intTypePromotion=3

Luận văn tốt nghiệp: Những vấn đề lý luận về gia đình trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam

Chia sẻ: Nguyễn Doãn Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:125

0
283
lượt xem
71
download

Luận văn tốt nghiệp: Những vấn đề lý luận về gia đình trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp "Những vấn đề lý luận về gia đình trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam" có kết cấu nội dung gồm 3 chương: Chương 1 một số lý luận chung về gia đình, chương 2 nội dung điều chỉnh về gia đình theo luật hôn nhân gia đình năm 2014, chương 3 thực tiễn thực hiện các quy định về gia đình trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam và một số kiến nghị. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Những vấn đề lý luận về gia đình trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam

  1. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng Luận văn này là   công trình nghiên cứu hoàn toàn của tôi dưới   sự  hộ  trợ  của giáo viên hướng dẫn. Các nội   dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là   trung thực và chưa từng được ai công bố trong   bất cứ công trình nào. Tôi hoàn toàn chịu trách   nhiệm về Luận văn này nếu có sự tranh chấp.                                                              TÁC GIẢ LUẬN VĂN                                                                 Nguyễn Văn Duy
  2. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................................1 MỤC LỤC...............................................................................................................................2 MỞ ĐẦU.................................................................................................................................1 CHƯƠNG 1............................................................................................................................6 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH.............................................................6 1.1. KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH.................................................................................................6 1.1.1. Gia đình theo quan điểm triết học........................................................................6 1.1.2. Gia đình theo quan điểm xã hội học ...................................................................8 1.1.3. Gia đình theo quan điểm luật học......................................................................11 1.2. VAI TRÒ VÀ CÁC CHỨNG NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI HIỆN NAY............................................................................................17 1.3. NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIA ĐÌNH TRONG CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ......................................................................20 1.3.1. Đạo đức..............................................................................................................20 1.3.2. Yếu tố văn hóa, phong tục tập quán..................................................................22 1.3.3. Yếu tố kinh tế - xã hội – khoa học kỹ thuật........................................................23 1.3.4. Yếu tố tôn giáo...................................................................................................24 1.4. KHÁI QUÁT SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT HN&GĐ VỀ GIA ĐÌNH QUA CÁC THỜI KỲ...........................................................................................................................25 1.4.1. Gia đình theo quy định của pháp luật phong kiến Việt Nam ............................25 1.4.2. Gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc.................29 1.4.3. Gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay.................................................................................................................................30 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH VỀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HN&GĐ NĂM 2014..36 2.1. QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG.............................................................................36 2.1.1. Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng...............................................................37
