intTypePromotion=1

Luận văn: Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Chia sẻ: Thao Thao | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:36

0
176
lượt xem
36
download

Luận văn: Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đứng trước thực trạng này Đảng ta đã quyết định xóa bỏ cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp, và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lược lượng sản xuất ở nước ta hiện nay để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa , nhanh chóng đi lên chủ nghĩa cộng sản. Chính vì những lý do trên mà em quyết định chọn đề tài: “Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

  1. Luận văn Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
  2. A- ĐẶT VẤN ĐỀ I- Lý do chọn đề tài Sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta được bắt đầ u từ cuối năm 1960. Đạ i hội đạ i biểu toàn quốc lần thứ III( 9- 1960) c ủa Đả ng lao động Việt Nam đã quyết nghị “ Nhiệ m vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở miền Bắc nước ta là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, mà mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”. Sự nghiệp đó đế n nay vẫn còn tiếp tục. Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh và điều kiện: - Trong suốt thời gian tiến hành công nghiệp hóa, tình hình trong nước và quốc tế luôn diễn biến rất sôi động, phức tạp và không thuận chiều. Bắt đầ u công nghiệp hóa được bốn năm thì đế quốc M ỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đất nước phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừa chiế n đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng; miền Nam thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc. Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội được và i năm thì kẻ thù gây ra chiến tranh biên giới. Chiến tranh biên giới kết thúc lại kéo theo cấm vận c ủa Mỹ. - Nếu những năm 60, hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh, phát triển nhanh không thua kém nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, có uy tín trên thế giới đã tạo ra hoàn cảnh quốc tế thuận lợi cho công nghiệp hóa ở nước ta, thì sang những năm 70, 80 hoàn cảnh quốc tế lại gây bất lợi cho quá trình công nghiệp hóa ở nước ta. Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa của thế giới( 1973) các nước xã hội chủ nghĩa do chuyển dịch cơ cấu và đổi mới công nghệ chậm hơn so với các nước tư bản chủ nghĩa, hiệu quả thấp, uy tín trên thị trườ ng quốc tế giảm, cộng các sai lầm khác đã dẫn đế n sự s ụp đổ c ủa Liên Xô và các nước Đông Âu, là m mất đi thị trườ ng lớn và s ự giúp đỡ không nhỏ từ các nước này( ước tính 1 năm 1 tỷ đô la, chiế m 7% GDP ). 1
  3. Công nghiệp hóa ở nước ta xuất phát từ điểm rất thấp về phát triển kinh tế- xã hội, về phát triển lực lượ ng sản xuất và từ trạng thái không phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ và tính chất phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất. Năm 1960 công nghiệp chiếm 18,2% thu nhập quốc dân sản xuất, 7% lao động xã hội trong các ngành kinh tế quốc dân; nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương ứng là 42,35 và 83%; sản lượ ng lương thực bình quân đầ u ngườ i dướ i 300 kg; GDP bình quân đầ u ngườ i khoảng dướ i 100 đô la. Trong khi phân công lao động xã hội chưa phát triển và lực lượ ng sản xuất ở trình độ thấp thì quan hệ sản xuất đã đượ c đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa là chủ yếu. Đến nă m 1960: 85,8% tổng số hộ nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ tư sản được cải tạo trong tổng số tư sản công thương nghiệp thuộc diện cải tạo, gần 80% thợ thủ công cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Đứng trước thực trạng này Đả ng ta đã quyết định xóa bỏ cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp, và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ c ủa lược lượ ng sản xuất ở nước ta hiện nay để thúc đẩ y quá trình công nghiệp hóa, hiện đạ i hóa , nhanh chóng đi lên chủ nghĩa cộng sản. Chính vì những lý do trên mà e m quyết định chọn đề tài: “Vấn đ ề đ ổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đ ại hóa ở Việt Nam”. Em nghĩ rằng việc nghiên c ứu đề tài này sẽ giúp em và các bạn tìm hiểu về vấn đề đổi mới lực lượ ng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạ i hóa ở Việt Nam liệu có phải là tất yếu và liệu nó có tuân theo một quy luật nào c ủa tự nhiên hay không?. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phạm Duy Anh, ngườ i đã hướ ng dẫ n và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng như trong việc hoàn thành bài tiể u luận đầ u tay này. 2
