intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:82

0
177
lượt xem
49
download

LUẬN VĂN: Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việt Nam đang trong quá trình đổi mới đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Điều đó tạo ra nhiều cơ hội, cho sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng gặp không ít những thách thức, khó khăn. Bởi vì, trong bối cảnh hiện nay trước sự biến đổi phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới, trước chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang tìm mọi...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
  2. mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trong quá trình đổi mới đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Điều đó tạo ra nhiều cơ hội, cho sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng gặp không ít những thách thức, khó khăn. Bởi vì, trong bối cảnh hiện nay trước sự biến đổi phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới, trước chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang tìm mọi cách chống phá chủ nghĩa xã hội trên mọi lĩnh vực, đặc biệt chúng thường xuyên chống phá chúng ta trên lĩnh vực t ư tưởng nhằm làm cho hệ tư tưởng tư sản chiếm vị trí thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ và nhân dân ta. Hơn nữa, do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường đang hình thành lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ. Trong c ơ chế thị trường xuất hiện sự may rủi làm nảy sinh tư tưởng cầu may dễ dẫn đến thế giới quan tôn giáo, duy tâm. Để đưa đất nước phát triển sánh kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng và năng lực lãnh đạo và chỉ đạo những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, tư tưởng của Đảng và nhà nước. Đại hội X của Đảng đã nêu lên những tiêu chí về cán bộ trong thời kỳ mới Cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lũng phấn đấu vỡ lợi ớch của nhõn dõn, của dõn tộc; cú bản lĩnh chớnh trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tụn trọng tập thể, gắn bú với nhõn dõn [16, tr.136]. Với ý nghĩa như vậy, yêu cầu bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng không chỉ là quan trọng và cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp Trung ương, cấp tỉnh, thành, huyện mà còn quan trọng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (xã, phường,
  3. thị trấn). Bởi vì, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thắng lợi mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại cơ sở. Đồng thời, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở cũng là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, thường xuyên lắng nghe, giải quyết và đề đạt ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Mặt khác thế giới quan duy vật biện chứng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong công cuộc đổi mới vừa qua tuy đã có bước phát triển nhưng nhìn chung vẫn còn thấp, chưa ngang tầm nhiệm vụ đòi hỏi của địa phương, điều đó cũng đã gây cản trở không ít cho công cuộc đổi mới ở cơ sở. Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc bộ, ở phía Đông bắc của Tổ quốc. Tỉnh Thái Nguyên mới được tái lập tháng 1/1997, có vị trí chiến lược an ninh - quốc phòng thuận lợi, tài nguyên khoáng sản khá phong phú và là nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống. Khai thác những tiềm năng, thế mạnh của Thái Nguyên để đưa đồng bào dân tộc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước xây dựng cuộc sống văn minh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ vô cùng khó khăn đặt ra trước Đảng và nhân dân ta mà trực tiếp là Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên có một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, tư tưởng và an ninh - quốc phòng của tỉnh Thái Nguyên. Tuy vậy, đứng trước yêu cầu của quá trình đổi mới đất nước họ đã biểu hiện những hạn chế về trình độ, phẩm chất, năng lực tư duy sáng tạo, tổ chức thực tiễn…trong đó có sự hạn chế về thế giới quan duy vật biện chứng. Để đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới, đội ngũ này phải không ngừng học tập, rèn luyện về mọi mặt, trong đó cần phải nâng cao trình độ lý luận; thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng niềm tin, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng. Đây chính là lý do tác giả luận văn chọn đề tài: “Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Triết học.