  3. 2.1.2. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng.....................................................................48 Đối với loại tài sản này, luật đã quy định rất rõ những loại tài sản là tài sản chung như sau: Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng .................................................................49 - Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Nghĩa là vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung. Điều này cũng thể hiện rất rõ trong Điều 29 luật hôn nhân gia đình 2014. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng.....................................................51 2.1.3. Chấm dứt hôn nhân ..........................................................................................71 Điều 67. Quan hệ nhân thân, tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về 82 2.2. QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON..........................................................................82 2.2.1. Việc xác định cha, mẹ, con ...............................................................................82 Đối với trường hợp sinh con tự nhiên, người sinh con ra đương nhiên được coi là người mẹ của đứa con, còn đối với việc xác định người cha thì trong trường hợp sinh con trong giá thú thì con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Điều này có thể hiểu rằng cho dù con có được thành thai trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng thì bằng phương pháp suy đoán, người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ. Ngoài ra, trong thực tế người vợ có thể mang thai nhiều hơn 280 ngày nên pháp luật cũng có quy định Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 88 Luật hôn nhân gia đình 2014. Như trên đã trình bày thì thời điểm chấm dứt hôn nhân ở đây được hiểu là thời điểm bản án, quyết định của Tòa án về việc ly hôn của vợ chồng có hiệu lực hoặc kể từ thời điểm người cha chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà không phải là thời điểm hai bên không chung sống với nhau. Trên thực tế có nhiều trường hợp hai vợ chồng ly thân một thời gian dài trước khi bản án, quyết định ly hôn chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên trong khoảng thời gian trong vòng 300 ngày sau khi hôn nhân chấm dứt thì người vợ sinh con thì theo quy định trên người chồng vẫn được coi là cha của đứa bé do người vợ sinh ra. Đối với trường hợp sinh con ngoài giá thú thì Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp người cha không nhận con thì nó là con riêng của vợ và sau này, người con có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó là cha mình khi chứng minh được. Và khi người cha không nhận con thì phải có chứng cứ chứng minh được người con đó không phải là con của mình mà là con của một người khác.............................................................................................................84 2.2.2. Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con...........................................................91 Nghĩa vụ và quyền của con. .......................................................................................94
  4. Kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình 1986, luật hôn nhân và gia đình năm 2000, luật hôn nhân gia đình 2014 quy định: Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con..........................................................................................94 2.3. QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN KHÁC TRONG GIA ĐÌNH.............................97 2.3.1. Quan hệ giữa anh, chị, em với nhau..................................................................97 Ngoài ra, anh chị em còn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau theo quy định tại điều 112 luật hôn nhân gia đình. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em.................................98 2.3.2. Mối quan hệ giữa ông bà và cháu......................................................................99 2.3.3. Quan hệ giữa cô, dì, chú, bác, cậu ruột và cháu ruột.....................................101 CHƯƠNG 3........................................................................................................................103 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIA ĐÌNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM 2014 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ..............................................................103 3.1. THỨC TIỄN THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIA ĐÌNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM 2014.............................................................103 3.2. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH ........................................................................................................................................107 “Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng .........113 KẾT LUẬN..........................................................................................................................115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................118
