intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:101

0
103
lượt xem
29
download

LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Doanh nghiệp (DN) là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có vai trò hết sức quan trọng thể hiện ở chỗ: DNNN chi phối các ngành, các lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Doanh nghiệp (DN) là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có vai trò hết sức quan trọng thể hiện ở chỗ: DNNN chi phối các ngành, các lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Trước những thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, để kinh tế nhà nước nói chung, DNNN nói riêng thực sự giữ vai trò chủ đạo trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, cần phải nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của DNNN. Giải pháp cơ bản để thực hiện được mục tiêu này là tăng cường chất lượng công tác quản trị kinh doanh trong các DNNN. Kế toán, với vị trí là công cụ không thể thiếu phục vụ cho quản lý kinh tế tài chính cần phải được các DNNN sử dụng một cách hợp lý, đúng đắn nhằm phát huy tối đa vai trò của nó trong hệ thống quản lý kinh tế. ở nước ta, hệ thống kế toán hiện hành đã có những thay đổi cơ bản so với hệ thống kế toán trước đây, đã tiếp cận những thông lệ, chuẩn mực kế toán quốc tế và bao gồm một số nội dung của kế toán quản trị (KTQT). Tuy nhiên, những thay đổi bước đầu đó mới chỉ thỏa mãn phần lớn nhu cầu thông tin theo quy định của Bộ Tài chính, nhằm chủ yếu đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế tài chính của DN. Công tác KTQT phục vụ cho mục đích quản trị DN vẫn còn là một vấn đề chưa được xem xét, nhìn nhận đúng với vị trí và vai trò vốn có của nó. KTQT là công cụ quản lý vi mô không thể thiếu phục vụ cho quản trị DN mới chỉ được đề cập tới trong các tài liệu nghiên cứu và bước đầu xuất hiện một cách sơ lược trong Luật Kế toán, chưa được những người hành nghề kế toán thực hiện một cách đầy đủ, các
  3. nhà quản trị DN quan tâm sử dụng, thậm chí còn bỡ ngỡ cả trong nhận thức về vai trò, chức năng và cách thức tổ chức thực hiện. Đề tài "Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay" được chọn nghiên cứu với mong muốn góp phần bổ sung thêm những vấn đề lý luận về KTQT các yếu tố đầu vào, đưa ra một số biện pháp để tổ chức thực hiện KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN. 2. ý nghĩa khoa học và thực tiễn Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh (KD) thì việc quản trị đúng đắn, hợp lý các yếu tố đầu vào của DN có vai trò vô cùng quan trọng. Để đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời trong việc quản trị các yếu tố đầu vào, nhà quản trị DN cần phải có nhiều thông tin: thông tin thực hiện, thông tin dự báo... KTQT với đặc điểm riêng của mình đã đáp ứng những yêu cầu về thông tin của quản trị trong từng DN. Với vai trò quan trọng như vậy, KTQT các yếu tố đầu vào đã và đang là vấn đề được giới chuyên môn quan tâm. Các nhà nghiên cứu, các giảng viên trong các tr ường đào tạo chuyên ngành đang còn nhiều quan điểm khác nhau về lý luận cũng như việc áp dụng trong các DN. Thực tế ở Việt Nam, kế toán trong các DN chưa nhận thức đúng đắn về KTQT nói chung và KTQT các yếu tố đầu vào nói riêng nên chưa cung cấp được các thông tin cần thiết phục vụ cho quản trị. Nhận thức đúng vai trò, chức năng, mục đích của KTQT các yếu tố đầu vào trong quản trị DN; tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào một cách khoa học, hợp lý, sẽ góp phần nâng cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành KD và hiệu quả hoạt động của các DN. Xuất phát từ những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài "Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay" vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn. 3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
  4. - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DN. - Tìm hiểu thực tế công tác kế toán ở một số DNNN trên địa bàn Hà Nội, đánh giá thực trạng tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN. - Đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN. 4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Với mục đích đã xác định, luận văn tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN. Trong đó tập trung chủ yếu vào các DN sản xuất và yếu tố đầu vào được quan tâm nghiên cứu là nguyên liệu vật liệu (NLVL). Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp chung: Dựa vào phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu các vấn đề một cách toàn diện, hệ thống và cụ thể. - Phương pháp thực hiện: Vận dụng các phương pháp như: phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh... Nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước, học hỏi các thầy cô giáo giảng dạy ở các môn học liên quan đến quản trị DN, tìm hiểu các tài liệu thực tế về công tác kế toán của một số DNNN trong lĩnh vực sản xuất (SX). Do KTQT có mục tiêu chủ yếu là cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản trị ở nội bộ DN cho nên cần thiết phải tìm hiểu một số phương pháp, kỹ thuật quản trị tác nghiệp đối với các yếu tố đầu vào của DN. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong doanh nghiệp.