  4. B- NỘI DUNG I- Cơ sở triết học của đề tài 1- Phương thức sản xuất Với tính cách là phạm trù c ủa chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sản xuất biểu thị cách thức con ngườ i thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch s ử nhất định c ủa xã hội loài ngườ i. Với một cách thức nhất định c ủa sự sản xuất xã hội, trong đờ i sống xã hội s ẽ xuất hiện những tính chất, kết cấu và những đặc điểm tương ứng về mặt xã hội. Đối với s ự vận động c ủa lịch s ử loài ngườ i, cũng như sự vận động c ủa mỗi xã hội c ụ thể, sự thay đổi phương thức sản xuất bao giờ c ũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng. Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội... được chuyể n sang một chất mới. Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó ngườ i ta có thể phâ n biệt được sự khác nhau c ủa những thời đại kinh tế khác nhau. Dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng c ủa mỗi thời đạ i lịch sử, ngườ i ta hiểu thời đạ i lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế xã hội nào. C. Mác viết: “ Những thời đạ i kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” (1). Phương thức sản xuất, cách thức mà con ngườ i ta tiến hành sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình đ ộ nhất đ ịnh và quan hệ sản xuất tương ứng. 3
  5. 2- Lực lượng sản xuất Trong hệ thống các khái niệ m c ủa chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệ m dùng để chỉ quan hệ mà C. Mác gọi là “ quan hệ song trùng” c ủa bản thân sự sản xuất xã hội: quan hệ c ủa ngườ i với t ự nhiên và quan hệ của con ngườ i với nhau. Lực lượ ng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa ngườ i với giới tự nhiên. Nghĩa là trong quá trình thực hiện sự sản xuất xã hội, con ngườ i chinh phục giới t ự nhiên bằng tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình, s ức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệ m lực lượ ng sản xuất. Lực lượ ng sản xuất nói lên năng lực thực thực tế c ủa con ngườ i trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội. Lực lượ ng sản xuất bao gồm ngườ i lao động với kinh nghiệ m sản xuất, kỹ năng lao động, biết sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất.Trong quá trình sản xuất, lao động c ủa con ngườ i và tư liệu sản xuất, trước hết là công c ụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lượ ng sản xuất. Trong đó, “ lực lượ ng sản xuất hàng đầ u c ủa toàn thể nhân loại là công nhân, là ngườ i lao động”( 2). Do đặc trưng sinh học- xã gội riêng có của mình, cong ngườ i, trong nền sả n xuất có s ức mạnh và kỹ năng lao động thần kinh cơ- bắp. Trong lao động s ức mạnh và kỹ năng ấy đã được nhân lên gấp nhiều lần. Hơn nữa, lao động c ủa con ngườ i ngày càng trở thành lao đ ộng có trí tuệ và lao đ ộng trí tuệ. Trí tuệ con ngườ i không phải là cái gì siêu tự nhiên,mà là sản phẩm c ủa tự nhiên và c ủa lao động. Nhưng trong quá trình lịch sử lâu dài c ủa xã hội loài ngườ i, trí tuệ hình thành phát triển cùng với lao động làm cho lao động ngày càng có hàm lượ ng trí tuệ cao hơn. Hàm lượ ng trí tuệ trong lao động, đặc biệt là trong điều kiện c ủa khoa học công nghệ hiện nay, đã làm cho con ngườ i trở thành một nguồn kực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận. Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượ ng lao động và tư liệu lao động. 4
  6. Trong tư liệu lao động có công c ụ lao động và những tư liệu lao động khác cần thiết cho việc vận chuyển bảo quản sản phẩm.... Đối tượ ng lao động là những vật mà lao động c ủa con ngườ i tác động vào nhằ m biến đổi nó theo mục đích c ủa mình. Đối tượ ng lao động không phải là toà n bộ giới tự nhiên mà chỉ có một bộ phận c ủa giới tự nhiên được đưa vào sản xuất. Con ngườ i không chỉ tìm trong giới tự nhiên những đối tượ ng lao động sẵn có, mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượ ng lao động. Sự phát triển c ủa sản xuất có liê n quan đế n việc đưa những đối tượ ng ngày càng mới hơn vào quá trình sản xuất. Điều đó hoàn toàn có tính quy luật bởi chính những vật liệu mới mở rộng khả năng sản xuất c ủa con ngườ i. Đối tượ ng lao động chính là yếu tố vật chất c ủa sản phẩ m tương lai. Đối tượ ng lao động gồm các loại: + Loại có sẵn trong tự nhiên. Loại này thườ ng là đối tượ ng c ủa các ngành công nghiệp khai thác. + Loại đã qua chế biến, nghĩa là đã có sự tác động c ủa lao động gọi là nguyên liệu. Loại này thườ ng là đói tượ ng của các ngành công nghiệp chế biến. Với sự phát triển c ủa Cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đạ i, vai trò c ủa nhiều đối tượ ng lao động dần dần thay đổi, đồng thời loại đối tượ ng lao động có chất lượ ng mới được tạo ra. Nhưng cơ sở của mọi đối tượ ng lao động vẫn là đấ t đai, tự nhiên: “ lao động là cha, còn đất là mẹ c ủa mọi c ủa cải vật chất”( 3). Tư liệu lao động: là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệ m vụ truyề n dẫn sự tác động c ủa con ngườ i lên đối tượng lao động, nhằ m biến đổi đối tượ ng lao động theo mục đích c ủa mình. Tư liệu lao động bao gồm công c ụ lao động, hệ thống các yếu tố vật chất phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình sản xuất( nhà xưở ng, kho tàng, bến bãi, ống dẫn, băng chuyền, đườ ng sá, các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liê n lạc...). Trong các yếu tố hợp thành tư liệu lao động thì công c ụ lao động có ý nghĩa quyết định nhất, là một thành tố cơ bản c ủa lực lượ ng sản xuất. Công c ụ lao động, theo Ph. Ăngghen là “ khí quan c ủa bộ óc con ngườ i”, là “ sức mạnh c ủa tri thức 5
  7. đã được vật thể hóa” có tác dụng “ nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ của con ngườ i. Còn Mác gọi là hệ thống xương cốt và cơ bắp c ủa nền sản xuất Công c ụ lao động là vật thể hay phức hợp vật thể mà con ngườ i đặ t giữa mình vớ i đối tượ ng lao động. Trong quá trình sản xuất, công c ụ lao động luôn luôn được cả i tiến, tinh xảo hơn để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn. Nó là yếu tố động nhất và cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất. Cùng với sự biến đổi vá phát triển c ủa công c ụ lao động thì kinh nghiệ m sản xuất, kỹ năng sản xuất, kiế n thức khoa học c ủa con ngườ i c ũng tiến bộ, phong phú thêm, những ngành sản xuất mới xuất hiện, sự phân công lao động phát triển. Chính s ự chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không ngừng c ủa nó đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ t ư liệu sản xuất. Xét cho cùng chính đó là nguyên nhân sâu xa xa c ủa mọi biến cải xã hội. Trình độ phát triển c ủa công c ụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên c ủa con ngườ i, là cơ sở xác định trình dộ phát triển c ủa sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đạ i kinh tế. Đối với mỗi thế hệ mới, những tư liệu lao động do thế hệ trước để lại trở thành điểm xuất phát c ủa s ự phát triển tương lai. Vì vậy những tư liệu đó là cơ sở kế tục của lịch sử. Tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượ ng tích c ực cải biến đối tượ ng lao động, khi chúng kết hợp với lao động sống. Chính con ngườ i với trí tuệ và kinh nghiệm c ủa mình đã chế tạo ra tư liệu lao động. Tư liệu lao động dù có ý nghĩa đến đâu, nhưng nếu tách khỏi ngườ i lao động thì c ũng không thể phát huy được tác dụng, không thể trở thành lực lượ ng sản xuất c ủa xã hội. Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C. Mác đã nêu một tư tưở ng quan trọng về vai trò của lực lượ ng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ xã hội. C. Mác viết: “ Những quan hệ xã hội đề u gắn liền mật thiết với những lực lượ ng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài ngườ i thay đổ i phương thức sản xuất c ủa mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiế m sống c ủa mình, loài ngườ i thay đổi tất cả quan hệ xã hội c ủa mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lạ i xã hội nhà tư bản công nghiệp”( 4). 6
  8. 3- Quan hệ sản xuất Trong hệ thống các khái niệm c ủa chủ nghĩa duy vật lịch sử, khái niệ m lực lượng sản xuất biểu thị mặt thứ nhất của mối “ quan hệ song trùng” của bản thâ n sự sản xuất xã hội- quan hệ c ủa con ngườ i với tự nhiên; còn khía niệm quan hệ sản xuất biểu thị mặt thứ hai c ủa quan hệ đó- quan hệ c ủa con ngườ i với con ngườ i trong sản xuất. Sở dĩ qúa trình sản xuất xã hội có thể diễn ra bình thườ ng, chính là vì trong sự sản xuất đó, mối quan hệ giữa con ngườ i với con ngườ i tồn tại thống nhất với mối quan hệ giữa con ngườ i với giới tự nhiên. Trong sản xuất, mối quan hệ giữa con ngườ i với tự nhiên thể hiện thành những trình độ khác nhau c ủa lực lượ ng sản xuất. Tuy nhiên, mối quan hệ đó được xây dựng trong và thông qua những quan hệ khác nhau giữa ngườ i với ngườ i, tức là những quan hệ sản xuất. Trong tác phẩm Lao đ ộng làm thuê và tư bản, C. Mác viết: “ Trong sản xuất, ngườ i ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên. Ngườ i ta không thể sản xuất đượ c nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được ngườ i ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sả n xuất”( 5). Như vậy, trong s ự sản xuất ra đờ i sống xã hội c ủa mình, con ngườ i ta, d ù muốn hay không c ũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định vớ i nhau. những quan hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào ý muốn c ủa ai cả. Đó chính là những quan hệ sản xuất( 6). Cố nhiên, quan hệ sản xuất là do con ngườ i tạo ra, song nó tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan s ự vận động của đờ i sống xã hội. Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau đây: + Quan hệ giữa ngườ i với ngườ i đối với việc sở hữu về tư liệu sản xuất. + Quan hệ giữa ngườ i và ngườ i đối với việc tổ chức quản lý. + Quan hệ giữa ngườ i và ngườ i đối với việc phân phối sản phẩ m lao động. 7
  9. Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con ngườ i, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất thuộc đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội c ủa lực lượ ng sản xuất và là cơ sở sâu xa c ủa đờ i sống tinh thần xã hội. Ba mặt quan hệ đó trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn đ ịnh tương đ ối so với sự vận động không ngừng c ủa lực lượ ng sản xuất. Các quan hệ sản xuất của một phương thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều mối quan hệ phong phú và đa dạng biểu hiện dướ i nhiều hình thức. Mỗi mặt quan hệ của hệ thống quan hệ sản xuất có vai trò và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động tới nề n sản xuất xã hội nói riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung. Tính chất c ủa quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặc trưng cơ bản c ủa phương thức sản xuất. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất c ủa mỗi nền kinh tế- xã hội xác định, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn luôn có vai trò quyết đ ịnh đối với tất cả các quan hệ xã hội khác . Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm c ủa các quan hệ sản xuất. Chính quan hệ sở hữu- quan hệ giữa các tập đoàn ngườ i trong việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất đã quy định địa vị c ủa từng tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội. Đế n lượt mình, địa vị của từng tập đoàn ngườ i trong hệ thống sản xuất lại quy định cách thức mà các tập đoàn trao đổi hoạt động cho nhau, quy định cách thức mà các tập đoàn tổ chức quản lý quá trình sản xuất. Cuối cùng, chính quan hệ sở hữu là cái quyết định phương thức phân phối sản phẩm cho các tập đoàn ngườ i theo địa vị c ủa họ đố i với hệ thống sản xuất xã hội. “ Định nghĩa quyền sở hữu tư sản không phải là gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội c ủa sản xuất tư sản”.( 7). Trong các hình thái kinh tế- xã hội mà loài ngườ i đã từng trải qua, lịch sử đã chứng kiến s ự tồn tại c ủa hai loại hình thức sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữ tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên c ủa mỗi cộng đồng. Nhờ cơ sở đó nên về mặt nguyên tắc, các thành viên c ủa mỗi c ộng đồng bình đẳ ng với nhau trong tổ 8
  10. chức lao động và trong phân phối sản phẩm. Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đống nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và trong đờ i sống xã hội nói chung, trở thành quan hệ hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Ngược lại, trong các chế độ tư hữu, do tư liệu chỉ nằm trong tay một số ít ngườ i nên c ủa cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về số ít ngườ i đó. Các quan hệ xã hội, do vậy, trở thành bất bình đẳ ng, quan hệ thống trị và bị trị. Đối kháng xã hội trong các xã hội tồn tại chế độ tư hữu tiềm tàng khả năng trở thành đối kháng gay gắt. Các nhà kinh điển c ủa chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ trong các chế độ sở hữu tư nhân c ủa các xã hội điển hình trong lịch sử( sở hữu tư nhân của xã hội chiếm hữu nô lệ, sở hữu tư nhân trong chế độ phong kiến và sở hữu tư nhân trong chế độ t ư bản) thì chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là đỉnh cao c ủa loại sở hữu này. C. Mác và Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng chế đọ tư bản chủ nghĩa không phải là hình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sử xã hội loài ngườ i. Chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, dù sớm hay muộn c ũng sẽ đóng vai trò phủ định đối với chế độ tư hữu. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức, quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc độ, hiệu quả và xu hướ ng c ủa mỗi nền sản xuất cụ thể. Bằng cách nắm bắt các nhân tố xác định c ủa một nền sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức vận động c ủa các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năng đẩ y nhanh hoặc kìm hã m các quá trình khách quan c ủa sản xuất. Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn luôn có xu hướ ng thích ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị c ủa mỗi nền sản xuất c ụ thể. Do vậy, việc s ử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ hệ thống quan hệ sản xuất có khả năng vươn tới tối ưu. Trong trườ ng hợp ngược lại, các quan hệ quản lý và tổ chức có thể là m biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hưở ng tiê u cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội. Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn c ủa khoa học quản lý hiện đại nên vai trò c ủa các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt đố i 9
  11. với việc điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất ở tầ m vĩ mô, trên thực tế đã tăng lên gấp bội so với vài thập kỷ trước đây. Đây là điều rất đáng lưu ý trong việc phân tích và đánh giá vai trò của các quan hệ sản xuất hiện đạ i. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động c ũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động c ủa toàn bộ nền kinh tế- xã hội. Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích c ủa con ngườ i, nên các quan hệ phân phối là “ chất xúc tác” c ủa các quá trình kinh tế- xã hội. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩ y tốc độ và nhịp điệu c ủa sự sản xuất, làm năng động toà n bộ đời sống kinh tế- xã hội; hoặc trong trường hợp ngược lại, nó có khả năng kìm hãm sản xuất, kìm hã m s ự phát triển c ủa xã hội. 4- Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Lực lượ ng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến c ủa toàn bộ lịch s ử loài ngườ i- Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất. Quy luật này vạch ra tính chất phụ thuộc khách quan c ủa quan hệ sản xuất vào sự phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượ ng sản xuất. Tính chất và trình đ ộ của lực lượng sản xuất Khuynh hướ ng c ủa sản xuất xã hội là không ngừng biến đổi theo chiều hướ ng tiến bộ. Sự biến đổi đó, xét đế n cùng, bao giờ c ũng bắt đâù từ sự biến đổ i và phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất, trướ c hết là c ủa công c ụ lao động. Do vậy, lực lượ ng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự biến đổi c ủa phương thức sản xuất: Trình độ của lực lượ ng sản xuất trong từng giai đoạn c ủa lịch s ử loài ngườ i thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên c ủa con ngườ i trong giai đoạn lịch 10
  12. sử đó. Khái niệ m trình đ ộ của lực lượng s ản xuất nói lên khả năng c ủa con ngườ i thông qua việc sử dụng công c ụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới tự nhiê n nhằ m đả m bảo cho sự sinh tồn và phát triển c ủa mình. Trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất thể hiện ở: + Trình độ tổ chức lao động xã hội. + Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất. + Kinh nghiệ m và kỹ năng lao động c ủa con ngườ i. + Trình độ phân công lao động. Trình độ của phân công lao động thể hiện rõ ràng nhất trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất. Bên cạnh khái niệm trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất, còn có khái niệ m tính chất của lực lượng sản xuất. Chính Ph. Ăngghen đã sử dụng khái niệm này để phân tích lực lượ ng sản xuất trong các phương thức sản xuất khác nhau. Tính chất của lực lượ ng sản xuất là tính chất c ủa quá trình sản xuất ra sản phẩm. Quá trình này phụ thuộc vào tính chất c ủa tư liệu sản xuất và lao động. Lực lượ ng sản xuất có tính chất cá nhân thể hiện tính chất c ủa tư liệu sản xuất là sử dụng công c ụ thủ công và tính chất c ủa lao động là lao động riêng lẻ. Những công c ụ sản xuất như búa, rìu, cày bừa, xa quay sợi... do một người sử dụng để sản xuất vật dùng, không cần tới lao động tập thể, lực lượ ng sản xuất cóa tính chất cá nhân. Khi máy móc ra đời đòi hỏi phải có nhiều ngườ i mới sử dụng được, để làm ra một sản phẩm cần phải có sự hợp tác c ủa nhiều ngườ i. Mỗi ngườ i là m một bộ phận công việc mớ i hoàn thành được sản phẩm ấy cho nên lực lượ ng sản xuất mang tính chất xã hội hóa. Ph. Ăngghen đã nhận định giai cấp tư sản “ không thể biến những tư liệu sản xuất có hạm ấy thành những lực lượ ng sản xuất hùng mạnh mà lại không biế n chúng từ chỗ là tư liệu sản xuất do cá nhân sử dụng thành những tư liệu sản xuất xã hội, chỉ có thể được sử dụng chung bởi một số đông ngườ i”( 8). Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lượ ng sản xuất không tách biệt với nhau. Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi, phát triển do lực lượ ng sản xuất quyết định. 11
  13. Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con ngườ i luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công c ụ lao động và chế tạo ra những công vụ lao động mới, tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triể n của công c ụ lao động thì kinh nghiệ m sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học c ủa con ngườ i c ũng tiến bộ. Lực lượ ng sản xuất trở thành yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất. Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đố i ổn định, có khuynh hướ ng lạc hậu hơn sự phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất. Lực lượ ng sản xuất là nội dung c ủa phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội c ủa nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi trước, sau đó hình thức mới biến đổi theo. Tất nhiên, trong quan hệ với nội dung , hình thức không phải là mặt thụ động, nó c ũng tác động trở lại đối với việc phát triể n của nội dung. Cùng với s ự phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất, quan hệ sản xuất c ũng hình thành, biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất. Sự phù hợp đó là động lực cho lực lượ ng sản xuất pats triển mạnh mẽ. Nhưng, lực lượ ng sản xuất luôn phát triển còn quan hệ sản xuất có xu hướ ng tương đối ổn định. Khi lực lượ ng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, trở thành chướ ng ngại đối với s ự phát triển c ủa nó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt c ủa phương thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đế n việc xóa bỏ quan hệ sản xuất c ũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ mới c ủa lực lượ ng sản xuất, mở đườ ng cho lực lượ ng sản xuất phát triển. Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mớ i cũng có nghĩa là s ự diệt vong c ủa một phương thức sản xuất đã lỗi thời và sự ra đời c ủa một phương thức mới. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa lực lượ ng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thời là cơ sở khách quan c ủa các cuộc đấ u tranh giai cấp, đồng thời c ũng là tiền đề tất yếu c ủa các cuộc cách mạng xã hội. C. Mác đã nhận định: “ Tới một giai đoạn phát triển nào đó c ủa chúng, các 12
  14. lực lượ ng sản xuất vật chất c ủa xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiệ n có... trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượ ng sản xuất. Khi đó bắt đầ u thời đạ i một cuộc cách mạng xã hội”( 9). đó là nội dung quy luật về sự phù hợp c ủa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định c ủa lực lượ ng sản xuất. Chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh vai trò quyết định c ủa lực lượ ng sả n xuất đối với quan hệ sản xuất song c ũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ c ũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực lượ ng sản xuất dựa vào đó đó để phát triển, nó tác động trở lại đối với lực lượ ng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc lìm hãm s ự phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất trở thành động lực cơ bản thúc đẩ y mở đường cho lực lượ ng sản xuất phát triển. Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượ ng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lượ ng sản xuất thì trở thành “ xiềng xích trói buộc” kìm hãm sự phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất. Song tác dụng kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng nó sẽ bị thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượ ng sản xuất( thúc đẩ y hoặc kìm hãm), vì nó quy định mục đích c ủa sản xuất, quy định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phâ n phối phần c ủa cải ít hay nhiều mà ngườ i lao động được hưở ng. Do đó ảnh hưở ng đến thái độ c ủa quảng đạ i quần chúng lao động- lực lượ ng sản xuất chủ yếu c ủa xã hội; nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công c ụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao động.... 13
  15. Tuy nhiên, không được hiểu một cách giản đơn tính tích cực c ủa quan hệ sản xuất chỉ là vai trò c ủa những hình thức sở hữu. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm c ả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc đẩ y con ngườ i hành động nhằm phát triển sản xuất. Quy luật về sự phù hợp c ủa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất là quy luật chung nhất c ủa sự phát triển xã hội. Sự tác động c ủa quy luật này đã đưa xã hội loài ngườ i trải qua các phương thức sản xuất: công xã nguyên thủy, chiế m hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và phương thức sản xuất cộng sản tương lai. Quy luật về sự phù hợp c ủa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất là quy luật vận động, phát triển c ủa xã hội qua sự thay thế kế tiếp nhau từ thấp lên cao của các phương thức sản xuất. Nhưng không phải bất c ứ nước nào c ũng phải nhất thiết, tuần tự trải qua tất cả các phương thức sản xuất mà loài ngườ i đã biết đế n. Thự tế phát triển c ủa lịch sử nhân loại cho thấy, tùy theo điều kiện lịch sử- cụ thể, một số nước có thể bỏ qua một hoặc một số phương thức sản xuất để tiến lên phương thức sản xuất mới cao hơn. Đó chính là sự biểu hiệ n của quy luật chung trong điều kiện c ụ thể của mỗi nước. Quy luật chung chi phối sự vận động phát triển c ủa tất cả các nước; còn hình thức, bước đi c ụ thể lại tùy thuộc vào điều kiện c ụ thể của mỗi nước. 14
  16. II- Cơ sở lý luận của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa 1-Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghiệp hóa, hiện đạ i hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diệ n các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng vớ i công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đạ i, dựa trên sự phát triển và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. 2- Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất- kỹ thuật tương ứng. 15
  17. Cơ sở vật chất c ủa một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất c ủa lực lượ ng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật( công nghệ) tương ứng mà lực lượ ng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra c ủa cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội. Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi c ủa cơ sở vật chất- kỹ thuật c ủa một xã hội là: sự biến đổi và phát triển c ủa lực lượ ng sản xuất; sự phát triển khoa học- k ỹ thuật; tính chất và trình độ c ủa các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị. Nói cơ sở vật chất- kỹ thuật c ủa một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sở vật chất- kỹ thuật đó đạt đế n một trình độ nhất định là m đặc trưng cho phương thức sản xuất đó được khẳng định s ự thay thế phương thức sản xuất c ũ và được phát triển đúng trên cơ sở bản thân nó. Đặc trưng c ủa cơ sở vật chất- kỹ thuật c ủa các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công c ụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Cơ sở vật chất- k ỹ thuật c ủa chủ nghĩa tư bản, đặc trưng c ủa nó là nền đạ i công nghiệp cơ khí hóa và chỉ khi xây dựng xong cơ sở đó, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới trở thành phương thức sản xuất thống trị. Chủ nghĩa xã hội- giai doạn thấp c ủa phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản- đòi hỏi một cơ sở vật chất- kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đạ i. Do vậy có thể hiểu: Cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội sẽ là nền công nghiệp lớn hiện đ ại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình đ ộ xã hội hóa cao dựa trên trình đ ộ khoa học- công nghệ hiện đ ại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và được thực hiện thông qua công nghiệp hóa, hiện đ ại hóa. Đó là vì: cơ sở vật chất- kỹ thuật là điều kiện trọng yếu nhất, quyết định nhất có liên quan đế n s ự 16
  18. phát triển về chất đối với lượ ng sản xuất, và năng suất lao động; đối với việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng c ủa mọi thành viên trong xã hội và đối với s ự thắng lợi cuối cùng c ủa chủ nghĩa xã hội. Có hai loại nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội: các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa( các nước có nền kinh tế kém phát triển). Đối với những nước phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những nước nà y đã có sẵn nền đạ i công nghiệp c ủa chủ nghĩa tư bản để lại cho nên chỉ cần điề u chỉnh nền đạ i công nghiệp đó theo yêu cầu của chủ nghĩa xã hội thì về cơ bản đã có cơ sở vật chất- kỹ thuật c ủa xã hội mới. Do đó, vấn đề công nghiệp hóa không cần phải đặt ra. Sở dĩ chúng ta phải điều chỉnh nền đạ i công nghiệp cơ khí c ủa chủ nghĩa tư bản theo yêu cầu của xã hội vì nền đạ i công nghiệp cơ khí c ủa chủ nghĩa tư bản dù hiện đạ i đế n đâu chỉ là tiền đề vật chất cho xã hội mới chứ chưa phải là cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội vì nó dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, phân bố không đề u giữa xá ngành, vùng do đó tất yếu phải điều chỉnh nó. Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, những nước này nền kinh tế lạc hậu chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, muốn có cơ sở vật chất- k ỹ thuật c ủa nền sản xuất lớn, hiện đạ i thì phải tất yếu tiến hành công nghiệp hóa, hiện đạ i hóa. Công nghiệp hóa, hiện đạ i hóa là tất yếu khách quan vì: + Nó là con đườ ng duy nhất để tạo ra s ự phát triển về chất đối với lực lượ ng sản xuất và năng suất lao động. Chất c ủa lực lượ ng sản xuất là hệ thống công c ụ lao động hiện đạ i với trình độ công nghệ hiện đạ i. + Công nghiệp hóa tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thầ n ngày càng tăng c ủa mọi thành viên trong xã hội bởi vì công nghiệp hóa sẽ làm cho lực lượ ng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng, khối kượ ng c ủa cải sản xuất ra ngày càng nhiều tù đó mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao c ủa xã hội nói chung và c ủa con ngườ i nói riêng. 17