  4. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Gắn liền với quá trình làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, do yêu cầu thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước đặt ra, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay đã có một số bài viết, đề tài nghiên cứu ở những góc độ khác khau liên quan đến tình hình nghiên cứu đề tài: - Lê Xuân Vũ (1986), “Thế giới quan Mác-Lênin trong đời sống tinh thần của nhân dân ta”, Tạp chí Cộng sản, 1986, (6). - Trần Thanh Hà (1993), Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán bộ đảng viên người dân tộc Khơ-Me ở đồng bằng sông Cửu long trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. - Trần Thước (1993), Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí thức Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. - Bùi ỉnh (1998), Vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng đối với cán bộ đảng viên là người dân tộc thiểu số trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. - Nguyễn Thái Bình (2000), “Triết học Mác-Lênin với việc năng cao thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho sinh viên”, Tạp chí sinh hoạt lý luận Phân viện Đà Nẵng, (43). - Nguyễn Văn Vinh (2001), Phát triển thế giới quan duy vật biện chứng cho sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện chính trị quân sự, Hà Nội. - Trần Viết Quân (2002), Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Tây Nguyên hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. - Bùi Kiến Thưởng (2004), Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học viên trường chính trị tỉnh Hà Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
  5. - Nguyễn Thị Luyến (2005), Vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tất cả những bài viết, đề tài nghiên cứu trên đã đề cập tới: - Khái niệm thế giới quan nói chung, thế giới quan Mác-Lênin nói riêng, cấu trúc, chức năng của chúng. - Vai trò và tính tất yếu xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. - Những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hình thành thế giới quan duy vật biện chứng. Những nguyên tắc phương pháp luận chung trong việc xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho nhân dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. - Đưa ra một số quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho một số đối tượng cụ thể đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu “Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay”. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở phân tích thực trạng thế giới quan của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay, luận văn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới đất nước. 3.2. Nhiệm vụ - Phân tích làm rõ vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với hoạt động của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá thực trạng thế giới quan của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên. - Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm bồi d ưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
  6. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn chỉ nghiên cứu thế giới quan của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) ở tỉnh Thái Nguyên. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thời gian từ năm 2006 đến nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của triết học Mác-Lênin như: Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội, mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Luận văn còn dựa trên quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước cũng như nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên. Luận văn kế thừa, chọn lọc những tư tưởng của các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phân tích và tổng hợp; quy nạp - diễn dịch; lịch sử - logíc và phương pháp điều tra xã hội học (khảo sát thực tế). 6. Những đóng góp về khoa học của luận văn Góp phần làm sáng tỏ vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay. Bước đầu đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ này. 7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
  7. Về mặt thực tiễn luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy cho Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
  8. Chương 1 thế giới quan duy vật biện chứng và những nhân tố ảnh hưởng tới thế giới quan duy vật biện chứng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay 1.1. quá trình hình thành Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 1.1.1. Quá trình hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Để tồn tại, loài người phải thích nghi với thế giới xung quanh và tìm cách biến đổi thế giới đó theo những yêu cầu cuộc sống của mình. Muốn vậy, con người cần phải hiểu biết về thế giới cũng như về chính bản thân mình. Trong quá trình tìm hiểu đó, con người gặp hàng loạt vấn đề cần được làm rõ, ví dụ như: Thế giới quanh ta là gì? Nó có bắt đầu và kết thúc không? Sức mạnh nào chi phối sự tồn tại và biến đổi của nó? Con người là gì? Quan hệ của nó với thế giới bên ngoài ra sao? Nó có thể biết gì và làm gì với thế giới đó? Vì sao có người tốt, kẻ xấu? Cuộc sống con người có ý nghĩa gì?