  5. Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Một số kiến nghị về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
  6. Chương 1 Những vấn đề chung về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong Doanh Nghiệp 1.1. ý nghĩa của việc quản trị các yếu tố đầu vào đối với doanh nghiệp 1.1.1. Các quan điểm về yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Vận dụng quan điểm toàn diện vào khoa học và cuộc sống, người ta đã hình thành lý thuyết hệ thống. Lý thuyết hệ thống là quá trình sử dụng tổng hợp các lĩnh vực khoa học như: toán học, tin học, lôgic học, kinh tế... nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra theo quan điểm toàn diện. Lý thuyết hệ thống được ứng dụng rộng rãi trong công tác quản lý, từ quản lý vĩ mô cho tới quản lý vi mô. Những bộ phận chủ yếu của một hệ thống bao gồm: các phần tử của hệ thống, môi trường của hệ thống, đầu vào của hệ thống, đầu ra của hệ thống. DN khi được nhìn nhận theo quan điểm là một hệ thống cũng bao gồm các bộ phận đã nêu trên. Đối với bộ phận "đầu vào" của DN, có nhiều quan niệm, nhiều cách phát biểu khác nhau. Theo các tác giả của Trường Đại học kinh tế quốc dân: Doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một hệ thống xã hội, một hệ thống kinh doanh. Điều đó có nghĩa là mọi khái niệm, mọi nguyên lý, mọi phương pháp trong lý thuyết hệ thống đều có thể được vận dụng trong nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp. Đầu vào của doanh nghiệp là các phương tiện cần thiết để cho doanh nghiệp hoạt động, bao gồm: - Nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám) cung ứng các loại nhân lực cho doanh nghiệp.
  7. - Nguồn vốn đảm bảo cung cấp tài chính cho doanh nghiệp. - Thị trường tư liệu sản xuất và dịch vụ để phục vụ cho các hoạt động tạo ra đầu ra (sản phẩm và dịch vụ mới cho doanh nghiệp). - Thị trường năng lượng và nguyên liệu tạo ra động lực và cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. - Thị trường công nghệ và kỹ thuật để tạo ra các công nghệ và kỹ thuật mới thích hợp. - Thị trường chất xám, thông tin (dịch vụ, tư vấn) [20, tr. 37-38]. Như vậy, theo quan điểm này, các yếu tố đầu vào của DN bao gồm: sức lao động, tư liệu SX, vốn... và các yếu tố đầu vào này đều có thể mua bán được trên thị trường, tức là có thể lượng hóa được bằng thước đo tiền tệ. Tuy nhiên, các tác giả trình bày nội dung còn có sự trùng lặp giữa “thị trường tư liệu sản xuất” với “thị trường năng lượng và nguyên liệu”; giữa “nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám)” với thị “trường chất xám” làm cho người đọc khó phân biệt, dễ nhầm lẫn. Theo tác giả Nguyễn Hải Sản: Khi xem xét doanh nghiệp dưới quan điểm hệ thống người ta cho rằng doanh nghiệp là một tổng thể bao gồm các yếu tố đầu vào, quá trình chế biến, chế tạo, và các yếu tố đầu ra. Tổng thể này chịu sự điều chỉnh của các thông tin phản hồi và tất cả đều nằm trong một môi trường kinh doanh cụ thể. Các yếu tố đầu vào bao gồm: tài sản cố định, nguyên liệu, nguồn nhân lực, tài chính và nguồn thông tin được đưa vào sản xuất chế biến [17, tr. 52-53]. Quan điểm này tương tự như quan điểm của trường Đại học Kinh tế quốc dân, chỉ khác về ngôn từ diễn đạt. Trong quan điểm này, tác giả coi thông tin là một nguồn lực của DN. Đó là một cách hiểu đúng đắn vì trên thực tế các nhà quản trị phải có được thông tin thì mới đề ra được các quyết định quản lý phù hợp và thông tin ngày càng có vai trò quan trọng trong công tác quản lý nói chung, công việc quản trị DN nói riêng.
