intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:78

0
259
lượt xem
88
download

LUẬN VĂN: Vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

LUẬN VĂN: Vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay .Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong Văn kiện Đại hội Đảng IX Đảng ta khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn tiếp tục là nền tảng tư tưởng, là kim...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong Văn kiện Đại hội Đảng IX Đảng ta khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn tiếp tục là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam và là động lực tinh thần to lớn thúc đẩy sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH ở nước ta. Trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, công tác tư tưỏng, lý luận được Đảng ta đặc biệt quan tâm và coi trọng, nhất là việc giáo dục chính trị, tư tưởng đối với thế hệ trẻ là sinh viên, học sinh. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Cải tiến việc giảng dạy và học tập các bộ môn khoa học Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề” [31, tr.110-111]. Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa IX) bàn về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới đã chỉ ra 6 nhiệm vụ trong đó có nhiệm vụ: “đổi mới mạnh mẽ chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lý luận, coi trọng chất lượng và tính hiệu quả”, phải “đề cao và coi trọng giáo dục đạo đức công dân đặc biệt là trong các trường học, trong thanh thiếu niên” [32, tr.23]. Tuy nhiên, thực tế giáo dục chính trị, tư tưởng trong đó có giáo dục lý luận Mác- Lênin cho sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng ở nước ta trong thời gian vừa qua, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Trong một bộ phận sinh viên còn tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, sống thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp. Điều đó đã nói lên một trong những vấn đề bức xúc nhất hiện nay của giáo dục, như trong Văn kiện Hội nghị 6 (Khóa 9) đã chỉ ra: “Vấn đề bức xúc nhất trong giáo dục nước ta hiện nay là chất lượng giáo dục toàn diện, trước hết là chất lượng giáo dục chính trị, lý tưởng, đạo đức, lối sống, đặc biệt ở bậc cao đẳng, đại học” [34, tr.40-41]. Tình hình giáo dục lý luận Mác - Lênin trong các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc cũng không nằm ngoài cái chung đó. Để giáo dục lý
  3. luận Mác-Lênin cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc ngang tầm vị trí của nó thì vẫn còn đứng trước những hạn chế, khó khăn cần khắc phục đòi hỏi phải cùng với quá trình phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao trình độ dân trí của các tỉnh biên giới, còn phải giải quyết những vấn đề về đội ngũ giảng viên, về đổi mới phương pháp dạy và học các môn khoa học Mác-Lênin, về cơ sở vật chất, tài liệu, phương tiện cũng như cần phải có những hình thức, nội dung giáo dục lý luận Mác-Lênin phù hợp hơn. Vì thế việc nghiên cứu vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc là vấn đề cơ bản và cấp bách. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng đang được nhiều người quan tâm cho nên trong thời gian mấy năm gần đây xuất hiện nhiều bài báo, bài viết xung quanh vấn đề này ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Đăng trên các tạp chí, có nhiều bài quan tâm đến vấn đề này như: Tác giả Nguyễn Lương Bằng: “Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận Mác-Lênin ở các trường đại học hiện nay” Tạp chí Lý luận chính trị, số 7-2000; Tác giả Trần Tất Hùng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận Mác-Lênin” Tạp chí Giáo dục số 30 tháng 5-2002; Tác giả Lương Minh Cừ: “Một số ý kiến về công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên hiện nay” Tạp chí Giáo dục số 60 tháng 6-2003; Tác giả Lương Gia Ban: Tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và học tập lý luận, Tạp chí Triết học, 1-2004; Tác giả Lê Bình: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị” Lý luận chính trị số 3-2004; “Về phương pháp so sánh trong dạy học các khoa học Mác-Lênin” của tác giả Nguyễn Văn Hiền, tạp chí Giáo dục số 110 tháng 3-2005… Nghiên cứu ở trình độ luận văn thạc sĩ triết học có những luận văn: “Vai trò lý luận đối với qúa trình đổi mới xã hội ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ triết học của Phạm Đình Đạt 1993; “Giảng dạy triết học Mác-Lênin với việc nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên các trường đại học”, luận văn thạc sĩ triết học của Hoàng Thúc Lân 2003; “Thông tin với hoạt động giảng dạy lý luận Mác-Lênin ở các trường đại học (Qua thực tế các trường đại học ở Hà Nội”, luận văn thạc sĩ triết học của Phan Thị Thanh Hải 2003.