  5. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Lời nói đầu của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thể hiện tầm   quan trọng của gia đình: “Gia đình là tế  bào của xã hội, là cái nôi nuôi   dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân   cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì   xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”. Gia  đình là  đối  tượng  nghiên cứu  của nhiều ngành khoa học. Mỗi  ngành khoa học có cách nhìn khác nhau, nghiên cứu về gia đình với những  mục tiêu khác nhau. Nói đến gia đình là nói đến các thành viên gia đình   cùng chung sống, đùm bọc và giúp đỡ  nhau. Dưới góc độ  pháp lý, nghiên   cứu  về   gia  đình  nhằm  xác  định thành  viên gia   đình, mối quan  hệ   giữa  những thành viên gia đình để từ đó quy định nghĩa vụ và quyền tương ứng   đối với mỗi thành viên. Trải qua các thời kỳ khác nhau thành viên gia đình   cũng có sự  thay đổi nhất định. Tuy nhiên, xác định quan hệ  gia đình vẫn  dựa trên các mối quan hệ  chính là quan hệ hôn nhân, quan hệ  huyết thống   và quan hệ nuôi dưỡng. Theo pháp luật hiện hành, quan hệ  gia đình được hiểu theo nghĩa rất hẹp.  Chẳng hạn, quan hệ hôn nhân chỉ được hiểu là quan hệ giữa người nam và  người nữ  có đăng ký kết hôn. Quan hệ  huyết thống dường như  cũng chỉ  được hiểu là quan hệ giữa những người có cùng huyết thống về trực hệ và  những người có họ  trong phạm vi ba đời. Trong quan hệ  nuôi dưỡng cũng   chỉ có quan hệ giữa cha mẹ và các con của người nhận nuôi với người con   nuôi. Các thuật ngữ mà trong đời sống hàng ngày người Việt Nam vẫn sử  dụng như quan hệ họ hàng, thân thích, thân thuộc. 1
  6. Trước thực tiễn đó đòi hỏi phải nghiên cứu để làm sáng tỏ về gia đình phải  có sự nghiên cứu và tìm hiểu về, để từ đó xây dựng những quy phạm pháp   luật điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình, sao cho các hành vi của các   thành viên gia đình phải đúng chuẩn mực đạo đức xã hội. Nghiên cứu đề  tài “Gia đình trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam” để phục vụ  cho mục   đích đó. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay đã có nhiều học giả  nghiên cứu về  gia đình, không chỉ  có   riêng ngành luật mà nhiều ngành khoa học khác cũng tham gia vào vấn đề  này. Trong lĩnh vực pháp luật, chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình đã  có nhiều bài viết về  các khía cạnh của gia đình như: Quan hệ  nhân thân  giữa vợ chồng; quan hệ cha mẹ con, … Một số đề tài hiện đã đề  cập đến   thành viên gia đình như:  Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình   Việt Nam  , Tập I – Gia đình , NXB Trẻ  TP.HCM của TS.Nguyễn Ngọc   Điện (2002); Việt Nam dân luật lược giảng – Luật gia đình. Quyển tập 1,  tập 1 của Vũ Văn Mẫu (1973); ... Tuy nhiên, những tác phẩm này còn phân   tích một cách rời rạc và chưa tạo ra cách nhìn có hệ thống về gia đình  Đây là công trình nghiên cứu về  gia đình một cách có hệ  thống và hoàn  chỉnh, có sự  so sánh đối chiếu với một số ngành khoa học khác, có sự  kết  hợp giữa lý luận và thực tiễn để  đưa ra được sự  điều chỉnh của pháp luật   về  gia đình một cách phù hợp nhất. Công trình là cái nhìn xuyên suốt các   quy phạm pháp luật quy định về  thành viên gia đình trong hệ  thống pháp  luật Việt Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục đích của đề tài là nghiên cứu vấn đề lý luận chung về gia đình, cơ  sở  để  phát sinh, hình thành gia đình, mối quan hệ, quyền và nghĩa vụ  của  2