  8. Theo quan điểm của trường Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội (nay là Học viện Tài chính): Đối với doanh nghiệp, đầu vào là: 1. Tiền vốn. 2. Tổ chức lao động. 3. Công nghệ, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu. 4. Trình độ, phẩm chất, tiềm năng của nhà quản lý. 5. Thị trường, thông tin và các ràng buộc vĩ mô trong kinh doanh 6. Các cơ hội và rủi ro [21, tr. 23-24]. Theo quan điểm này, nhìn nhận các yếu tố đầu vào của DN trong môi trường KD cụ thể, gắn liền với các điều kiện KD, có tính đến các yếu tố chưa thể lượng hóa đo lường bằng các thước đo như: trình độ, phẩm chất, tiềm năng của nhà quản lý. Theo các nhà kinh tế nước Cộng hòa Pháp, các yếu tố đầu vào và đầu ra của DN được thể hiện qua sơ đồ 1.1 (trang 8) [23, tr. 26]. Theo quan điểm này các yếu tố đầu vào của DN gồm lao động, tài sản cố định (TSCĐ), nguyên liệu vật liệu (NLVL), hàng hóa, dịch vụ, tiền vốn và các yếu tố này đều được lượng hóa bằng thước đo tiền tệ. Qua việc phân tích các quan điểm trên chúng tôi nhận thấy thuật ngữ các yếu tố đầu vào của DN có nghĩa rất rộng dùng để chỉ tất cả các yếu tố, các nguồn lực mà DN đã sử dụng trong quá trình hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đầu ra của DN. Đứng trên giác độ của kế toán khi thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các yếu tố đầu vào của DN chỉ có thể xem xét tới các yếu tố đầu vào có thể lượng hóa được vì đặc trưng của thông tin kế toán là thông tin phải được lượng hóa bằng các thước đo (thước đo hiện vật, thước đo lao động, thước đo giá trị, trong đó thước đo giá trị là chủ yếu).
  9. Với nội dung và phạm vi của các yếu tố đầu vào rộng như vậy nên luận văn chỉ tập trung xem xét tới các yếu tố đầu vào là NLVL, sức lao động và TSCĐ của DNNN trong lĩnh vực SX. 1.1.2. ý nghĩa của việc quản trị các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. Quản lý được tiến hành trong mọi lĩnh vực của xã hội, cả ở tầm vĩ mô (toàn xã hội) và cả ở tầm vi mô (trong từng đơn vị). Khi sử dụng thuật ngữ quản lý người ta thường gắn liền với đối tượng bị quản lý như quản lý kinh tế, quản lý hành chính, quản lý nhân sự... Thuật ngữ quản trị (trong tiếng Anh là management) vừa có nghĩa là quản lý, vừa có nghĩa là quản trị nhưng được dùng chủ yếu với nghĩa quản trị. Ngoài ra, tiếng Anh còn có một thuật ngữ nữa là administration với nghĩa là quản lý hành chính, quản lý chính quyền. Tiếng Pháp cũng có hai từ: gestion là quản trị kinh doanh và administration là quản lý hành chính. Như vậy có thể hiểu quản lý là thuật ngữ được dùng đối với các cơ quan nhà nước trong việc quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng, còn quản trị là thuật ngữ được dùng để chỉ các hoạt động quản lý ở cấp cơ sở. Đối với các DN người ta sử dụng thuật ngữ quản trị kinh doanh. Quản lý và quản trị có điểm chung là lôgíc giống nhau của vấn đề quản lý, nhưng điểm khác nhau là nội dung và quy mô cụ thể của vấn đề quản lý đặt ra: một bên là phạm vi toàn xã hội, một bên là phạm vi trong từng cơ sở. Quản trị kinh doanh là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được những mục tiêu đầu ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội [ 20, tr. 41]. Để hoạt động của các đơn vị nói chung, các DN nói riêng đạt được hiệu quả cao thì cần thiết phải tiến hành các hoạt động quản trị.