  4. Ngoài ra còn có những công trình tập thể khác: “Công tác tư tưởng và giảng dạy lý luận trong trường đại học và cao đẳng hiện nay” do Phạm Văn Năng chủ biên, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; “Quán triệt, vận dụng Nghị quyết Đại hội IX, nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2002 của Trung tâm bồi dưỡng cán bộ giảng dạy lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ; “Một số ý kiến trao đổi về phương pháp giảng dạy các môn khoa học lý luận Mác-Lênin ở đại học và cao đẳng” của tập thể tác giả Lê Xuân Nam, Lê Thanh Sinh, Nguyễn Thanh, Lương Minh Cừ, Hoàng Trung (Đồng chủ biên), Nxb TP.Hồ Chí Minh 2002; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học” do Nguyễn Duy Bắc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004… Nhìn chung, các công trình trên đã có đóng góp trong việc nêu rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò và yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận Mác - Lênin trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, đây là vấn đề rộng lớn và phức tạp cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Đặc biệt là vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc cũng chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống dưới góc độ triết học. Vì vậy, chúng tôi chọn: " Vấn đề giáo dục lý luận Mác - Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay " làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình. 3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn a. Mục đích Trên cơ sở phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra của giáo dục lý luận Mác- Lênin trong một số trường cao đẳng sư phạm biên giới phía Bắc nước ta hiện nay, luận văn đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc. b. Nhiệm vụ
  5. - Phân tích để làm rõ thực chất và biểu hiện đặc thù của giáo dục lý luận Mác- Lênin và tầm quan trọng của nó trong mục tiêu giáo dục toàn diện sinh viên các trường cao đẳng sư phạm nước ta hiện nay. - Làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra của giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên ở một số trường cao đẳng sư phạm biên giới phía Bắc. - Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta trong giai đoạn hiện nay. c. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta hiện nay. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề giáo dục lý luận Mác-Lênin chủ yếu thông qua con đường dạy và học các môn khoa học Mác-Lênin (Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học) ở một số trường cao đẳng sư phạm tỉnh biên giới phía Bắc nước ta hiện nay (Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai). 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn - Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục lý luận Mác-Lênin. Các quan điểm của Đảng ta về giáo dục-đào tạo và giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, luận văn có tham khảo, kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đã được công bố. - Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, một số phương pháp nghiên cứu khoa học: phân tích-tổng hợp, lịch sử-lôgíc, thống kê, điều tra xã hội học cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn - Đề tài góp phần vào việc khảo sát, phân tích thực trạng giáo dục lý luận Mác- Lênin trong một số trường cao đẳng sư phạm biên giới phía Bắc.
  6. - Góp phần đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta trong giai đoạn hiện nay. 6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được làm tài liệu tham khảo cho các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc nghiên cứu trong việc: - Xây dựng tiêu chuẩn, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin ở các trường cao đẳng sư phạm các tỉnh biên giới phía Bắc - Xây dựng kế hoạch thực hiện những hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho sinh viên ở nhà trường, xác định tiêu chuẩn đánh giá học sinh-sinh viên. - Xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận Mác-Lênin phù hợp đối tượng sinh viên trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh biên giới phía Bắc. - Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho đội ngũ giáo viên giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin ở các trường cao đẳng sư phạm biên giới phía Bắc nghiên cứu trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học các môn khoa học Mác-Lênin. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
  7. Chương 1 Giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở nước ta hiện nay 1.1. Một vài nét về giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên ở nước ta hiện nay 1.1.1. Lý luận Mác-Lênin và những đặc trưng của nó Để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người không ngừng tác động vào thế giới khách quan để cải tạo và chinh phục nó. Muốn làm được điều đó, con người phải hiểu biết, phải có tri thức về thế giới nhưng những tri thức đó không có sẵn trong con người, không được đem lại cho con người dưới dạng “bẩm sinh”. Muốn có tri thức con người phải tiến hành một hoạt động đặc biệt - hoạt động nhận thức - một hoạt động đặc trưng của loài người. Nhận thức được diễn ra không đơn giản thụ động, máy móc mà là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách năng động, sáng tạo và biện chứng. Sở dĩ như vậy bởi vì sự xuất hiện và bản chất của nhận thức luôn gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người. Chính thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới mà nhận thức của con người mới được hình thành và không ngừng phát triển từ thấp đến cao, từ tri thức kinh nghiệm đến tri thức lý luận. Tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận là hai trình độ khác nhau của quá trình nhận thức, chúng thống nhất với nhau, tác động, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau. Trong cuộc sống, tri thức kinh nghiệm có vai trò rất to lớn, giúp con người điều chỉnh hành vi và có những quyết sách đúng đắn, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, về các mối liên hệ bên ngoài của sự vật, chưa nắm được cái tất yếu sâu sắc, mối quan hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng. Chính vì vậy, không được xem nhẹ tri thức kinh nghiệm, nhưng càng không được tuyệt đối hoá vai trò của nó. Nhận thức của con người cần phải phát triển lên một trình độ cao hơn, sâu sắc, đầy đủ hơn, đó là trình độ lý luận. Lý luận là phạm trù rộng lớn, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của tri thức loài người. Theo sự phát triển của lịch sử, có rất nhiều cách định nghĩa và khái niệm này ngày càng được hiểu một cách đầy đủ và phong phú hơn.