  19. + Là con đườ ng duy nhất để đả m bảo s ự thắng lợi cuối cùng vủa chủ nghĩa xã hội. Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đạ i hóa không những là tất yếu mà còn là điều kiện sống còn của chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hóa là tất yếu khách quan đối với những nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong đó có nước ta. 3- Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Tạo điều kiện biến đổi về chất lượ ng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sức chế ngự c ủa con ngườ i đối với tự nhiên, tăng trưở ng kinh tế và phát triển kinh tế; do đó góp phần ổn định và nâng cao đờ i sống c ủa nhân dân; góp phầ n quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. - Tạo điều kiện vật chất cho việc c ủng cố tăng c ườ ng vai trò kinh tế c ủa Nhà nước; nâng cao năng lực tích lũy, tăng công ăn việc là m, nhờ đó là m tăng sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế c ủa con ngườ i- nhân tố trung tâm c ủa nền sản xuất xã hội. - Tạo điều kiện vật chất cho tăng cườ ng c ủng cố an ninh và quốc phòng. - Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ, đủ sức thực hiện s ự phân công và hợp tác quốc tế. Sự phân tích trên cho thấy mối quan hệ gắn bó trực tiếp giữa công nghiệp hóa với lực lượ ng sản xuất. Công nghiệp hóa là để thực hiện xã hội hóa về mặt kinh tế, kỹ thuật theo định hướ ng xã hội chủ nghĩa. Nó có tác dụng có ý nghĩa c ực kỳ quan trọng và toàn diện; do vậy, Đảng ta cho rằng: “ Phát triển lực lượ ng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước... là nhiệm vụ trung tâm”( 10) c ủa thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 4- Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa a- Trang bị kỹ thuật và công nghệ theo hướng hiện đại trong các ngành của nền kinh tế quốc dân 18
  20. Nội dung này được thực hiện qua hai cách: * Tiến hành cách mạng khoa học- kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật đ ể tự trang bị Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật: cuộc cách mạng kỹ thuật mà nội dung chủ yếu c ủa nó là cơ khí hóa xuất hiện đầ u tiên ở nước Anh vào ba mươi năm cuối thế kỷ XVIII và hoàn thành vào những năm 50 đầ u thế kỷ Xĩ. Đế n khoảng giữa thế kỷ XX xuất hiện cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đạ i. Mờy thập niên đã qua, nhất là thập niên gần đây loài ngườ i đang chứng kiế n những thay đổi rất to lớn, trên nhiều lĩnh vực của đờ i sống kinh tế, chính trị và xã hội. Cuộc cách mạng này có nhiều nội dung, song có 5 nội dung chủ yếu sau - Về tự đ ộng hóa: Máy tự động quá trình, máy công c ụ điều khiển bằng số, rô bốt. - Về năng lượng: Ngoài những dạng năng lượ ng truyền thống( nhiệt điện, thủy điện) ngày nay đã và đang chuyển sang lấy dạng năng lượ ng nguên tử là chủ yếu. - Về vật liệu mới: chỉ trong khoảng chưa đầy 40 năm lại đây các vật liệ u mới đã xuất hiện với chủng loại rất phong phú và có nhiều tính chất đặc biệt mà vật liệu tự nhiên không có được. Thí dụ: vật liệu tổ hợp hay còn gọi là composit với các tính chất mong muốn; gốm zin côn hoặc các- bua- si- lích chịu nhiệt cao... - Về công nghệ sinh học: công nghệ vi sinh, kỹ thuật cuzin, kỹ thuật gen và nuôi cấy tế bào được ứng dụng ngày càng nhiều trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế, hóa chất, bảo vệ môi trườ ng... Vào khoảng những năm 80, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật( hay công nghệ) hiện đạ i chuyển sang giai đoạn thứ ba- giai đoạn có nhiều quan điể m khác nhau đặt tên gọi cho nó. Tương ứng với giai đoạn thứ ba cuộc cách mạng này còn có một nội dung mới: điện tử và tin học. - Về điện tử và tin học: một lĩnh vực vô cùng rộng lớn và hấp dẫn, nhất là lĩnh vực máy tính, diễn ra theo 4 hướ ng nhanh( máy siêu tính); nhỏ( vi tính); má y tính có xử lý kiến thức( trí tuệ nhân tạo); máy tính nói từ xa( viễn tin học). 19
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2