  10. Các chức năng chủ yếu của quản trị là: xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá. Quản trị các yếu tố đầu vào là một nội dung của công tác quản trị DN. Việc quản trị đúng đắn các yếu tố đầu vào sẽ giúp cho DN đảm bảo được hoạt động của mình một cách bình thường, liên tục, không bị gián đoạn. Với một đầu ra xác định, việc quản lý khoa học, hợp lý các yếu tố đầu vào sẽ tạo cơ sở để DN tiết kiệm chi phí đầu vào từ đó tăng hiệu quả hoạt động của DN nói riêng, hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Những biểu hiện cụ thể của việc quản trị đúng đắn có hiệu quả các yếu tố đầu vào là: - Đối với các yếu tố đầu vào là sức lao động: Đảm bảo bố trí, sử dụng lao động hợp lý, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng phục vụ cho hoạt động KD của DN. Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người lao động, kích thích thi đua trong lao động... - Đối với các yếu tố đầu vào là NLVL, hàng hóa: Đảm bảo số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách... NLVL, hàng hóa cần thiết phục vụ SXKD một cách kịp thời, liên tục với chi phí dự trữ NLVL, hàng hoá hợp lý góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả KD của DN. - Đối với các yếu tố đầu vào là TSCĐ: Trang bị TSCĐ hợp lý, bảo quản tốt, sử dụng có hiệu quả phát huy tối đa năng lực phục vụ của TSCĐ trong DN, đổi mới kịp thời TSCĐ đáp ứng yêu cầu hoạt động của DN. 1.2. Nhiệm vụ của kế toán trong việc phục vụ quản trị các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Để quản trị DN có hiệu quả, nhà quản trị cần phải có những thông tin về DN. Không thể thực hiện công việc quản trị DN khi không biết các thông tin về tình tài chính của DN như: tổng tài sản, tổng nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu... chứ chưa nói đến việc quản trị có hiệu quả. Do đó, thông tin đã được coi là một thứ "quyền lực" trong quản trị hiện đại. Được coi là quyền lực, một nguồn lực, thông tin phải có giá trị. Các tiêu thức để xác định
  11. giá trị của thông tin bao gồm: chất lượng, sự phù hợp, khối lượng và tính kịp thời. Tuy nhiên, không giống các nguồn lực vật chất, việc xác định giá trị của thông tin là một công việc không dễ dàng, bởi thông tin không có giá trị nội tại. Giá trị của thông tin được xác định bởi chính những người sử dụng nó để ra quyết định. Các nhà quản trị và các nhân viên thuộc tất cả các cấp và tất cả các lĩnh vực chuyên môn của DN đều có những nhu cầu thông tin khác nhau. Có thể mô hình hóa thông tin mà nhà quản trị cần để phục vụ cho việc quản trị DN bằng sơ đồ 1.2. Quyết định Các nhà quản trị và nhân viên Phân tích Yêu cầu về Thông tin quyết định thông tin Doanh Truyền dữ nghiệp liệu Ngân hàng Xử lý và Thu thập Xác định dữ liệu dữ liệu sắp xếp dữ nhu cầu dữ Thành phần Các nguồn dữ liệu bên Hoạt động trong và bên Dòng cung cấp Dòng yêu cầu Sơ đồ 1.2: Tiến trình xử lý, sử dụng thông tin phục vụ quản trị DN Theo mô hình này để đưa ra các quyết định, nhà quản trị cần biết được các thông tin nên xuất hiện các nhu cầu về thông tin. Để đáp ứng nhu cầu này đòi hỏi phải có các dữ liệu về thông tin theo nhu cầu của nhà quản trị. Để có được các dữ liệu thông tin này cần