  8. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Lý luận là hệ thống những tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn. Lý luận là những kiến thức được khái quát và hệ thống hoá trong một lĩnh vực nào đó” [74, tr.544-545]. Từ điển triết học định nghĩa “Lý luận là sự tổng hợp các tri thức về tự nhiên và xã hội tích luỹ được trong quá trình”, là “hệ thống tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức” [76, tr.526]. Từ điển triết học của nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva định nghĩa: “Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn bộ những tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgic của các khái niệm cái lôgíc khách quan của các sự vật” [85, tr.342-343]. “Lý luận -theo Hồ Chí Minh - là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [55, tr.497]. Quan niệm này của Hồ Chí Minh đã góp phần làm sáng tỏ quan niệm triết học về lý luận, nêu ra nguồn gốc, cách thức, con đường hình thành lý luận. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về lý luận, nhưng đều thống nhất ở chỗ: Lý luận là sản phẩm của quá trình tư duy của con người, được hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú đa dạng của con người; là tổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội được tích luỹ trong quá trình lịch sử của con người. Xét về bản chất, lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của các sự vật hiện t ượng trong một lĩnh vực nào đó của hiện thực khách quan. Lý luận Mác-Lênin là thuật ngữ chỉ học thuyết cách mạng do Mác-Ăngghen sáng lập và được Lênin kế thừa, phát triển một cách sáng tạo. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác- Lênin là sự giải đáp về mặt lý luận những vấn đề thời đại đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác-Lênin là sản phẩm tất yếu của những điều kiện kinh tế-xã hội TBCN giữa thế kỷ XIX, đồng thời là sự phát triển hợp quy luật của lịch sử tư tưởng nhân loại. Thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác” không phải xuất hiện ngay từ đầu mà xuất hiện vào đầu những năm 80 của thế kỷ XIX. Bản thân Ăngghen đã xác nhận “Nếu không có Mác thì lý luận thật khó mà được như ngày nay. Vì vậy, lý luận đó mang tên của Mác là điều
  9. chính đáng” [67, tr.428]. Nhận định trên của Ăngghen cho thấy thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác” và thuật ngữ “Lý luận Mác” có nội dung tương đồng nên thuật ngữ này thường được dùng như nhau. Vào giữa những năm 20 của thế kỷ XX, thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác-Lênin” xuất hiện ở Nga, I.V.Xtalin đã viết “chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản” là sự “phát triển chủ nghĩa Mác trong những điều kiện mới” [90, tr.6], là hình thức cao của chủ nghĩa Mác. Từ đó, thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác-Lênin” đã được các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế thừa nhận. ở Việt Nam, vào năm 1924 Hồ Chí Minh đã dùng thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác”: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” [53, tr.465]. Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”(1927), Hồ Chí Minh đã dùng thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác- Lênin”: “Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” [54, tr.280]. Thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác” và thuật ngữ “Chủ nghĩa Mác-Lênin” được dùng ở nước ta từ đó đến nay. Để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình giai cấp vô sản với tư cách là một giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất trong lịch sử, tất yếu phải có hệ tư tưởng của mình, phải trang bị cho mình vũ khí lý luận trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Nh ư Lênin nói: “Chỉ Đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [59, tr.32]. Hệ tư tưởng đó của giai cấp vô sản chính là lý luận Mác - Lênin. Lý luận Mác-Lênin với ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế chính trị học và CNXH khoa học là một học thuyết có hệ thống lý luận và phương pháp luận rất chặt chẽ. Những phát kiến của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin về quan điểm duy vật về lịch sử, lý luận về giá trị thặng dư, vai trò sứ mệnh của giai cấp vô sản là những phát kiến có ý nghĩa vạch thời đại mở ra con đường đi lên của các quốc gia dân tộc và của cả nhân loại. Những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng vô sản, của con đường xây dựng XHCN, được các ông đưa ra là những định hướng quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng xây dựng CNXH ở các nước khác nhau trên thế giới. Lý luận Mác-Lênin là “cẩm nang” cho các Đảng cộng sản và những người cách mạng trong quá trình suy nghĩ và tìm tòi