…Những câu hỏi như vậy được đặt ra với mức độ khác nhau đối với con người từ thời nguyên thuỷ cho đến ngày nay và cả mai sau. Giải đáp những vấn đề cơ bản thiết thực nói trên, sẽ hình thành ở con người những quan điểm, quan niệm của họ về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới. Đó chính là thế giới quan. Thế giới quan xuất hiện từ thời nguyên thuỷ nhưng khái niệm thế giới quan có tính lịch sử, nó xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XVIII do nhà triết học cổ điển Đức là Cantơ nêu ra. Sau đó khái niệm thế giới quan được sử dụng rộng rãi trong tất cả các tác phẩm của các nhà triết học Đức nửa đầu thế kỷ XIX. C.Mác và Ph. Ăngghen đã sử dụng khái niệm thế giới quan trong các tác phẩm của mình. Sau C.Mác và Ph. Ăngghen các nhà triết học duy vật khác cũng sử dụng khái niệm này. Vào thế kỷ XX khái niệm thế giới quan được các nhà triết học Liên Xô và các nhà triết học các nước nghiên cứu và định nghĩa dưới nhiều cấp độ khác nhau. Chẳng hạn, G-Getx cho rằng: “Chúng tôi hiểu thế giới quan như một hệ thống nhất định những lời giải đáp những vấn đề về cội nguồn của thế
  9. giới về nguồn gốc, về ý nghĩa cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội” [18, tr.42]. Hoặc trong Từ điển triết học (Liên Xô) bản dịch ra tiếng việt có ghi nh ư sau: “Thế giới quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay của xã hội nói chung đối với thực tại”[62, tr.539]. Trong Từ điển triết học có viết: “Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới xung quanh con người; đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội, các quan điểm triết học xã hội và chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học”[63, tr.906]. Từ điển tiếng Việt đã nêu rõ: “Thế giới quan là quan niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện tượng tự nhiên và xã hội”[64, tr.901]. Từ những quan niệm khác nhau về thế giới quan ở trên, ta có thể hiểu: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một chủ thể (có thể là của một người, một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội) về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới đó, tạo thành cơ sở lý luận định hướng hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Thế giới quan bao hàm cả nhân sinh quan, tức toàn bộ những quan niệm về cuộc sống của con người và loài người. Thế giới quan ra đời, hình thành phát triển, luôn luôn gắn với sự phát triển của thực tiễn xã hội và sự hiểu biết thế giới, nhận thức khoa học của con người nhằm giúp con người khám phá, chinh phục và cải tạo thế giới khách quan. Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, thế giới quan được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song có ba hình thức cơ bản đó là: thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. Trong ba hình thức thế giới quan chủ yếu nói trên thì thế giới quan triết học là hình thức thế giới quan có trình độ phát triển cao hơn, sâu sắc hơn so với thế giới quan thần thoại và tôn giáo. Trong thế giới quan triết học lại bao gồm nhiều loại khác nhau như: thế giới quan duy tâm, thế giới quan duy vật siêu hình và thế giới quan duy vật biện chứng. Thế giới quan thần thoại là phương thức cảm nhận thế giới rất đặc trưng cho “tư duy nguyên thuỷ”; đó là hình thái biểu hiện một cách tập trung và khái quát thế giới quan của người nguyên thuỷ. Trong thần thoại các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín
  10. ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và cái hoang đường…hoà quyện vào nhau, diễn tả thế giới quan của cả một cộng đồng người, một dân tộc. Với sự ra đời của tôn giáo, thế giới quan tìm được hình thái mới để thể hiện tính đa dạng cũng như để củng cố và thâm nhập sâu hơn vào cuộc sống thường ngày của con người. Thế giới quan thần thoại còn tiếp tục được tồn tại ở nhiều giai đoạn phát triển về sau này của xã hội và ở nhiều nơi trên thế giới với những hình thức, mức độ khác nhau. Trên cơ sở của thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo xuất hiện. Thế giới quan tôn giáo là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách hư ảo, hoang đường. Nó ra đời khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp, khi trình độ hiểu biết, nhận thức của con người về hiện thực khách quan còn hết sức thấp kém, khi con người còn bất lực trong việc giải thích và tìm ra bản chất của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Vì vậy con người đã thần thánh hoá các hiện tượng tự nhiên xã hội, đã gán cho chúng một bản chất “siêu tự nhiên”, một sức mạnh “siêu thế gian”, lấy niềm tin không có cơ sở khoa học thay cho tri thức. Về thực chất, thế giới quan tôn giáo có quan hệ rất chặt chẽ với thế giới quan duy tâm. Tuy nhiên, cần thấy một khía cạnh khác của tôn giáo đó là sự thể hiện nguyện vọng được giải thoát khỏi những đau khổ và vươn tới hạnh phúc của con người. Nền tảng trong thế giới quan tôn giáo là niềm tin tôn giáo bao hàm cả niềm tin vào khả năng đạt được một cuộc sống tốt đẹp. Mặt tích cực đó làm cho tôn giáo đã tồn tại trong hầu hết các dân tộc trên thế giới và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của xã hội với nhiều mức độ khác nhau. Như vậy, về bản chất, thế giới quan thần thoại thống nhất với thế giới quan tôn giáo. Nhưng nếu thế giới quan thần thoại chưa có hệ thống, hỗn độn thì thế giới quan tôn giáo có hệ thống nhất định. Có thể nói thế giới quan tôn giáo là sự hệ thống hoá thế giới quan thần thoại và do đó cao hơn thế giới quan thần thoại. Tính quy luật chung của sự hình thành thế giới quan tôn giáo là đi từ đa thần tới nhất thần. Do đó thế giới quan thần thoại và thế giới quan tôn giáo cùng đồng hành cho tới ngày nay. Tính tích cực của tư duy con người có bước chuyển biến về chất nhờ sự xuất hiện của tầng lớp lao động trí óc trong xã hội cổ đại. Con người bước đầu có ý thức về mình như một thực thể tách khỏi tự nhiên. Tư duy con người hướng sự “phản tư” (tiếng Hy