  12. có phải tiến hành thu thập dữ liệu. Nguồn cung cấp dữ liệu có thể từ bên trong DN (dữ liệu về tình hình hàng tồn kho, tình hình công nợ, lợi nhuận... của DN), dữ liệu từ bên ngoài DN (tình hình giá cả thị trường, tình hình về các đối thủ cạnh tranh, các chế độ chính sách về quản lý kinh tế tài chính hiện hành...). Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được sẽ tiến hành việc xử lý và sắp xếp dữ liệu để trở thành ngân hàng dữ liệu của DN. Các dữ liệu cần sử dụng sẽ trở thành thông tin và được phân tích, đánh giá để nhà quản trị đề ra được các quyết định quản trị đúng đắn. Từ mô hình trên chúng ta nhận thấy vai trò quan trọng của thông tin đối với công tác quản trị DN: Nhà quản trị không thể đề ra được các quyết định quản trị đúng đắn khi thiếu thông tin về hoạt động mà họ đang quản lý. Kế toán với tư cách là "khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản hay toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị" [1, tr. 10] đã trở thành công cụ quan trọng phục vụ cho quản lý kinh tế nói chung, quản trị trong các DN nói riêng. Vai trò của kế toán được thể hiện ở chỗ: Kế toán là phân hệ thông tin kinh tế tài chính quan trọng, cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của DN để trên cơ sở đó những nhà quản trị DN có các quyết định đúng đắn để hoạt động của DN đạt hiệu quả cao. Đối với việc quản trị các yếu tố đầu vào, nhà quản trị cần rất nhiều thông tin do kế toán cung cấp, trong đó với đặc điểm là cung cấp thông tin chủ yếu cho việc quản trị nội bộ DN, KTQT có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các thông tin. Vai trò đó được đảm bảo nhờ vào việc thực hiện các nhiệm vụ của KTQT các yếu tố đầu vào. Các nhiệm vụ đó là: - Ghi chép tính toán phản ánh đầy đủ chính xác tình hình hiện có về các yếu tố đầu vào của DN cũng như tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào đó. - Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch về các yếu tố đầu vào: tình hình dự trữ, sử dụng NLVL, tình hình trang bị, sử dụng TSCĐ, sử dụng lao động; phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các hành vi làm ảnh hưởng tới việc sử dụng không hiệu quả các yếu tố đầu vào.
  13. - Cung cấp số liệu tài liệu phục vụ cho việc quản trị các yếu tố đầu vào ở DN, phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế về các yếu tố đầu vào. Đồng thời cung cấp các thông tin mang tính dự báo về tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào để phục vụ cho việc đề ra các quyết định về quản trị các yếu tố đầu vào. 1.3. Tổ chức Kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong Doanh nghiệp 1.3.1. Sự xuất hiện của kế toán quản trị Kế toán là một công cụ phục vụ cho yêu cầu quản lý, vì vậy khi yêu cầu quản lý thay đổi kế toán cũng phải có sự thay đổi phù hợp. Trong môi trường kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin trong công tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những thay đổi nhanh chóng về các mặt: - Toàn cầu hóa nền kinh tế. - Sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia. - Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty trong nước, giữa các công ty ở các quốc gia khác nhau. - Sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật thúc đẩy sự tự động hóa ngày càng toàn diện trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. - Sự ra đời ngày càng nhiều các công cụ quản lý, các chuyên ngành khoa học hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, công tác kế toán. Chính những điều này đã làm cho kế toán phát triển sâu rộng hơn về tính chất và đặc điểm thông tin cần phải cung cấp. Kế toán không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mang tính nguyên tắc mà đòi hỏi phải linh hoạt, kịp thời, hữu ích. Đồng thời, thông tin kế toán cũng phải đảm bảo tính ngắn gọn, nhanh chóng nhằm hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản trị trong môi trường kinh doanh mới [14, tr. 10].
  14. Trong bối cảnh đó, KTQT được hình thành và phát triển, tách biệt với kế toán tài chính (KTTC). Nghiên cứu sự phát triển của KTQT cho thấy: KTQT hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu thông tin của DN. Môi trường cạnh tranh buộc các DN phải tìm mọi biện pháp mở rộng, phát triển thị trường, giảm chi phí, nâng cao lợi nhuận. KTQT là công cụ hữu hiệu cho phép các nhà quản trị kiểm soát quá trình KD, đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận cũng như hiệu quả sử dụng của từng yếu tố đầu vào trong DN để từ đó có các quyết định phù hợp. Như vậy có thể nói, chính môi trường và điều kiện KD là cơ sở khách quan cho sự ra đời và phát triển của KTQT, tồn tại song hành với KTTC và trở thành một công cụ khoa học giúp cho các nhà quản trị nâng cao khả n ăng điều hành, quản lý tổ chức một cách có hiệu quả. 1.3.2. Bản chất của kế toán quản trị Từ khi KTQT xuất hiện cho tới nay, đã có nhiều cách phát biểu khác nhau về KTQT. Theo các nhà khoa học kế toán nước Cộng hòa Pháp: - "Kế toán quản trị là một yếu tố của hệ thống thông tin phục vụ cho quản trị" [24, tr. 7]. - "Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán phục vụ cho nhà quản trị" [25, tr. 18] và "Kế toán quản trị hướng tới hai mục đích chủ yếu: giúp cho nhà quản trị hiểu được tương lai và điều hành các vấn đề của hiện tại. Để hiểu được tương lai, kế toán quản trị phải xây dựng được mối quan hệ giữa những mục tiêu mong muốn và các nguồn lực để đạt được mục tiêu đó" [24, tr. 19]. Theo cách phát biểu này, KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp các thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc thực hiện công tác quản trị tại đơn vị. Mục tiêu của KTQT không chỉ là cung cấp các thông tin quá khứ về tình hình kinh tế tài chính của đơn
  15. vị để phục vụ việc quản trị các hoạt động đang diễn ra mà còn cung cấp các thông tin mang tính dự báo về việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị trong tương lai. Theo các nhà khoa học kế toán Việt Nam: - Theo các nhà khoa học kế toán của Học viện Tài chính: "Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp" [11, tr. 11]. Theo cách phát biểu này KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của DN nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của quản trị DN. Như vậy quá trình KTQT có mối quan hệ chặt chẽ, gắn liền với quá trình thực hiện các chức năng của quản trị DN. Có thể khái quát hai quá trình đó theo sơ đồ 1.3. Các chức năng quản trị Quá trình KTQT Chính thức hình thành Xác định mục tiêu các chỉ tiêu kinh tế Lập dự toán chung Lập kế hoạch và các bản dự toán chi tiết Thu nhận Tổ chức thực hiện kết quả thực hiện Soạn thảo báo cáo Kiểm tra, đánh giá thực hiện
  16. Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị và quá trình kế toán quản trị Theo sơ đồ trên, sau khi nhà quản trị đề ra các mục tiêu của DN, KTQT sẽ hình thành các chỉ tiêu kinh tế về mục tiêu đó. Căn cứ vào kế hoạch hoạt động của DN do nhà quản trị đưa ra trong từng giai đoạn và các chỉ tiêu kinh tế đã thiết lập, KTQT thực hiện việc lập dự toán chung và lập các dự toán chi tiết (dự toán về NLVL, lao động, vốn...) cho hoạt động của DN và như thế KTQT sẽ cung cấp các thông tin mang tính dự báo về hoạt động của DN. Trong quá trình nhà quản trị tổ chức thực hiện các hoạt động của DN, KTQT phải tiến hành thu thập thông tin về các hoạt động đó và cung cấp cho nhà quản trị thông qua các báo cáo KTQT để nhà quản trị thực hiện việc kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và có các quyết định điều chỉnh kịp thời. - Theo các nhà khoa học kế toán của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: "Kế toán quản trị là chuyên ngành kế toán cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính
  17. gắn liền với quan hệ dự báo, đánh giá, kiểm soát và trách nhiệm trong việc điều hành tổ chức hàng ngày của nhà quản trị ở các bộ phận" [16, tr. 12]. Như vậy, cách phát biểu này cũng có sự thống nhất về mặt nội dung với các nhà khoa học kế toán của Học viện Tài chính. Từ những cách phát biểu trên cùng với việc tìm hiểu quá trình hình thành, xuất hiện của KTQT, có thể rút ra một số nhận xét như sau: + KTQT hình thành xuất phát từ nhu cầu về thông tin của nhà quản trị DN, KTQT phục vụ các hoạt động quản trị của một DN cụ thể và vì vậy có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với các phương pháp quản trị tác nghiệp mà DN đó đang áp dụng đối với các hoạt động của DN. + Thông tin KTQT cung cấp không chỉ là những thông tin quá khứ mà còn có các thông tin tương lai về hoạt động kinh tế tài chính của DN. Do đó KTQT không phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ về kế toán như đối với KTTC mà KTQT còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu ngoài các phương pháp đã có ở KTTC để đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong thực tiễn công tác kế toán ở Việt Nam chúng tôi nhận thấy: KTQT được đề cập trong công tác nghiên cứu bắt đầu từ những năm 1990, còn trên thực tế cho đến năm 2003 vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào quy định về công tác KTQT. Trong khi đó còn có quan điểm cho rằng: Kế toán chỉ là việc thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành của đơn vị, thông tin mà kế toán cung cấp chỉ là những thông tin thực hiện (quá khứ), mà không bao gồm các thông tin mang tính dự báo. Theo quan điểm này, việc lập kế hoạch hoạt động của đơn vị là một chức năng của quản trị DN và đã được thực hiện bởi các bộ phận chức năng khác trong đơn vị (bộ phận làm công tác kế hoạch) còn kế toán chỉ thu nhận và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính đã xảy ra để đối chiếu, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch mà thôi.