  7. các thành viên gia đình theo quy định của pháp luật. Đồng thời nghiên cứu  thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên gia  đình, từ đó làm rõ những điểm đã đạt được, vướng mắc hạn chế cần hoàn   thiện Nhiệm vụ  nghiên cứu của đề  tài là làm rõ những vấn đề  lý luận gia   đình từ  nhiều góc  độ  khác nhau,  đặc biệt là từ  góc  độ  luật HN&GĐ .  Nghiên cứu về  các mối quan hệ  tạo thành gia đình theo luật HNGĐ Việt  Nam năm 2014, trên cơ  sở  phân tích, so sánh với các quy định điều chỉnh  quan hệ  gia đình trong các văn bản pháp luật trước đây. Đồng thời nghiên   cứu thực tiễn áp dụng các quy định điều chỉnh về gia đình trong cuộc sống  hiện tại. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu về những vấn đề  lý luận về gia đình theo quan điểm  luật học mà chủ  yếu là luật HNGĐ. Những quy định của pháp luật điều  chỉnh về  gia đình và các mối quan hệ  giữa các thành viên trong gia đình.  Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về gia đình 4.2. Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi của luận văn, vấn đề  gia đình được xem xét, nghiên cứu  theo Luật HN&GĐ năm 2014  theo 3 mối quan hệ cơ bản tạo thành gia đình   là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con và quan hệ giữa  các thành viên khác trong gia đình. Trong quá trình nghiên cứu có sự so sánh,   đối chiếu với các quy định điều chỉnh về gia đình trong hệ thống pháp luật  HNGĐ Việt Nam. Trên cơ sở đó đánh giá về  hiệu quả điều chỉnh, việc áp   dụng các quy định hiện hành về  gia đình để  phát hiện những điểm vướng  mắc, bất cập và đưa ra các đề xuất, kiến nghị. 3
  8. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử  dụng một số  phương pháp cụ  thể  như: Phương pháp phân  tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, hệ  thống, diễn giải, quy nạp ..để  thực  hiện các mục tiêu đã đặt ra 6. Tính mới và đóng góp của luận văn ­ Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tương đối  toàn diện, có hệ  thống về sự điều chỉnh của pháp luật về gia đình  từ góc độ lý luận và thực   tiến theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. ­ Luận văn đã: phân tích khái quát trên cơ  sở  khoa học để  xây dựng khái  niệm gia đình và thành viên gia đình, cũng như khắc họa được những chức   năng cơ bản của gia đình trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, để từ đó   làm rõ cơ sở xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ  trong gia đình hiện nay một cách hiệu quả.. ­   Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh gia đình về  tính khả thi, hiệu quả điều chỉnh cũng như những vướng mắc, bất cập còn  tồn tại cần khắc phục, sửa đổi 7. Kết cấu của Luận văn  Ngoài phần Mở  đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội   dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1. Một số lý luận chung về gia đình Chương 2. Nội dung điều chỉnh về gia đình theo luật hôn nhân gia đình   năm 2014 Chương 3. Thực tiễn thực hiện các quy định về  gia đình trong luật hôn   nhân gia đình Việt Nam và một số kiến nghị 4
  9. 5
  10. CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH 1.1. KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH 1.1.1. Gia đình theo quan điểm triết học Triết học nghiên cứu gia đình trong quá trình phát triển của lịch sử  và  các hình thái kinh tế  ­ xã hội. Theo quan điểm triết học, hôn nhân và gia   đình không ngừng vận động và phát triển. Theo C.Mac – Ph.Anghen thì có  ba hình thức hôn nhân chính tương ứng với ba giai đoạn phát triển của nhân   loại: Ở thời đại mông muội có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man có chế  độ hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh có chế độ  một vợ một chồng [2   tr55­129]. Gia đình là một phạm trù lịch sử, các hình thái và chức năng của gia  đình là do tính chất của quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội cũng như trình độ  phát triển văn hóa của xã hội quyết định. Trong lịch sử đã trải qua bốn hình  thái gia đình, đó là gia đình huyết tộc, gia đình pu­na­lu­an, gia đình cặp đôi,  gia đình một vợ một chồng. Gia đình huyết tộc là hình thái gia đình đầu tiên trong lịch sử. Lúc này  các tập đoàn hôn nhân đều phân theo thế hệ: Trong phạm vi gia đình, tất cả  ông và bà đều là vợ  chồng với nhau; các con của ông bà tức là các người   cha và các bà mẹ  cũng là vợ  chồng với nhau; đến lượt con cái của những   người này tức là cháu của ông bà cũng hợp thành một nhóm vợ chồng thứ  ba; đến lượt con cái của những người con  ấy là chắt của ông bà nói đầu  tiên lại hợp thành nhóm vợ chồng thứ tư. Như vậy, những người cùng thế  6