  11. Lạp reflxio nghĩa là suy ngẫm, đánh giá) vào chính hoạt động của bản thân mình; từ đó một phương thức mới của tư duy để nhận thức thế giới được hình thành - tư duy triết học. Khác với thần thoại, triết học diễn tả thế giới quan của con người không phải bằng những biểu tượng thần thoại hoặc niềm tin tôn giáo mà bằng một hệ thống các phạm trù. Các phạm trù triết học đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới. Nó không chỉ nêu ra các quan niệm của mình về thế giới, mà còn chứng minh các quan điểm đó bằng lý tính, bằng lý luận khoa học. Ngay từ khi ra đời, triết học đã tồn tại như là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó. Chỉ có triết học mới có thể giải quyết được những vấn đề duy nhất của thế giới quan mà không một khoa học cụ thể nào có thể làm được. ở đây, triết học đóng vai trò là cơ sở lý luận, “hạt nhân” lý luận của thế giới quan. Vì ngoài các quan điểm triết học, thế giới quan còn thể hiện ở các quan điểm chính trị, kinh tế, đạo đức, thẩm mỹ…Tuy nhiên, các quan điểm đó đều dựa trên cơ sở lý luận chung, đó là triết học. Với ý nghĩa như vậy, triết học được xem như một trình độ tự giác trong quá trình phát triển thế giới quan, là học thuyết về thế giới quan. Đương nhiên thế giới quan được hình thành từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con người và xã hội loài người. Tri thức do các khoa học cụ thể đưa lại là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan niệm nhất định về từng mặt, từng bộ phận của thế giới. Với ph ương thức tư duy đặc thù của mình, triết học tạo nên hệ thống lý luận bao gồm những quan điểm chung nhất về thế giới như một chỉnh thể, trong đó có con người và mối quan hệ của nó với thế giới xung quanh. Triết học bao giờ cũng đóng vai trò hạt nhân lý luận của thế giới quan. Triết học là sự thể hiện cô đọng tập trung nhất thế giới quan của mỗi giai cấp, mỗi thời đại lịch sử nhất định. Nó thể hiện chiều sâu của tư tưởng, thể hiện trình độ cao của trí tuệ con người. Thế giới quan triết học luôn giữ vai trò chủ đạo định hướng các hành vi và đạo đức, lối sống của con người. Nó giúp cho con người nhận thức và hành động theo mục tiêu lý tưởng của mình.
  12. Như vậy, chúng ta thấy tình độ phát triển và hình thức biểu hiện của thế giới quan phát triển từ thấp đến cao, từ chưa khoa học đến khoa học, từ thế giới quan thần thoại đến thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. Từ thời cổ đại đến nay, cả ba hình thức thế giới quan này vẫn đồng thời tồn tại trong sự đan xen, thâm nhập vào nhau. Chúng có vị trí, vai trò khác nhau, ở các chế độ xã hội khác nhau, ở các cộng đồng người, các nhóm xã hội và các cá nhân khác nhau. Vấn đề trung tâm của mọi thế giới quan đều là mối quan hệ giữa con người với thế giới, cho nên tất cả các hình thức thế giới quan ở giai đoạn tương đối phát triển của nó đều có liên quan đến vấn đề cơ bản của triết học: đó là vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào từ đó có thể phân chia ra hai loại thế giới quan chủ yếu đối lập nhau là thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm. Lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa hai đường lối triết học cơ bản: thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm. Thế giới quan duy tâm thường gắn liền với tôn giáo và không thể đi đôi với khoa học. Thế giới quan duy vật gắn bó hữu cơ với khoa học tự nhiên và thể hiện tư tưởng của các lực lượng xã hội tiến bộ, đang lên.Thế giới quan duy vật cổ đại phản ánh thế giới một cách chất phác, mộc mạc nhưng về cơ bản đúng với những hiện tượng khách quan muôn màu, muôn vẻ. Kế thừa những tinh tuý của thế giới quan duy vật cổ đại, thế giới quan duy vật cận đại bằng phương pháp phân tích qua thực nghiệm đã giải phóng khoa học tự nhiên ra khỏi thần học, khẳng định trí tuệ con người đối với sự phản ánh hiện thực khách quan. Thế giới quan duy vật cận đại là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản cách mạng đang lên đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ lúc bấy giờ nên nó là vũ khí tư tưởng đấu tranh lật đổ phong kiến. Với việc giai cấp vô sản bước lên vũ đài lịch sử và sự ra đời của chủ nghĩa Mác, thế giới quan duy vật đã phát triển lên giai đoạn cao của nó là thế giới quan duy vật biện chứng. Nhờ sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng khoa học, chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để, duy vật không chỉ trong tự nhiên mà cả trong xã hội. Thế giới quan duy vật biện chứng đã giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội một cách đúng đắn nhất.