  10. giải pháp để giải quyết các vấn đề lịch sử cụ thể mà cuộc đấu tranh cách mạng của mỗi nước và của thời đại đặt ra. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã kế thừa tất cả những giá trị tư tưởng và văn hoá của nhân loại đã có từ trước, là sự khái quát, đúc kết những kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực khác nhau. Lý luận Mác-Lênin luôn luôn gắn liền với thực tiễn phong trào cách mạng, thực tiễn vận động của lịch sử, của sự phát triển khoa học kỹ thuật với cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận chống lại các học thuyết tư sản, chủ nghĩa cơ hội, xét lại, cải lương. Sức mạnh của lý luận Mác-Lênin chính là ở chỗ gắn bó hữu cơ với thực tiễn xã hội, được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển trong thực tiễn. Nó hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa giáo điều xơ cứng, vì bản chất là học thuyết về sự phát triển, của sự phát triển, bao hàm cả sự phát triển. Trong thời đại ngày nay, lý luận Mác-Lênin vẫn tiếp tục thể hiện sức sống của nó trong tiến trình nhân loại xây dựng một thế giới hoà bình và tiến bộ. Với nước ta, trong văn kiện Đại hội Đảng IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [31, tr.83]. Lý luận Mác-Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là “kim chỉ nam”, là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước ta tiến bước vững chắc lên CNXH. Lý luận Mác - Lênin có những đặc trưng sau: Một là, tính trừu tượng hoá và tính khái quát hoá cao Trừu tượng hoá, khái quát hoá là hai quá trình có mối liên hệ chặt chẽ không thể tách rời nhau, chúng xâm nhập lẫn nhau, bổ sung cho nhau. Thông qua các thao tác này của tư duy mà con người có được tri thức về mối liên hệ bản chất, tính quy luật của sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng. Các hình thức thể hiện của lý luận nói chung, lý luận Mác-Lênin nói riêng như khái niệm, phạm trù, các nguyên lý... đều là sản phẩm của quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá cao của tư duy con người trong quá trình nhận thức thế giới. Nếu tư duy kinh nghiệm nhờ quan sát trực tiếp mà rút ra kết luận, thì tư duy lý luận dựa trên tri thức đã có để tạo nên tri thức mới bằng con đường trừu tượng hoá, khái
  11. quát hoá. Để hình thành lý luận, tư duy khái quát hoá, trừu tượng hoá những tri thức kinh nghiệm, “lọc bỏ”, “cải tạo” những hiện tượng phản ánh xa rời bản chất để từ đó hình thành những khái niệm, phạm trù, các nguyên lý... Với sức mạnh của sự trừu tượng hoá, khái quát hoá, lý luận trên cơ sở nắm bắt được những mối liên hệ khách quan bản chất mà phát hiện những quy luật vận động, phát triển của các sự vật hiện tượng, đem lại cho con người “hình ảnh chân thật của đối tượng” nhờ đó mà con người có thể cải tạo thế giới theo yêu cầu và mục đích của mình. Mang đặc trưng này nên lý luận Mác-Lênin là hệ thống tri thức đem lại cho con người sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính quy luật của các mối liên hệ tất nhiên trong sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng. Đây là một hệ thống tri thức lý luận khoa học, đúng đắn cả trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống lý luận này trở thành kim chỉ nam cho con người nhận thức và cải tạo thế giới. Hai là, tính hệ thống, lôgic, chính xác và chặt chẽ Lý luận là một hệ thống có mối liên hệ bên trong chặt chẽ. Mỗi khái niệm, phạm trù, nguyên lý phản ánh những khía cạnh khác nhau của sự vật hiện tượng nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, mang lại cho con người tri thức về sự vật hiện tượng trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó, giúp con người có cái nhìn toàn diện, chính xác về sự vật hiện tượng. Đem lại cho con người một bức tranh chân thật về hiện thực khách quan, tránh mọi “ảo tưởng” mù quáng mê hoặc, xuyên tạc sự thật, gạt bỏ thần bí siêu tự nhiên. Do vậy, lý luận trở thành lý luận khoa học khi là một hệ thống mang tính chỉnh thể, toàn vẹn, thống nhất, với khả năng phản ánh chính xác sự vật hiện tượng như nó đã tồn tại, vận động và phát triển. Trên cơ sở đó có thể dự báo được xu hướng vận động và phát triển của sự vật hiện tượng. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận điển hình về tính chính xác và lôgic chặt chẽ, có tác dụng tích cực đối với hoạt động thực tiễn của con người, làm cho “Trí tuệ” con người tìm thấy nhiều điều kỳ diệu trong tự nhiên và sẽ tìm thấy nhiều hơn nữa do đó làm tăng thêm quyền lực của mình đối với tự nhiên. Với đặc trưng này đòi hỏi việc nghiên cứu lý luận Mác-Lênin không được tuỳ tiện, hời hợt, đơn giản, không thể là sự tuỳ tiện chắp vá, cắt xén.
  12. Ba là, tính gắn bó, liên hệ, thống nhất với thực tiễn Thống nhất lý luận -thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận khoa học nói chung và của lý luận Mác-Lênin nói riêng. Thực tiễn -lý luận và lý luận - thực tiễn là những vòng khâu nối tiếp, vô tận trong sự phát triển không ngừng của cả lý luận và thực tiễn. Lý luận thuộc lĩnh vực hoạt động tinh thần còn thực tiễn thuộc hoạt động vật chất. Trong mối quan hệ này, theo tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, thực tiễn đóng vai trò quyết định. Lênin còn khẳng định: thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà cả tính hiện t hực trực tiếp. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, lý luận có tồn tại, có sức sống hay không phụ thuộc vào mức độ phù hợp, vai trò định hướng, gợi mở, chỉ dẫn, giải quyết những vấn đề của đời sống thực tiễn. Lý luận là sản phẩm của thực tiễn, nó gắn liền với thực tiễn nhưng lý luận một khi đã hình thành thì có tính độc lập tương đối, tác động trở lại thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Lý luận vạch ra phương hướng cho thực tiễn, chỉ ra phương pháp hoạt động có hiệu quả nhất để đạt mục đích. Lý luận đem lại sức mạnh cho con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới. Nếu không có nhận thức đúng thì không thể có hành động đúng. Nhờ có lý luận, hành động của con người trở nên tự giác, tích cực chủ động và tránh được tự phát, mò mẫm. Như vậy giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng. Chúng tác động, bổ sung làm phong phú lẫn nhau, là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của nhau. Hồ Chí Minh đã khẳng định “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin” [55, tr.496]. Theo Hồ Chí Minh, lý luận sẽ là lý luận suông, lạc hậu, giản đơn, không có tính khoa học nếu xa rời thực tiễn. Thực tiễn sẽ trở thành mù quáng, tự phát nếu không có lý luận soi đư ờng. Lý luận Mác- Lênin là sự khái quát thực tiễn cách mạng và lịch sử xã hội, là sự đúc kết những kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực khác nhau. Sức mạnh của nó chính là ở chỗ gắn bó hữu c ơ với thực tiễn xã hội, được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển trong thực tiễn. Bốn là, thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng Nói tới tính Đảng là nói tới tính giai cấp, còn tính khoa học là sự phản ánh đúng thực tế khách quan, tôn trọng sự thật. Lý luận Mác-Lênin bao hàm trong nó đặc trưng thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học.
  13. Lý luận Mác-Lênin là tư tưởng của giai cấp công nhân, phản ánh khách quan nhu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, phù hợp với nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới, cho nên lý luận đó đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng. Trong lý luận Mác-Lênin, tính Đảng và tính khoa học có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tính Đảng càng cao thì tính khoa học càng sâu sắc. Lý luận Mác-Lênin có mục đích cao cả là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN nên nhiệm vụ quan trọng của nó là định hướng cho con người nhận thức đúng thế giới để có thể cải tạo được thế giới. Khi đó tính khoa học là tiền đề, cơ sở và tính Đảng giữ vai trò định hướng để loại trừ cái cũ, cái đã lỗi thời, lạc hậu, xây dựng cái mới tiến bộ, hợp quy luật. Lênin coi chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở lý luận vững như đá hoa cương, có “sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội), với tinh thần cách mạng” [58, tr.421]. Do vậy, “Khoa học càng được tiến hành một cách dũng cảm và vô tư thì nó cũng phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của giai cấp công nhân” Thực tiễn cho thấy việc xuyên tạc sự thật thường gắn liền với sự xa rời lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp công nhân. Mọi cách xem xét, đánh giá hiện thực trái với quan điểm, lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân đều không phản ánh đúng xu hướng phát triển của lịch sử. Xuất phát từ lợi ích của các giai cấp phi vô sản hoặc chịu ảnh hưởng của những tư tưởng ấy sẽ không bao giờ phản ánh đúng sự thật lịch sử và như thế sẽ không có tính Đảng và tính khoa học. Cho nên, là một lý luận, lý luận Mác-Lênin sẽ là khoa học khi đảm bảo thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học, đây cũng là đặc trưng cơ bản mang tính chất cách mạng, tính khoa học của lý luận Mác-Lênin. Ngoài những đặc trưng cơ bản trên lý luận Mác-Lênin còn một số dặc trưng khác như tính kế thừa, là hệ thống mở có thể bổ sung và phát triển... Với ý nghĩa là lý luận khoa học, lý luận Mác-Lênin giúp cho các Đảng cộng sản - Đội tiền phong của giai cấp công nhân hoàn thành được nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng XHCN. Đảng ta khẳng định quyết tâm giữ vững định hướng XHCN, cho nên rất quan tâm đến giáo dục lý luận Mác-Lênin với đầy đủ các đặc trưng trên.