  11. hệ  là vợ  chồng của nhau, những người khác thế  hệ  không có quyền và  không có nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Gia đình pu­na­lu­an:  Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất  định, một hay nhiều nhóm chị  em gái trở  thành hạt nhân của một cộng   đồng, còn những anh em trai cùng mẹ  của họ  lại trở  thành hạt nhân của   một cộng đồng khác. Bằng cách này mà từ  hình thái gia đình huyết tộc đã  xuất hiện hình thái gia đình pu­na­lu­na. Theo hình thái gia đình pu­na­lu­an,   một số chị  em gái cùng mẹ  hay xa hơn đều là vợ  chung của những người   chồng chung, trừ những anh em trai của những người này. Khi các anh em   trai cùng có vợ  chung thì họ  trở  thành chồng chung. Lúc đó, những người   này không cần coi nhau là anh em mà gọi nhau là “người bạn đường” hay  “người cùng hội cùng thuyền”. Một cách tương tự, một số anh em trai cùng  mẹ hoặc xa hơn, đều lấy chung một số vợ không phải là chị em gái của họ  và những người vợ ấy đều gọi nhau là pu­na­lu­a. Đây là hình thức cổ điển   của một kết cấu gia đình có đặc trưng là: Chung chồng, chung vợ với nhau   trong phạm vi một gia đình nhất định, nhưng phải loại trừ  những anh em   trai của các người vợ, đồng thời cũng loại trừ những chị em gái của những   người chồng. Gia đình cặp đôi: Một loại hình thức kết hôn từng cặp, lúc bấy giờ,   trong số  những người vợ  của mình, người đàn ông có một vợ  chính, và  trong số  nhiều người chồng khác, anh ta là người chồng chính của người  đàn bà ấy. Do thị tộc ngày càng phát triển và những nhóm “anh em trai” và  “chị  em gái” không còn có thể  lấy nhau được nữa ngày càng nhiều, càng  mở rộng và phát triển hơn nữa thì tất cả những người bà con họ hàng cùng  dòng máu đều không được lấy nhau. Trong tình trạng cấm kết hôn ngày  càng phức tạp thì chế  độ  quần hôn ngày càng không thể  thực hiện được,  7
  12. chế độ ấy đang bị gia đình cặp đôi ngày càng lấn át và thay thế. Một người   đàn ông sống với một người đàn bà với một sự  gắn bó với nhau rất lỏng  lẻo, mối liên hệ  vợ  chồng vẫn có thể  bị  bên này hay bên kia cắt đứt một  cách dễ dàng và con cái lúc này cũng chỉ thuộc về người mẹ. Gia đình một vợ  một chồng: Gia đình một vợ  một chồng nảy sinh từ  gia đình cặp đôi, nó đánh dấu cho buổi ban đầu của thời đại văn minh. Gia  đình  ấy dựa trên sự  thống trị  của người chồng, nhằm chủ đích là làm cho   con cái sinh ra phải có cha đẻ rõ ràng không ai tranh cãi được và sự rõ ràng   về  dòng dõi đó là cần thiết, vì những đứa con đó sau này sẽ  được thừa  hưởng tài sản của người cha với tư  cách là người kế  thừa trực tiếp. Gia   đình một vợ  một chồng khác với gia đình cặp đôi  ở  chỗ  là quan hệ  vợ  chồng chặt chẽ  hơn nhiều, hai bên không còn có thể  tùy ý bỏ  nhau được  nữa. Qua bốn hình thái gia đình trên ta thấy triết học không nghiên cứu gia  đình cụ thể ở từng giai đoạn mà nghiên cứu sự vận động và phát triển của  nó theo các hình thái kinh tế ­ xã hội. Các hình thái gia đình cũng vận động   và phát triển theo quy luật của sự  vận động phát triển của các hình thái  kinh tế ­ xã hội. 1.1.2. Gia đình theo quan điểm xã hội học  Rất nhiều ngành cùng tham gia nghiên cứu về gia đình cố gắng đưa ra  khái niệm về gia đình như các nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học, văn  hóa… nhưng chưa có ngành nào nghiên cứu về gia đình nhiều như ngành xã  hội học. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về gia   đình. Tùy vào từng lĩnh vực nghiên cứu mà mỗi nhà khoa học lại có một   khái niệm gia đình riêng phù hợp với lĩnh vực mà mình nghiên cứu. Có thể  8
  13. nói, chưa có ngành nào lại đưa ra nhiều khái niệm gia đình như  ngành xã  hội học. Trong Tập bài giảng Xã hội học của Trường Đại học luật Hà nội,  nhóm tác giả đã nêu hai khái niệm về gia đình để  phục vụ  cho việc giảng  dạy: Gia đình là một thiết chế  xã hội, trong đó những người có quan hệ   ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống). Gia đình là một phạm trù biến   đổi mang tính lịch sử  và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại. Gia   đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội   [8 tr335]. Gia đình – đơn vị  xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ  chức xã   hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan   hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em   và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung [8 tr335]. Môn Xã hội học được giảng dạy  ở  trường Đại học luật là môn học  nhằm mục đích giúp người học hiểu biết hơn về xã hội nhằm nhanh chóng  tiếp cận hiểu biết pháp luật. Thực hiện ba chức năng cơ bản là chức năng   nhận thức, chức năng thực tiễn và chức năng tư tưởng. Khái niệm gia đình  được nhóm tập thể đưa ra cũng không nằm ngoài ba chức năng trên. Do đó,  hai khái niệm trên của tập thể  tác giả  đã chưa phản ánh một cách đầy đủ  về gia đình. Ngoài hai khái niệm trên thì còn có những khái niệm khác nhau   của các tác giả xã hội học khác khi nghiên cứu về gia đình. Trong cuốn “Gia đình trong bối cảnh đổi mới”, gia đình được định  nghĩa như  sau: Gia đình là một nhóm người có quan hệ  với nhau bởi hôn   nhân, huyết thống, hoặc quan hệ  nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua   quan hệ  hôn nhân, cùng chung sống, có chung ngân sách  [31 tr114]. Do  9
  14. trong thực tiễn tồn tại nhiều loại mô hình gia đình nên việc nghiên cứu gia   đình và giới trong thời kỳ đổi mới nhằm thực hiện quản lý xã hội của các   nhà quản lý cũng chỉ nghiên cứu những gia đình mang tính chất tiêu chuẩn.   Do vậy, khái niệm nêu trên cũng chưa thực sự đầy đủ và bao quát hết mọi  gia đình trong xã hội. Khi nghiên cứu xã hội học về “Một số lĩnh vực nghiên cứu của xã hội  học”, nhóm tác giả  đã đưa ra khái niệm về  gia đình cho lĩnh vực mình  nghiên cứu như sau. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù,một nhóm xã   hội nhỏ  mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ  hôn   nhân, quan hệ  huyết thống hoặc quan hệ con nuôi,bởi tính cộng đồng về   sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp  ứng những nhu cầu   riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về   tái sản xuất con người  [35 tr310].  Khái niệm do tác giả  đưa cũng chưa  phản ánh đầy đủ về gia đình bởi hình thức gia đình rất đa dạng. Khái niệm  này khá tương đồng với quy định tại khoản 10 Điều 8 Luật Hôn nhân và   gia đình năm 2000. Mặc dù chưa có một khái niệm chung về  gia đình nhưng các nhà xã  hội học đều ghi nhận gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, trong đó các thành   viên có quan hệ  quan hệ  hôn nhân, quan hệ  huyết thống hay quan hệ nuôi  dưỡng, cùng chung sống. Bởi tính đa dạng của gia đình mà làm cho bất cứ  một khái niệm nào về  gia đình cũng trở  nên lỏng lẻo, điều này đã tạo nên  nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học, nó đã và đang thách thức các nhà   khoa học xã hội học đưa ra một định nghĩa đầy đủ về khái niệm gia đình.  Xã hội học coi gia đình là một thể  chế  xã hội luôn vận động và phát  triển. Vì gia đình là một thể  chế  nên mỗi con người từ  khi sinh ra đã đặt  vào những quan hệ nhất định. Gia đình là một cơ  thể sống, nằm trong quá  10
  15. trình phát triển không ngừng, gắn với sự  phát triển chung của xã hội. Khi   xã hội phát triển, sự phân chia lao động càng được đẩy mạnh, gắn liền với   quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa sẽ  dẫn đến sự  xé nhỏ  gia đình, từ  gia đình lớn trong đó có nhiều thế  hệ  chuyển sang gia đình nhỏ  chỉ  có bố  mẹ  và con cái. Sự  phát triển từ gia đình gia trưởng sang gia đình hạt nhân  trở thành một quá trình có tính quy luật. Nhìn chung thì các nhà xã hội học vẫn nhìn nhận gia đình là một thiết  chế xã hội gồm những người dựa trên ba mối quan hệ truyền thống là quan  hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ  nuôi dưỡng mà chưa có nhà  xã hội học nào mở rộng ba mối quan hệ trên khi nghiên cứu về gia đình.  1.1.3. Gia đình theo quan điểm luật học 1.1.3.1. Gia đình theo luật La Mã  Nhà nước La Mã rộng lớn ra đời, phát triển và tồn tại trong một thời   kỳ dài của lịch sử. Sự xuất hiện gia đình La Mã là một hiện tượng xã hội   tự  nhiên mà theo đó Nhà nước luôn có những quy định nhằm điều chỉnh  quan hệ  hôn nhân và gia đình theo từng thời kỳ  phát triển của lịch sử. Do   trải qua nhiều thời kỳ khác nhau nên những quy định trong các thời kỳ cũng   có nhiều sự khác nhau. Qua nghiên cứu của nhiều học giả, gia đình La Mã là loại hình gia đình  phụ  hệ  với quyền lực của người chủ  Pater familias. Đó là sự  thống nhất   giữa vợ, con cái, họ hàng, kẻ làm thuê và nô lệ dưới sự điều khiển của gia  chủ. Pater familias – chủ  hộ theo chế độ  hôn nhân và gia đình La Mã – là   thể nhân có toàn quyền (manus) duy nhất trong gia đình. Pater familias tập   trung trong tay mọi quyền lực và quyết định tất cả  mọi vấn đề  liên quan   đến mọi thành viên gia đình. Chủ  gia – Pater familias trong gia đình La Mã  là công dân đầy đủ  quyền hạn. Thuật ngữ  familia lúc đầu được dùng để  11