  18. Từ năm 1995, cùng với những thay đổi to lớn của cơ chế quản lý kinh tế tài chính cả ở tầm vĩ mô cũng như vi mô, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những cải cách cơ bản. Một trong những nguyên tắc của việc cải cách hệ thống kế toán là dần tiếp cận với các thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế để kế toán Việt Nam hội nhập với kế toán quốc tế. Với xu hướng đó, KTQT đã được các nhà nghiên cứu chú trọng hơn, đã được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học kinh tế và trong Luật Kế toán (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2004) KTQT đã chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý: "Kế toán ở đơn vị kế toán gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị" - Điều 10 [3, tr. 14] và: "Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" - Điều 4, khoản 3 [3, tr. 9]. Từ việc xem xét quá trình hình thành KTQT và những quan điểm về KTQT, có thể rút ra bản chất của KTQT như sau: Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Với bản chất đó có thể xác định KTQT trong các DN bao gồm các nội dung cơ bản sau: - KTQT các yếu tố đầu vào bao gồm: KTQT vật tư, hàng hóa; KTQT íTCĐ; KTQT lao động - tiền lương. - KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. - KTQT doanh thu - kết quả và phân phối kết quả. - KTQT các hoạt động khác. (Bốn nội dung này được thực hiện theo quy trình KTQT như đã trình bày ở sơ đồ 1.3). - Lập và phân tích báo cáo KTQT, cung cấp các thông tin phục vụ cho lập kế hoạch, dự toán chi phí, doanh thu... theo yêu cầu của nhà quản trị DN.
  19. Để nghiên cứu những nội dung trên, KTQT đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán và các phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ khác. * Phương pháp chứng từ kế toán: Mục đích của phương pháp này thu thập thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị để có được những dữ liệu thông tin cần thiết cho quản trị DN. Hình thức biểu hiện của phương pháp này là các bản chứng từ kế toán và chương trình luân chuyển chứng từ kế toán. Khi sử dụng phương pháp chứng từ kế toán để thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, KTQT ngoài việc sử dụng các chứng từ bắt buộc (trong trường hợp Nhà nước quy định chứng từ bắt buộc), còn sử dụng rộng rãi hệ thống chứng từ hướng dẫn phản ánh các nghiệp vụ kinh tế trong nội bộ doanh DN. Các chứng từ này do KTQT của DN vận dụng trên cơ sở hướng dẫn của Nhà nước hoặc tự thiết kế theo yêu cầu quản lý cụ thể ở DN mình. Việc thu thập, kiểm tra, xử lý và luân chuyển chứng từ cũng được xác lập theo cách riêng, nhằm đảm bảo cung cấp các thông tin cụ thể, nhanh chóng và thích hợp cho việc ra quyết định của quản trị * Phương pháp tài khoản kế toán: Mục đích của phương pháp này là phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế để có được những thông tin mang tính thường xuyên, liên tục và có hệ thống phục vụ cho việc lập các báo cáo KTQT. Hình thức biểu hiện của phương pháp này là các tài khoản kế toán và cách ghi chép trên tài khoản kế toán. Để hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phục vụ cho quản trị DN, KTQT phải mở các tài khoản phục vụ yêu cầu quản trị đối với từng chỉ tiêu cụ thể. Việc xây dựng hệ thống tài khoản phục cho KTQT phải dựa theo yêu cầu cụ thể của nhà quản trị. Do đó, hệ thống tài khoản kế toán phục vụ cho KTQT không giống nhau giữa các DN mà phụ thuộc vào những đặc điểm cơ bản sau: - Phụ thuộc vào phạm vi, quy mô SXKD, loại hình DN.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2