  13. 1.1.2. Cấu trúc của thế giới quan duy vật biện chứng Thế giới quan duy vật biện chứng được xây dựng trên những tiền đề kinh tế xã hội và những tư tưởng, văn hoá tiên tiến của nhân loại, của thời đại, mà trực tiếp nhất là được dựa trên cơ sở phản ánh khái quát, đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về mặt triết học những tư liệu do khoa học và thực tiễn mang lại. Thế giới quan duy vật biện chứng bao gồm ba nhân tố cơ bản đó là tri thức khoa học, niềm tin khoa học và lý tưởng cách mạng. - Tri thức khoa học Tri thức là yếu tố cơ bản để hình thành thế giới quan. Thế giới quan không thể có được nếu không có tri thức. Bất kỳ thế giới quan nào trước hết cũng chứa đựng những tri thức nhất định về thế giới. Tri thức khoa học là sự hiểu biết đúng đắn sâu sắc của con người về thế giới, là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn đúng đắn của con người trong hiện thực khách quan. Tri thức khoa học của con người có nhiều loại khác nhau như những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người hoặc cũng có thể đi sâu vào một lĩnh vực chuyên ngành hẹp như: tri thức về kinh tế, chính trị, văn hoá, tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, tri thức về ngôn ngữ, tin học…Trong nội dung tri thức khoa học của thế giới quan duy vật biện chứng, tri thức triết học Mác-Lênin đóng vai trò hạt nhân. Bởi vì, chính triết học lý giải về mặt thế giới quan và phương pháp luận của toàn bộ các sự kiện mà khoa học và thực tiễn đem lại và biểu hiện chúng dưới bức tranh khái quát về hiện thực khách quan. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở tri thức thì chưa hẳn đã có thế giới quan duy vật biện chứng. Tri thức khoa học chỉ gia nhập vào thế giới quan duy vật biện chứng khi nó trở thành niềm tin khoa học của con người. Chỉ khi đó thì tri thức mới trở nên bền vững và sâu sắc, mới có giá trị định hướng và là sức mạnh cho con người vươn lên cải tạo hiện thực. - Niềm tin khoa học Niềm tin khoa học là một nhân tố cơ bản trong cấu trúc của thế giới quan duy vật biện chứng. Niềm tin khoa học là đúng đắn và vững chắc bởi nó có cơ sở là tri thức lý luận khoa học với thực tiễn. Đó là sự hoà quyện một cách hữu cơ giữa tri thức, tình cảm và ý chí cá nhân trong mỗi con người hay mỗi cộng đồng xã hội. Toàn bộ những tri thức
  14. mà chủ thể đã lựa chọn và chấp nhận tạo nên sự rung cảm, cảm xúc, thái độ và ý chí sẵn sàng, quyết tâm hành động theo những mục tiêu xác định. Niềm tin khoa học được hình thành trên cơ sở tri thức khoa học. Niềm tin khoa học là nguồn gốc tích cực của mỗi cá nhân, mỗi tập đoàn người, mỗi giai cấp xã hội. Nó có vai trò như là một động lực thúc đẩy con người vươn tới khát vọng nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực với tư cách chủ thể của thế giới quan. Niềm tin khoa học chi phối một cách mạnh mẽ nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và hành động cách mạng của mỗi con người. Nó đòi hỏi hành động của mỗi người phải dựa trên cơ sở tri thức khoa học và tuân theo những giá trị và chuẩn mực đúng đắn của xã hội. Nếu con người làm một việc gì đó mà không có niềm tin vào sự đúng đắn của tri thức, của tư tưởng, thì họ sẽ bị mất đi những xung động của ý chí, nghị lực, lòng nhiệt tình và sự cổ vũ cần thiết đối với hiệu quả của bất kỳ công việc gì, đặc biệt là công việc có ý nghĩa to lớn đối với xã hội và giai cấp của mình. Con người trở thành người với ý nghĩa cao quý của nó chỉ khi nào được khích lệ bởi một niềm tin chân chính: C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh…là những con người điển hình đã có một niềm tin khoa học vững chắc vào giai cấp vô sản. Các bậc vĩ nhân đó không chỉ nắm vững chân lý mà còn là tấm gương sáng ngời về lối sống theo niềm tin khoa học. Niềm tin khoa học giúp cho con người tăng thêm nghị lực, củng cố ý chí, quyết tâm, giúp con người vượt qua mọi khó khăn, thử thách, những phút giây hiểm nghèo, thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì những mục tiêu mà mình cho là cao cả. Do vậy, niềm tin được xác lập trên cơ sở một tri thức khoa học sẽ có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển. - Lý tưởng cách mạng Lý tưởng là hình thức đặc biệt của thế giới khách quan, là ý thức về cái đang tồn tại và triển vọng phát triển của nó; là niềm tin nhìn vào thế giới như cái cần phải có theo khát vọng của cá nhân, của một tập đoàn người hoặc là của một giai cấp hay của cả một cộng đồng người rộng lớn.