  16. chỉ nô lệ trong thành phần kinh tế gia đình, sau đó được dùng để gọi tất cả  những gì thuộc về  kinh tế  gia đình: Tài sản và lực lượng lao động, lực   lượng lao động trong gia đình La Mã bao gồm vợ, con, họ hàng, nô lệ, kẻ  làm thuê.  Chế  độ  gia đình La Mã cổ  xưa cũng như  chế độ  quyền sở  hữu lúc đó  còn mang dấu ấn của một hình thái đầu tiên, tiền nhà nước – chế độ  công  xã nguyên thủy mà đặc điểm cơ  bản là sở  hữu chung về  phương tiện sản   xuất và sản phẩm lao động. Cùng với sự xuất hiện của nhà nước đã xảy ra   sự phân hóa tài sản trong thị tộc: Quyền lực dần dần rơi vào tay những gia  đình giàu có mà đứng đầu những gia đình này là các gia chủ đầy quyền lực.   Lúc đầu gia chủ có quyền lực như nhau (manus) đối với vợ, con, nô lệ, đồ  vật. Sau đó quyền lực nói trên được tách riêng thành quyền lực đối với vợ  (manus mariti) và quyền đối với con cái (manus patria potertas). Gia đình  đối ngẫu với sự phụ thuộc vào một gia chủ  đã là sự  biểu hiện rõ nhất về  quyền lực gia chủ Pater familias. Trong trường hợp con gái đã đi lấy chồng   thì không còn quan hệ với gia đình đối ngẫu nữa. Vào thời cổ xưa quyền lực của gia chủ là vô hạn. Tuy nhiên, dần dần  quyền  lực   đó   cũng   bắt   đầu   có   những   giới   hạn   nhất  định,  manus   Pater   familias – nội dung quyền lực của chủ  hộ  qua từng thời k ỳ  t ồn t ại phát  triển của nhà nước La Mã cũng thay đổi. Tư  cách của những người phụ  thuộc vào gia chủ  đã được công nhận trong luật dân sự, những thành viên   gia đình về sau đã có quyền tư pháp. Sự suy yếu quyền lực của gia chủ là  hậu quả  của những biến đổi các quan hệ  sản xuất của sự  tan rã gia đình  phụ hệ, sự phát triển thương mại và tiếp theo là sự khẳng định vai trò của   những thành viên lớn tuổi trong gia đình, những người này đã có sự độc lập  tương đối. Quan hệ họ hàng dần dần đã thay thế cho các quan hệ đối ngẫu.  12
  17. Như vậy, hình thái gia đình La Mã là hình thái chuyển tiếp của chế độ  gia   đình phụ hệ với đặc thù quyền lực tập trung trong tay chủ hộ.  Với các đặc trưng của thời kỳ  bấy giờ  nên khái niệm gia đình trong  thời kỳ La Mã theo các tư liệu lịch sử cổ đại là sự  liên minh, liên kết giữa   chồng, vợ, con, những người thân thuộc ruột thịt và cả  nô lệ  dưới quyền   của chủ hộ [6 tr39]. Từ  khái niệm trên của gia đình La Mã cho ta thấy trong gia đình của  người La Mã có các thành viên: Chủ  hộ, vợ, con cái, họ  hàng, nô lệ  và   người làm thuê. Trong đó chủ  hộ  (pater familias) là người có quyền lực  tuyệt đối, những thành viên khác trong gia đình như  vợ, con cái, những   người thân thuộc ruột thịt và nô lệ được coi là lực lượng lao động trong gia  đình. 1.1.3.2. Gia đình theo pháp luật Việt Nam Luật học nhìn nhận gia đình là sự liên kết của nhiều người có quan hệ  với nhau do có quan hệ  hôn nhân, quan hệ  huyết thống hoặc quan hệ nuôi  dưỡng.  Hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng, là tiền đề để xây dựng gia   đình. Khoản 6 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 giải thích:  “Hôn nhân là quan hệ  giữa vợ  và chồng sau khi kết hôn”. Quan hệ  hôn  nhân giữa hai bên nam, nữ được xác lập khi tuân thủ các quy định của pháp  luật hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và phải được đăng ký tại cơ  quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Như vậy, khi một người nam và một   người nữ kết hôn với nhau thì giữa hai người này tồn tại quan hệ hôn nhân   và hai người trở thành những thành viên của gia đình.  Quan hệ  huyết thống là quan hệ  giữa cha mẹ  và con; ông bà và cháu;   cụ  và chắt; cô, dì, chú, bác, cậu và cháu;  anh chị em với nhau… phát sinh  13
  18. do sự  kiện sinh đẻ. Cụ  là người sinh ra ông bà và các anh em của ông bà,   thế hệ ông bà là thế hệ tiếp theo của cụ; ông bà là người sinh ra cha mẹ và   các anh em của cha mẹ như cô dì chú bác cậu, thế hệ này lại là thế hệ tiếp   theo của ông bà; đến lượt cha mẹ là người sinh ra các con, các con trở thành  thế hệ tiếp theo của cha mẹ. Do giữa những người này có những sự kiện là  sinh đẻ để tạo ra thế hệ tương lai hoặc cùng được sinh ra từ một gốc, nên  giữa họ có quan hệ huyết thống với nhau.  Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ phát sinh do sự kiện nuôi con nuôi. Do  việc nhận nuôi con nuôi, người nhận con nuôi được gọi là cha mẹ nuôi và  người được nhận làm con nuôi được gọi là con nuôi. Người con nuôi trở  thành thành viên gia đình của người nuôi, bình đẳng với những người con   đẻ của người nuôi. Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi quy định: “ Kể từ  ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ  nuôi và con nuôi có đầy đủ  các   quyền, nghĩa vụ  của cha mẹ  và con; giữa con nuôi và các thành viên khác   của gia đình cha mẹ  nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ  đối với nhau theo   quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình, pháp luật dân sự  và các quy   định khác của pháp luật có liên quan”. Theo quy định trên người con nuôi có  đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật   hôn nhân và gia đình. Người con nuôi sẽ bình đẳng với mọi người con khác  trong gia đình về quyền và nghĩa vụ. Những người này có quan hệ với nhau  do cùng quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ  lẫn nhau về  vật chất và tinh thần,  cùng nhau xây dựng kinh tế gia đình và cũng cùng nhau vun đắp phát triển  khối tài sản chung của gia đình. Trong trường hợp, nếu một trong số những   người này có khối tài sản riêng thì người đó phải đóng góp tài sản để  duy  trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả  năng thực tiễn của mình.  Những thành viên gia đình là những người tích cực trong việc giúp đỡ nhau  14
  19. về  mặt tinh thần, là chỗ  dựa tinh thần của nhau, là nơi động viên, an  ủi  những thành viên khác tốt nhất khi gặp khó khăn, thất bại trong cuộc sống.  Đồng thời, gia đình cũng là nơi để  các thành viên gia đình chia sẻ  thành  công của nhau một cách chân tình nhất. Các thành viên gia đình có quyền và  nghĩa vụ tương ứng với nhau, nghĩa vụ của người này là quyền của người  kia và ngược lại. Không phải gia đình nào cũng có đầy đủ  các mối quan hệ  nêu trên,  trong từng trường hợp cụ thể, gia đình có thể chỉ có một mối quan hệ như  chỉ  có quan hệ  hôn nhân hoặc chỉ  có quan hệ  nuôi dưỡng, cũng có thể  có  hai, ba hoặc có nhiều mối quan hệ. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình  năm 1986 không giải thích về gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000   tại khoản 10 Điều 8 đã giải thích: “Gia đình là tập hợp những người gắn   bó  với   nhau  do  hôn  nhân,  quan  hệ   huyết  thống  hoặc   do  quan  hệ   nuôi   dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định   của Luật này”. Theo Từ điển luật học thì gia đình là: “Tập hợp những người gắn bó   với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng   làm phát sinh các nghĩa vụ  và quyền giữa họ  với nhau theo quy định của   luật Hôn nhân và gia đình.Gia đình Việt nam thường bao gồm nhiều thế hệ   cùng chung sống như: ông bà, cha mẹ, con cháu… Họ quan tâm, chăm sóc,   giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, sinh đẻ hay nuôi dạy thế hệ trẻ   dưới sự  giúp đỡ  của Nhà nước và xã hội. Nhà nước khuyến khích và tạo   điều kiện để  các thế  hệ  trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ  lẫn nhau nhằm   giữ  gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt nam. Gia đình   có các chức năng cơ bản: 1) chức năng sinh đẻ; 2) chức năng giáo dục; 3)   15
  20. chức năng kinh tế. Bên cạnh chức năng cơ bản đó, gia đình còn phải thực   hiện chức năng quan tâm và chăm sóc người cao tuổi ” [1 tr282]. Giải thích  trên về gia đình tương đồng với khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình  năm 2014. Từ điển đã giải thích ngắn gọn về  gia đình Việt Nam trong đó  có các thành viên của nhiều thế hệ chung sống, chăm sóc và giúp đỡ  nhau,  cùng với đó là nêu lên chức năng cơ bản của gia đình. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Trường Đại học luật Hà Nội   đã đưa khái niệm về gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình như sau: “Gia  đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự  liên kết của nhiều   người dựa trên cơ  sở  hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và   nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất   và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế  hệ  trẻ dưới sự  giúp đỡ  của   Nhà nước và xã hội”. Khái niệm gia đình trên theo Luật Hôn nhân và gia  đình, mục đích để  giảng dạy môn Luật Hôn nhân và gia đình do đó khái  niệm gia đình này phù hợp với quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Như  vậy các  khái  niệm gia  đình trên  đều chưa  bao quát  được  các  trường hợp trong thực tiễn khi nghiên cứu về  thành viên gia đình. Trong  thực tiễn, gia đình không chỉ  có ba mối quan hệ  hôn nhân, huyết thống và  nuôi dưỡng mà còn có những mối quan hệ khác phát sinh từ ba mối quan hệ  trên. Để  phục vụ  cho việc nghiên cứu đề  tài, em mạnh dạn đưa ra khái   niệm gia đình của mình: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan   hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng hay những người không có ba   mối quan hệ  trên nhưng từ  ba mối quan hệ  đó mà cùng sống chung với   nhau, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa những người này với nhau   theo quy định của pháp luật. 16

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản