụ ở đây đảm bảo vệ sinh

những khu vực của mình buôn bán. Trên cơ sở này có thể áp dụng phạt hành chính

đối với những trường hợp vi phạm.

- Xã hội hóa, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, nhiều thành phần kinh

tế trong công tác bảo vệ tài nguyên môi trường. Phát triển du lịch bền vững tại cộng

đồng dân tộc ít người với các loại hình du lịch thích hợp.

3.3.6. Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát triển văn hóa, xã hội

3.3.6.1. Nâng cao nhận thức và đời sống của cộng đồng địa phương

Sự phát triển du lịch bền vững luôn gắn với cộng đồng địa phương. Vai trò của

cộng đồng dân cư địa phương rất lớn bởi họ vừa là khách du lịch, vừa là người phục

103

vụ các dịch vụ du lịch, vừa góp phần tạo nên môi trường xã hội cho du lịch phát

triển bền vững. Để đạt được mục tiêu phát triển du lịch bền vững thì việc nâng cao

nhận thức và đời sống của cộng đồng dân cư tại nơi đây là rất cần thiết. Các giải

pháp này cần tập trung một số vấn đề sau:

Tiến hành kiểm định lại việc cho thuê mặt bằng kinh doanh, trên cơ sở đó để

đặt ra các phương án giảm giá thuế cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn tạo điều kiện

cho họ nâng cao thu nhập cải thiện đời sống.

Lồng ghép nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch bền vững

vào các chương trình, các dự án, phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng

đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết về phát triển du lịch bền

vững cho cộng đồng nhân dân địa phương.

Quy hoạch các khu vực có điều kiện để tiến hành áp dụng việc sản xuất lương

thực, thực phẩm phục vụ cho du lịch. Điều này sẽ tạo ra việc làm mới cho một lực

lượng lao động trong vùng.

Khuyến khích các doanh nhân, doanh nghiệp hoạt động du lịch trên địa bàn

khu vực và cộng đồng dân cư địa phương tham gia tích cực vào hoạt động du lịch,

vào nỗ lực bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch, tham gia giữ vệ sinh môi

trường tại các điểm du lịch trong khu vực.

Định hướng giải quyết các vấn đề trẻ em lang thang ở khu du lịch vì đây là

một trong những tác động tiêu cực của du lịch.

3.3.6.2. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống

Cần tiến hành đầu tư thỏa đáng cho việc duy trì tổ chức các lễ hội truyền thống

hàng năm ở Hà Nội trên cơ sở kinh phí lấy từ nguồn thu du lịch. Đây là điều cần

thực hiện nghiêm chỉnh và quy mô không chỉ bởi lý do xã hội mà ở góc độ nào đó,

đây còn là bản sắc, là bộ mặt của du lịch Hà Nội trong việc thu hút nguồn khách du

lịch đến tham quan.

Cần nghiên cứu thống kê các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương trên cơ

sở sách, báo, các tài liệu cổ hay các tài liệu truyền miệng…để từ đó có thể tiến hành

xây dựng và tổ chức lại hệ thống lễ hội vốn rất đặc sắc và phong phú của địa phương.

104

Tiến hành quy hoạch thêm một số điểm biểu diễn văn nghệ, ca múa nhạc dân

tộc với những chương trình độc đáo, đặc sắc nhằm giữ chân khách và tạo sắc thái

dân gian cho khách du lịch.

3.4. Một số kiến nghị

3.4.1. Kiến nghị với UBND thành phố Hà Nội

Thứ nhất: về vấn đề chi phí dịch vụ, do lao động du lịch gồm cả lao động trực

tiếp và gián tiếp nên chi phí dịch vụ du lịch có thể cao, điều này có thể khắc phục

bằng cách phối hợp giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và các doanh nghiệp

có liên quan đề thỏa thuận về giá thành phục vụ du lịch, cắt g iảm bớt các khâu

trung gian trước khi sản phẩm du lịch được du khách tiếp nhận…

Thứ hai: về vấn đề nguồn nhân lực, không chỉ đào tạo lại đội ngũ nhân viên

phục vụ trực tiếp ngành du lịch mà còn phải đào tạo một cách có hệ thống để những

nhân viên ngoài ngành cũng có thể tiếp cận một cách rõ ràng, nâng cao những hiểu

biết chuyên môn cần thiết cho đội ngũ hướng dẫn viên du lịch

Thứ ba: về vấn đề quảng bá du lịch, hiện nay công tác quảng bá du lịch cũng có

nhiều hình thức nhưng chưa thực sự hiệu quả, để đạt hiệu quả cao trong khâu quảng

bá du lịch, trước hết doanh nghiệp đứng ra quảng bá phải thực sự xây dựng được

thương hiệu của mình, sau là hình thức quảng bá phải mang tính chất cộng đồng,

mang đậm bản sắc dân tộc thể hiện sự am hiểu về đất nước và con người Việt Nam

Thứ tư: từ phía các cấp chính quyền thành phố Hà Nội nói chung và cả nước

nói riêng, cần có những chính sách cụ thể hơn trong việc xây dựng phát triển ngành

du lịch: Chính phủ nghiên cứu ban hành các chính sách ưu đãi, đặc thù cho Hà Nội

trong lĩnh vực phát triển du lịch để Hà Nội xứng đáng là Trung tâm của cả nước về

văn hóa, giáo dục và khoa học công nghệ.

Quan tâm, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan hỗ trợ Thành phố triển

khai thực hiện các quy hoạch du lịch, quy hoạch giao thông, đô thị…

Đầu tư thực hiện các dự án du lịch trọng điểm.

Quy định chính sách sử dụng và đãi ngộ người lao động nhằm thu hút nhân tài

cho ngành du lịch.

105

3.4.2. Kiến nghị với Sở Du lịch Hà Nội

Sở du lịch nên có giải pháp để khắc phục tính mùa vụ của du lịch bằng việc

phát triển nhiều loại hình du lịch, đa dạng các sản phẩm du lịch, nâng cao chất

lượng sản phẩm và dịch vụ của du lịch Hà Nội hiện nay.

Trong thời gian tới, mở rộng không gian du lịch, tạo thêm nhiều sản phẩm ở

các điểm du lịch là những giải pháp quan trọng để mở rộng sức chứa và có thể đón

thêm lượng lớn khách tham quan.

Nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng. Thực hiện các giải

pháp kỹ thuật trong cấp thoát nước, xử lý rác thải nhằm đảm bảo chất lượng nước

và môi trường trong và ngoài khu vực phát triển du lịch bền vững.

Bảo tồn, nâng cao giá trị và khôi phục các kiến trúc, nghệ thuật, vật thể và phi

vật thể, văn hóa, thủ công mỹ nghệ, trang phục, phong tục, truyền thống…bằng các

nguồn kinh phí trực tiếp thu hay gián tiếp thu từ hoạt động du lịch.

Điều quan trọng hơn cả là tạo cơ chế cho cộng đồng địa phương có trách nhiện và

quyền lợi trong việc sử dụng tài nguyên của mình theo đúng quy định của Nhà nước.

Nên có bảng chỉ dẫn du khách có ý thức bảo vệ môi trường tại các điểm du

lịch nhiều hơn nhưng phải được thiết kế sao cho phù hợp với cảnh quan môi trường

tại khu vực đó. Ví dụ như thiết kế bảng chỉ dẫn hình cây vừa lạ mắt với du khách,

vừa gây được sự chú ý của họ đồng thời không gây mất mỹ quan.

Thường xuyên mở các lớp đào tạo lại đội ngũ cán bộ cũng như nhân viên phục

vụ du lịch không những về kỹ năng nghề nghiệp mà còn nâng cao hiểu biết về môi

trường và tầm quan trọng của nó đối với phát triển du lịch bền vững ở Hà Nội.

106

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Định hướng phát triển du lịch Hà Nội là bền vững và trên cơ sở bảo tồn và

phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử của Thủ đô và dân tộc; bảo vệ thiên nhiên và

môi trường; đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, việc tổ chức thực hiện Quy hoạch

tổng thể phát triển du lịch Hà Nội từ nay đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 trên

thực tế cần sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Sở Du lịch Hà Nội với các Sở, Ban,

ngành có liên quan. Theo đó, cần nhanh chóng bắt tay vào xây dựng quy hoạch,

chương trình, đề án phát triển du lịch cho từng khu, điểm, không gian phát triển du

lịch riêng, làm cơ sở cho hoạt động du lịch phát triển theo đúng định hướng, đảm

bảo các mục tiêu phát triển bền vững.

Từ kết quả này, xoay quanh những vấn đề còn tồn tại, chưa được khắc phục,

việc định hướng cho du lịch thành phố Hà Nội cần có những bước tiến hành tiếp theo

nhằm góp phần xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịch bền vững ở đây.

Có thể khẳng định trong tương lai không xa, với những thành công đã đạt

được cũng như những mặt hạn chế được khắc phục thì hoạt động du lịch đến các di

tích lịch sử văn hóa sẽ ngày càng sôi động hơn, khai thác có hiệu quả hơn những

tiềm năng sẵn có của mình, góp phần vào sự phát triển du lịch bền vững thành phố

Hà Nội.

107

KẾT LUẬN

Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một ngành kinh tế có vai trò quan

trọng, tác động nhiều chiều, đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã

hội, được nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm trong đó có Việt Nam.

Trong những năm qua, ngành Du lịch Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước chú

trọng đầu tư, từng bước phát triển về mọi mặt và trở thành một ngành kinh tế mũi

nhọn, đóng góp ngày càng cao trong cơ cấu GDP khối ngành dịch vụ hàng năm.