  15. Trong cuộc sống của mình, con người không thể sống mà không có lý tưởng. Lý tưởng là trạng thái hoàn hảo nhất mà người ta mong muốn đạt tới. Lý tưởng thôi thúc con người hành động để thoả mãn các nhu cầu lợi ích. Những quan niệm của con người về tương lai, về lý tưởng sẽ hình thành một hình thức tâm lý với tư cách là niềm hy vọng cao cả tạo nên một sự khát khao hiến dâng cả bản thân mình cho tương lai. Lý tưởng mang tính lịch sử, nó có thể tiến bộ hay lạc hậu tuỳ thuộc vào hình thái của các quan hệ xã hội. Trong xã hội có giai cấp, lý t ưởng cũng mang tính giai cấp và mang tính đảng nhất định. Lý tưởng của giai cấp vô sản khác với lý tưởng của giai cấp tư sản; lý tưởng của Đảng cộng sản khác với lý tưởng của các đảng phản cách mạng… Lý tưởng cách mạng là một nhân tố quan trọng trong thế giới quan duy vật biện chứng về mặt định hướng cho toàn bộ hoạt động sống của cá nhân và tập đoàn xã hội hoặc giai cấp. Nó là một nhân tố kích thích sự phấn đấu vươn lên làm chủ của con người, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình. Sự phát triển của một cá nhân hay của tập đoàn người nào đó không chỉ quy vào sự tăng lên tri thức về thế giới, mà còn phụ thuộc vào sự tăng cường khả năng cải tạo thế giới, biến thế giới đang có thành thế giới cần phải có để đáp ứng nhu cầu phát triển của con người, của một tập đoàn hay của một giai cấp nào đó. Các nhà kinh điển Mác-Lênin đặc biệt nhấn mạnh tính tất yếu phải chú ý đến quá trình biến tri thức thành niềm tin, thành lý tưởng nhằm hướng chủ thể vào việc đạt tới chân lý và cải tạo hiện thực. Sống có lý tưởng đúng đắn, cao thượng sẽ làm cho mỗi người cách mạng có thái độ, lập trường sống, lao động, học tập và công tác tích cực, lành mạnh. Từ đó giúp họ vươn tới những giá trị, mục tiêu cao đẹp, đích thực như: lòng nhân ái, lòng vị tha và những phẩm chất chân, thiện, mỹ; đồng thời giúp cho họ biết đấu tranh phòng chống, ngăn chặn và đẩy lùi mọi cái ác, cái xấu, cái tiêu cực và lạc hậu trong xã hội. Tóm lại, ba nhân tố cơ bản trong cấu trúc của thế giới quan duy vật biện chứng luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động, đan xen và thâm nhập vào nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Trong ba nhân tố cơ bản cấu thành thế giới quan duy vật biện chứng, nhân tố “tri thức khoa học”, là nhân tố quan trọng nhất, có vai trò quyết định
  16. sự hình thành và phát triển thế giới quan duy vật biện chứng. Còn nhân tố “niềm tin khoa học” và “lý tưởng cách mạng” có vai trò trong quá trình biến tri thức thành hoạt động cải tạo thế giới phục vụ cho con người. 1.1.3. Đặc điểm của thế giới quan duy vật biện chứng Thế giới quan duy vật biện chứng là sản phẩm tinh thần của con người, phản ánh hiện thực thông qua nhu cầu, lợi ích, lý tưởng của cá nhân và xã hội, phát triển cùng với sự phát triển của nhận thức và thực tiễn xã hội. Thế giới quan duy vật biện chứng còn được hiểu là một hệ thống những tri thức về tự nhiên, xã hội và con người cùng những định hướng giá trị của con người trong quan hệ với hiện thực dựa trên việc giải quyết một cách duy vật biện chứng vấn đề cơ bản của triết học. Sự ra đời của thế giới quan duy vật biện chứng đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của thế giới quan triết học nói riêng, thế giới quan nói chung. Vì vậy, thế giới quan duy vật biện chứng có những khác biệt căn bản với các thế giới quan khác đã hình thành trong lịch sử. Trước hết, thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học. Thế giới quan duy vật biện chứng được hình thành trên cơ sở phản ánh khái quát về mặt triết học những thành tựu khoa học và thực tiễn. Toàn bộ các tri thức của nhân loại, đặc biệt là các tư tưởng triết học phương Tây từ thời cổ đại đã được C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin kế thừa có phê phán. Các ông đã tìm ra những hạt nhân hợp lý không chỉ của chủ nghĩa duy vật mà cả trong chủ nghĩa duy tâm, đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm của Hêghen. Những tư tưởng về kinh tế - chính trị, về chủ nghĩa xã hội không tưởng xuất hiện từ các thế kỷ trước đều được C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa có chọn lọc. Chính điều đó đã làm cho chủ nghĩa duy vật biện chứng như là sự kết tinh những tư tưởng tiến bộ của loài người. Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan mang tính cách mạng. Tính cách mạng thể hiện ở chỗ, thế giới quan duy vật biện chứng nó là cơ sở khoa học để phê phán chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức của nó, nó đối lập với chủ nghĩa duy vật tầm thường và cả chủ nghĩa duy vật siêu hình. Nó không thừa nhận bất cứ một cái gì là tuyệt đích, cuối cùng. Nó khẳng định sự phát triển là một nguyên lý phổ biến của thế giới khách quan. Nó chống lại mọi sự bảo thủ, trì trệ, ngưng đọng từ tư duy cho đến hành