  14. 1.1.2. Thực chất và biểu hiện đặc thù của giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên nước ta hiện nay Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt mà bản chất của nó là truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kinh nghiệm của các thế hệ loài người. Nhờ đó, các thế hệ nối tiếp nhau kế thừa, bổ sung và phát triển những kiến thức và kinh nghiệm của thế hệ trước, trên cơ sở đó mà nhân loại ngày càng phát triển. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Giáo dục, đó là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng giáo dục để đối tượng dần dần có được những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng được yêu cầu giáo dục đặt ra [74, tr.282]. Dưới góc độ triết học, giáo dục được xem là một quá trình hai mặt, một mặt đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục (sự tác động của tri thức, văn hoá nhân loại thông qua nhà sư phạm đến đời sống của học sinh, sinh viên); mặt khác (chủ yếu hơn) là thông qua sự tác động này mà làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng mình lên qua giáo dục. Ngày nay, giáo dục được coi là một yếu tố giải phóng tiềm năng con người, được coi như một lực lượng sản xuất trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, đào tạo lớp người có đủ khả năng giải quyết các mâu thuẫn của thời đại. Phát triển giáo dục trở thành đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững. Giáo dục lý luận Mác-Lênin có nghĩa là quá trình tác động vào đối tượng giáo dục bằng cách giải thích, tuyên truyền những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, phân tích một cách khoa học những khái niệm, những quy luật, những quan điểm... nhằm làm cho họ nắm được những kiến thức về lý luận Mác-Lênin, trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở khoa học cho nhận thức và niềm tin vững chắc vào con đường đi lên CNXH và CNCS. Giáo dục lý luận Mác-Lênin giúp hình thành và nâng cao phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, hướng dẫn đối tượng giáo dục biết vận dụng những hiểu biết ấy vào thực tiễn cách mạng. Giáo dục lý luận Mác-Lênin, theo Lênin, chủ yếu là đem lại cho quần chúng nhân dân lao động những hiểu biết về quy luật phát triển của xã hội, về thế giới quan khoa học,
  15. biến nó thành niềm tin, lý tưởng, những nguyên tắc đạo đức, giúp gạt bỏ những tàn dư của tư tưởng cũ, lạc hậu, tiếp thu tư tưởng mới, tư tưỏng tiên tiến. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác giáo dục nói chung, giáo dục lý luận Mác-Lênin nói riêng. Theo Người, giáo dục lý luận Mác-Lênin tác động trực tiếp đến con người, đến tư tưỏng, đạo đức và khả năng thực hành công việc của mỗi người, giúp họ khắc phục những tư tưởng lạc hậu, nâng cao tư tưởng chính trị, tinh thần tự giác và tính tích cực trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội mới. Thực chất của giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên ở nước ta là đưa một lý luận khoa học tiên tiến nhất xâm nhập vào lực lượng xã hội ưu tú, hình thành ở đội ngũ trí thức tương lai của đất nước có đủ phẩm chất chính trị, bản lĩnh và trí tuệ để bảo vệ và xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Giáo dục thông qua giảng dạy sẽ là con đường ngắn nhất và có hiệu quả nhất làm cho giáo dục đạt đến chiều sâu vững chắc. Vì thế, tính đặc thù của giáo dục lý luận Mác- Lênin cho sinh viên chủ yếu được biểu hiện thông qua tính đặc thù của môn học, của đội ngũ giáo viên giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin đồng thời làm công tác giáo dục lý luận Mác-Lênin trong các nhà trường đại học, cao đẳng ở nước ta. Cụ thể là: Thứ nhất, đặc thù của môn học. Khoa học Mác-Lênin là một nhóm ngành khoa học thuộc khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu những quy luật, tính quy luật làm cơ sở khoa học để phản ánh và phục vụ sự nghiệp cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH và CNCS trên phạm vi toàn thế giới. Nội dung cốt lõi của khoa học Mác-Lênin là các quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Phương pháp nghiên cứu của khoa học Mác-Lênin là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Hiện nay, khoa học Mác-Lênin được giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng ở nước ta bao gồm các môn học chính: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, CNXH khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là các bộ môn cứng (bắt buộc ) với thời lượng chiếm khoảng 8,5% tổng quỹ thời gian đào tạo của một khoá học.Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên chủ yếu thông qua việc dạy và học ba môn
  16. khoa học Mác-Lênin cơ bản là: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin và CNXH khoa học. Về nội dung, các môn khoa học Mác-Lênin là một hệ thống lý luận thống nhất của ba môn khoa học: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong đó: Triết học là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, nó đem lại cho con người thế giới quan khoa học và phương pháp luận nhận thức đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới. Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu phương thức sản xuất TBCN, vạch rõ sự bóc lột của nhà tư bản với giai cấp công nhân lao động, chỉ rõ những quy luật kinh tế chủ yếu đưa CNTB tới chỗ diệt vong, nêu những tiền đề kinh tế và xã hội của chế độ mới được hình thành trong lòng chế độ xã hội cũ và quá trình xây dựng và phát triển kinh tế theo định hướng XHCN. CNXH khoa học nghiên cứu những quy luật chuyển biến từ xã hội TBCN lên CNXH và phương hướng xây dựng xã hội mới. Quá trình xã hội hoá lao động dưới CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời có tính tất yếu của CNXH. Động lực trí tuệ và tinh thần của sự chuyển biến này là chủ nghĩa Mác-Lênin, lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến này là giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Các môn lý luận Mác-Lênin tuy có đối tượng, phương pháp và nội dung nghiên cứu riêng, song đều nhằm mục đích chung là trang bị cho sinh viên một hệ thống lý luận khoa học, tiên tiến, mang bản chất của giai cấp công nhân, để sinh viên có một trình độ nhận thức nhất định về lý luận Mác-Lênin, trên cơ sở đó hình thành niềm tin vào sự đúng đắn của lý luận Mác-Lênin, nhất là tin tưởng vào con đường đi lên CNXH của đất nước ta. Thứ hai, đặc thù của đội ngũ giáo viên lý luận Mác-Lênin. Trong hệ thống giáo dục ở nước ta, bất cứ người giáo viên giảng dạy một môn khoa học nào cũng đều phải có phẩm chất chính trị của giai cấp công nhân, đặc biệt là ở người giáo viên lý luận Mác-Lê nin. Yêu cầu này xuất phát từ bản chất của lý luận Mác-Lênin là thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng. Đối với người giáo viên lý luận Mác-Lênin thì phẩm chất chính trị đòi hỏi phải là một chiến sĩ cộng sản rất mực trung thành với lý luận Mác-Lênin, tư tưởng HCM và sự nghiệp cách mạng XHCN của dân tộc. Thực hiện và quán triệt nguyên tắc tính Đảng là yêu cầu cơ bản, thường xuyên đối với đội ngũ này. Người giáo
  17. viên lý luận Mác-Lênin không những phải nắm vững lý luận đó mà còn phải tin tưởng tuyệt đối vào nó. Họ phải là người làm gương trước mọi người về phẩm chất chính trị, lập trường của giai cấp công nhân, nếu không sẽ rất khó thuyết phục được người học. Khác với giáo viên các môn khoa học khác, các giáoviên lý luận Mác-Lênin dù đã là Đảng viên hay đang phấn đấu trở thành Đảng viên thì đều được coi là những chiến sĩ của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, nhất là trong tình hình hiện nay. Người giáo viên lý luận Mác-Lênin phải luôn quan tâm, bám sát, nhạy cảm với tình hình chính trị xã hội, gắn lý luận Mác-Lênin và đường lối của Đảng với thực tiễn cách mạng và đời sống. Người giáo viên lý luận Mác-Lênin vừa phải có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng trong sáng - đó là “cái gốc cơ bản”, vừa phải có kiến thức khoa học - đó là điều kiện cơ bản nhất để người giáo viên thực hiện thành công chức năng giáo dục của mình. Kiến thức này đòi hỏi hai mặt: Một mặt, phải đạt trình độ nhuần nhuyễn về lý luận Mác- Lênin; mặt khác, phải có kiến thức nhất định về các khoa học cơ bản, về khoa học bổ trợ. Lý luận Mác-Lênin là môn khoa học lý luận chính trị - xã hội có tính trừu tượng, khái quát hoá cao. Tính trừu tượng, khái quát hoá cao của các môn khoa học Mác-Lênin được biểu hiện ở nhiều khía cạnh. Nhìn từ tổng thể từ đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu cho đến hệ thống khái niệm, phạm trù với tư cách là kết quả vận dụng phương pháp để khảo sát đối tượng đều mang tính đặc thù đó. Chính vì vậy, để việc giáo dục lý luận Mác-Lênin đạt hiệu quả, người giáo viên không những cần có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, nắm vững kiến thức chuyên ngành, đa ngành, kiến thức về thực tiễn chính trị xã hội, am hiểu và trải nghiệm thực tiễn chính trị xã hội mà còn phải có kỹ năng phương pháp giảng dạy, kỹ năng tuyên truyền, tổ chức vận động, hướng dẫn sinh viên. Giảng dạy lý luận Mác-Lênin không chỉ phải đảm bảo tính khoa học còn phải đảm bảo tính Đảng, tính giai cấp sâu sắc.Tính Đảng, tính giai cấp và tính khoa học là tiền đề tồn tại, là điều kiện thúc đẩy nhau phát triển. Ngoài ra, tính đặc thù của giáo dục lý luận Mác-Lênin còn được biểu hiện trong mục tiêu giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ...cho sinh viên, giáo dục lý luận Mác-Lênin có tầm quan trọng bao trùm để hình thành một con người phát triển toàn diện. Điểm chú ý của giáo dục lý luận Mác-Lênin là rất nhạy cảm với mọi sự đổi thay của môi trường xã hội, chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xã hội. Mọi sự biến đổi
  18. của đất nước cũng như quốc tế đều có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giáo dục lý luận Mác- Lênin. Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hoá đang đặt ra những cơ hội cũng như thách thức cho nền kinh tế còn kém phát triển của nước ta. Bên cạnh đó nền kinh tế nước ta đang từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cùng với những mặt tích cực thì cũng kéo theo những hiện tượng tiêu cực như: tình trạng suy thoái đạo đức, nạn tham nhũng, quan liêu, phân hoá giàu nghèo...Tất cả những cái đó đều tác động rất lớn đến việc giáo dục lý luận Mác- Lênin cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng. 1.2. Tầm quan trọng của giáo dục lý luận Mác-Lênin cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm ở nước ta hiện nay Trước hết phải khẳng định vai trò của công tác giáo dục lý luận Mác-Lênin bắt nguồn từ vai trò của lý luận Mác-Lênin đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định rằng, nếu tiến hành cách mạng một cách tự phát thì giai cấp công nhân và nhân dân lao động không thể lật đổ được chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới. CNXH là kết quả hoạt động tự giác của hàng triệu người lao động. Trình độ hoạt động tự giác của quần chúng cao hay thấp tuỳ thuộc ở trình độ giác ngộ của họ về mục tiêu cần đạt tới, về con đường và phương pháp để thực hiện mục tiêu ấy. Chính công tác giáo dục lý luận Mác- Lênin góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ giác ngộ đó, thúc đẩy nhân dân hoàn thành tốt những nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Chủ nghĩa Mác-Lênin khi được truyền bá vào Việt nam đã tạo nên bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng Việt nam. Đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam đã làm nên những trang sử oanh liệt. Như vậy rõ ràng là: Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản [52, tr.128] Giáo dục là tương lai của dân tộc. Như Hồ Chí Minh nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến
  19. lược giáo dục đào tạo trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Hội nghị Trung ương 4 khoá VII đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình phát triển giáo dục của nước ta. Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã đưa ra một chủ trương đúng đắn là coi “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [28, tr.107]. Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [31, tr.108-109]. Muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn xã hội cũ - xã hội XHCN và CSCN cần phải có những con người XHCN. Chính vì vậy, Đảng ta xác định, nhiệm vụ của giáo dục Việt nam trong giai đạon hiện nay là phải “xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng ĐLDT và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; CNH-HĐH đất nước” “là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ” [29, tr.28-29]. Mục tiêu đào tạo của các trường CĐSP là đào tạo ra đội ngũ các nhà giáo tương lai ở các cấp học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Họ là những người làm nghề dạy học, đây là một nghề đặc biệt, đối tượng là con người và sản phẩm cũng chính là con người. Vì vậy, nghề dạy học được coi là một nghề cao quý nhưng cũng có trách nhiệm rất nặng nề, luôn được cả xã hội quan tâm. Theo mục tiêu giáo dục hiện nay, sinh viên các trường CĐSP phải đáp ứng được những yêu cầu: Có đủ năng lực chuyên môn và nghiệp vụ (dạy hệ tiểu học với sinh viên cao đẳng tiểu học, dạy hai môn thuộc chuyên ngành đào tạo đối với sinh viên hệ cao đẳng trung học cơ sở, làm giáo viên chủ nhiệm...); Ngoài ra, còn phải có những phẩm chất cơ bản của giáo viên nhà trường XHCN là phải thấm nhuần thế giới quan Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước, yêu CNXH, yêu học sinh, yêu nghề, có ý thức trách nhiệm xã hội, đạo đức, tác phong người thầy giáo. Giáo dục lý luận Mác-Lênin có tầm quan trọng đặc biệt đến việc học tập và rèn luyện của sinh viên các trường CĐSP, đến việc giáo dục của nhà trường và đến sự nghiệp giáo dục đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Khẳng định điều đó là do:
  20. Thứ nhất, giáo dục lý luận Mác-Lênin góp phần hình thành thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và phương pháp luận khoa học cho sinh viên Sự hình thành và phát triển thế giới quan được coi là một trong những tiêu chí quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Trong thế giới quan có sự thống nhất của tri thức, niềm tin, lý trí và tình cảm. Nhưng tri thức chỉ gia nhập thế giới quan khi chuyển thành niềm tin và trên cơ sở có niềm tin, tri thức mới trở thành cơ sở cho hành động. Như vậy niềm tin có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người, nhờ có nó, giúp con người có nghị lực, vượt mọi khó khăn trong cuộc sống để phấn đấu cho một lý tưởng cao đẹp. Nhân sinh quan cách mạng là hệ thống quan niệm về cuộc đời, về ý nghĩa mục đích cuộc sống của người cộng sản. Nhân sinh quan cách mạng được hình thành trên cơ sở thế giới quan khoa học Mác-Lênin. Theo Hồ Chí Minh: “Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng” [57, tr.92]. Sinh viên là một loại đối tượng rất nhạy cảm, khát khao khám phá cái mới để tự khẳng định vị thế xã hội của mình. Chính thông qua việc giáo dục lý luận Mác-Lênin sẽ là tiền đề cho sinh viên xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và cách mạng; xây dựng niềm tin khoa học, củng cố định hướng chính trị, tăng cường lập trường giai cấp vững vàng, giúp họ sống, lao động và học tập vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, kiên trì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Trong tình hình chính trị xã hội trong nước và quốc tế sau sự kiện sụp đổ CNXH ở Liên xô và các nước Đông Âu đang diễn ra những diễn biến rất phức tạp. Lợi dụng sự khủng hoảng tạm thời của các nước XHCN, các thế lực thù địch đã tấn công vào sự nghiệp xây dựng CNXH của nước ta bằng con đường diễn biến hoà bình, được gọi là cuộc chiến không tiếng súng để nói lên tính chất thâm độc và quyết liệt của nó. Chúng âm mưu thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam, nhằm làm tan rã ta từ bên trong để xoá bỏ chế độ XHCN ở nước ta: Chúng rêu rao rằng con đường đi lên CNXH mà chúng ta lựa chọn là không thể thực hiện được, chúng vu cáo Đảng ta chuyên quyền độc đoán, nhằm chia rẽ nhân dân với Đảng và Nhà nước; lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu để nói xấu, bôi nhọ Đảng và nhà nước nhằm tách dân với Đảng. Đặc biệt chúng còn tấn công vào lực lượng ưu tú của xã hội, những người chủ tương lai
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2