Là một địa phương có vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên du lịch phong phú,

điều kiện cơ sở kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, xã hội tương đối tốt… thành phố Hà Nội

đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách trong và ngoài nước. Sự

phát triển mạnh mẽ của kinh tế du lịch Hà Nội trong những năm vừa qua đã góp

phần quan trọng vào tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm,

tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận không nhỏ dân cư địa phương -

nơi có tài nguyên du lịch.

Trong chương 1, luận văn đã trình bày luận văn đã đưa ra quan niệm phát triển

du lịch bền vững; Nội dung quản lý nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền

vững cũng như các nhân tố tác động. Luận văn cũng nêu lên kinh nghiệm quản lý

Nhà nước về du lịch theo hướng phát triển bền vững của một số địa phương trong

nước và bài học kinh nghiệm cho UBND thành phố Hà Nội

Chương 2, luận văn đã tiến hành luận văn đánh giá khá toàn diện thực trạng

công tác quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững tại Hà Nội trong thời gian

qua, phân tích những đóng góp tích cực mà du lịch Hà Nội đem lại cho kinh tế - xã

hội Thủ đô, nhất là trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho

cộng đồng dân cư địa phương; đồng thời chỉ rõ những hạn chế của Hà Nội trong

quản lý Nhà nước theo hướng phát triển bền vững.

Chương 3, trên cơ sở những hạn chế và nguyên nhân đã được chỉ ra ở chương

2, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về

phát triển du lịch bền vững tại Hà Nội trong thời gian tới. Thực hiện tốt các giải

108

pháp sẽ góp phần giữ gìn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân

văn, xây dựng được những sản phẩm du lịch độc đáo, đáp ứng nhu cầu của du

khách trong và ngoài nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố,

thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao đời sống nhân dân cả nước nói chung

và Thủ đô Hà Nội nói riêng.

Do giới hạn về kiến thức và thời gian nghiên cứu, nên luận văn của tác giả

không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp

của thầy cô và bạn đọc để có thể hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

109

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục Thống kê Hà Nội (2020), Niên giám thống kê 2021, Hà Nội.

2. Lưu Duy Dần, Nguyễn Hữu Chính, Bạch Hồng Ân (2016), Làng nghề du lịch

Hà Nội và vùng phụ cận, Nxb Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam,

Hà Nội.

3. Đoàn Liêng Diễm (2013), Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững thành

phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế

thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Trần Tiến Dũng (2016), Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng,

Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

5. Đảng bộ thành phố Hà Nội (2020), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành

phố Hà Nội lần thứ XVII, Hà Nội.

6. Nguyễn Văn Động, Thái Vĩnh Thắng, Nguyễn Thị Thuận (2016), Xây dựng và

hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay,

Nxb Tư pháp, Hà Nội.

7. Nguyễn Hồng Giáp (2017), Kinh tế du lịch, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

8. Hoàng Văn Hoàn (2017), Xúc tiến đầu tư phát triển du lịch Hà Nội trong giai

đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Thương mại, Hà Nội.

9. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2011), Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, Hà Nội.

10. Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình (2014), Kinh tế du lịch & Du lịch học,

Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

11. Bùi Thị Nga (2016), Những giải pháp chủ yếu đế phát triển du lịch trên địa

bàn Hà Nội, Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế, Học viện Quân y, Hà Nội.

12. Phạm Quang Nghị, Ngô Thị Thanh Hằng, Vũ Minh Giang (2018), “Phát triển

bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hoà bình”, Bài tham luận tại

Hội thảo khoa học quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

110

13. Phùng Hữu Phú, Nguyễn Duy Quý, Ngô Thị Thanh Hằng (2020), Phát huy

tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử - văn hoá, phát triển bền

vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2025, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

14. Sở Du lịch Hà Nội (2020), Báo cáo kết quả hoạt động du lịch Hà Nội 5 năm

(2016 - 2020) và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2021 - 2025.

15. Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (2020), Báo cáo tóm tắt tổng thể hiện

trạng môi trường Hà Nội giai đoạn 5 năm (2016 - 2020).

16. Sở Du lịch Hà Nội (2020), Báo cáo kết quả hoạt động du lịch Hà Nội 5 năm

2016 - 2020; phương hướng, nhiệm vụ đến năm 2030.

17. Tổng cục du lịch (2010), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn 2030, Hà Nội.

18. Tổng cục du lịch, Viện nghiên cứu phát triển du lịch (2012), đề tài NCKH

cấp Bộ, Cơ sở khoa học và giải pháp thực hiện xã hội hóa du lịch ở Việt

Nam, Hà Nội.

19. Nguyễn Tấn Vinh (2018), Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn

tỉnh Lâm Đồng, Luận án Tiến sĩ Kinh tế.

20. Cẩm nang kinh doanh Harvard (2006), Tuyển dụng và đãi ngộ người tài, NXB

Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.

21. Trần Xuân Cầu - Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực,

NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.