  17. động. Vì vậy, nó tạo ra tinh thần cách mạng cho con người, tạo ra ý thức cải biến thế giới khách quan để phục vụ cuộc sống của con người. Thế giới quan duy vật biện chứng là vũ khí tư tưởng sắc bén nhất cho các ngành khoa học chống lại các tư tưởng phản khoa học. Đó là “một thế giới quan hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản”[32, tr.50]. Tính cách mạng của thế giới quan duy vật biện chứng còn thể hiện ở chỗ nó phục vụ nhu cầu cải tạo thế giới tư bản chủ nghĩa thành thế giới mới cộng sản chủ nghĩa mà giai cấp vô sản là người đi đầu trong cuộc cải tạo đó. C.Mác đã viết: “các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”[37, tr.12]. Như vậy, thế giới quan duy vật biện chứng có tính phê phán, tính chiến đấu cao. Thế giới quan duy vật biện chứng không chỉ giúp con người khám phá và giải thích thế giới mà còn giúp con người tìm ra cách cải tạo thế giới. Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học và cách mạng. Nó không hình thành một cách tự phát ở mỗi người cách mạng; trái lại, nó chỉ có thể được hình thành, phát triển một cách tự giác thông qua quá trình được giáo dục, bồi dưỡng, học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn cách mạng của chủ thể thế giới quan. Bởi vậy, tuỳ theo trình độ nhận thức, học vấn, kinh nghiệm, và cương vị công tác của mỗi người mà việc học tập, nghiên cứu và lĩnh hội tri thức khoa học nhằm nâng cao trình độ thế giới quan duy vật biện chứng có những cấp độ khác nhau. Cho nên, việc giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, thế giới quan duy vật biện chứng nói riêng cho đội ngũ cán bộ phải được tiến hành đồng thời với việc bồi dưỡng, nâng cao tri thức khoa học và khả năng, trình độ hoạt động thực tiễn của họ. 1.1.4. Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 1.1.4.1. Vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm cán bộ được hiểu như sau: “Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước. Cán bộ nhà nước. Cán bộ khoa học. Cán bộ chính trị. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ. Cán bộ tổ chức”[64, tr.109]. Cán bộ còn
  18. có bộ phận được coi là lực lượng chủ chốt là “cái khung, sườn” - “bộ phận nòng cốt” trong các quá trình hoạt động của xã hội. Đó là bộ phận “chủ chốt, quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt. Cán bộ chủ chốt của phong trào”[64, tr.174]. Cán bộ chủ chốt là “những người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong một tập thể, có quyền ra những quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định”[39, tr.35-36]. Có thể hiểu cán bộ chủ chốt là những người giữ vững cương vị lãnh đạo hay quản lý cao nhất có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc một hệ thống tổ chức đặc biệt là trong hệ thống chính trị. Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) cơ cấu tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta được phân chia thành bốn cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố, huyện, quận và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn). Trên một ý nghĩa nhất định, cấp cơ sở là tế bào của xã hội, sự phát triển của toàn xã hội là do sự phát triển của các đơn vị cơ sở hợp thành. Khi cơ sở còn yếu kém thì chưa thể nói đến sự vững mạnh của xã hội được. Ngược lại sự phát triển của xã hội cũng sẽ là điều kiện đảm bảo cho các cơ sở còn yếu kém phấn đấu vươn lên. Mối quan hệ giữa cấp cơ sở và toàn xã hội là mối quan hệ giữa cái bộ phận và cái toàn thể. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở được xác định bao gồm cấp uỷ viên mà trước hết là bí thư, phó bí thư Đảng uỷ, chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân, uỷ viên thường trực và những trưởng đầu ngành ở cơ sở là người quyết định mọi công việc ở cơ sở và là người chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân về sự thành công hay thất bại của sự nghiệp đổi mới ở cơ sở. Trong quan niệm của người Việt Nam, danh xưng “cán bộ” càng có ý nghĩa cao đẹp. Đó là một lớp người tiên phong, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khó, hy sinh cho cách mạng, phấn đấu vì lợi ích của nhân dân và dân tộc; là những người lãnh đạo và tổ chức các phong trào cách mạng đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Như vậy, trong mọi trường hợp, cán bộ chính là lực lượng chủ chốt trong đội ngũ những người sử dụng lực lượng thực tiễn để hiện thực hoá các tư tưởng, tổ chức thực hiện ý tưởng trong
  19. cuộc sống. Trong lĩnh vực hoạt động chính trị, cán bộ là những người “đứng mũi chịu sào” trong việc hoạch định thực thi các chính sách, quyết định không chỉ riêng lĩnh vực hoạt động chuyên ngành, mà hơn thế nữa, họ là những người đầu tiên chịu trách nhiệm về sự phát triển của xã hội. Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ trong các quan hệ kinh tế, dòng tộc và văn hoá. Cấp cơ sở có vị trí rất quan trọng, là cấp gần dân nhất, là cầu nối giữa Đảng, nhà nước với nhân dân, là nơi trực tiếp tổ chức thực thi pháp luật, chính sách của nhà nước, đưa đường lối chủ trương của Đảng vào thực tiễn đời sống xã hội. Đồng thời phản ánh tính hiệu lực của hệ thống thể chế, chính sách. Do đó, chất lượng hiện thực hoá các chính sách của các thể chế nhà nước, hành chính phụ thuộc rất lớn vào cấp này. Mọi đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước đều bắt nguồn từ cơ sở và hướng về cơ sở. Cấp cơ sở đồng thời là nơi trực tiếp thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu hợp pháp của nhân dân, cung cấp dịch vụ cho nhân dân; là nơi xây dựng và phát triển tiến trình dân chủ, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; là nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất; là nền tảng cơ bản của xã hội; là nơi có thể tổ chức huy động, phát huy cao độ nội lực của quần chúng nhân dân. Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cấp cơ sở là nơi động viên triệt để sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc. Trong công cuộc xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cấp cơ sở càng có vị trí vô cùng quan trọng. Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX) đã nhấn mạnh: “Đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”[14, tr.165]. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay Cấp cơ sở là nơi trực tiếp tổ chức mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương, bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; là nơi kiểm nghiệm, phản
  20. ánh và cung cấp một cách khách quan những căn cứ cho việc bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí, vai trò cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, luôn tăng cường xây dựng, củng cố, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này. Về mặt lý luận cũng nh ư thực tiễn đều khẳng định, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có vững, có mạnh thì địa phương mới mạnh, quốc gia mới mạnh được. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở giữ vai trò quyết định trong việc triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở tại cơ sở. Đồng thời, đội ngũ này còn tạo nên những thành tựu, cung cấp những bài học kinh nghiệm có giá trị, góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của đất nước. Trên thực tế hiện nay, một số xã, phường, thị trấn đang diễn ra tình trạng có một số chủ trương, nghị quyết, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước đã thực hiện không đến nơi đến chốn, thậm chí có lúc vi phạm nghiêm trọng gây hậu quả xấu. Nguyên nhân chính ở những nơi đó là do thiếu những cán bộ có năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng một cách năng động, sáng tạo và phù hợp với địa phương mình. Cấp cơ sở là địa bàn sinh sống của đại bộ phận dân cư; nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế xã hội của nhân dân; nơi trực tiếp và chủ yếu thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện sự quản lý của Nhà nước đối với nhân dân. Cho nên, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là cấp cuối cùng gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với bà con, là chỗ dựa của Đảng và Nhà nước, là nhịp cầu quan trọng nối Đảng với dân, đưa tư tưởng của Đảng đến với dân và phản ánh tình hình, nguyện vọng của nhân dân cho Đảng. Nhân dân tin Đảng, theo Đảng hay không, phần lớn và trực tiếp thông qua cán bộ cơ sở mà trước hết là cán bộ chủ chốt. Thông qua đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ý Đảng - lòng dân được thống nhất, làm cho Đảng và Nhà nước có sơ sở ăn sâu, bám rễ trong quần chúng, tạo nên máu thịt giữa Đảng với nhân dân, trực tiếp củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy vững mạnh và phong trào cách mạng quần chúng ở cơ sở.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2