intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở Hải Phũng hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:98

0
117
lượt xem
33
download

LUẬN VĂN: Vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở Hải Phũng hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở hải phũng hiện nay', luận văn - báo cáo, thạc sĩ - tiến sĩ - cao học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở Hải Phũng hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở Hải Phũng hiện nay
  2. mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Đạo đức cách mạng là nền đạo đức tích tụ nhiều giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và đạo đức nhân loại. Nó có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhân tố có sức mạnh to lớn đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ta hơn nửa thế kỷ qua. Nó đã trở thành nền tảng đạo đức xã hội ta, một di sản văn hóa vô cùng quý báu, đã và đang là động lực tinh thần to lớn cho toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhận thức được vai trò to lớn của đạo đức cách mạng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và thường xuyên chăm lo giáo dục, trau dồi đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Do đó, cách mạng nước ta trong những năm qua, đặc biệt, sau 18 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đã đạt được những thành quả to lớn chưa từng có trong lịch sử Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội. Nhưng bên cạnh những thành tựu nói trên, chúng ta cũng đang đối mặt với những suy thoái về đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đáng chú ý là sự suy thoái này ngày một gia tăng. Điều đó Đảng ta đã khẳng định qua các kỳ Đại hội: Đại hội Đảng lần thứ VI nhận định: "Tình trạng vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật nhà nước nghiêm trọng kéo dài chưa giảm" [29, tr. 9]. Đại hội Đảng lần thứ VII nhận định: "Số đảng viên vi phạm kỷ luật trong số được kiểm tra tăng lên nhiều hơn" [29, tr. 10]. Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: "Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức" [26, tr. 27].
  3. Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh: "Tình trạng tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng" [30, tr. 76]. Đạo đức cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó. Sự suy thoái đạo đức xã hội ngày càng gia tăng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đó đã làm giảm uy tín của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở nước ta nói chung, ở Hải Phòng nói riêng. Vậy tại sao có sự suy thoái về đạo đức ngày càng gia tăng trong một bộ phận cán, bộ đảng viên ở Hải Phòng? Làm thế nào để khắc phục được tình trạng trên? Làm sao để có được đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ có năng lực chuyên môn mà còn có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng làm động lực phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Phòng? Đó là những vấn đề lớn, bức xúc đặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân thành phố Hải Phòng. Đề tài: " Vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở Hải Phũng hiện nay " muốn góp một phần nhỏ vào việc giải quyết vấn đề lớn đó. 2. Tình hình nghiên cứu Vấn đề đạo đức nói chung, đạo đức cách mạng trong điều kiện KTTT định hướng XHCN nói riêng đã có nhiều cá nhân và tập thể tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau, với những cách tiếp cận khác nhau như: Vũ Khiêu: "Mấy vấn đề đạo đức cách mạng", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1978; Nguyễn Ngọc Long: "Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức trong việc đổi mới tư duy", Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, số 1-2/1987; Trần Thành: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức", Nxb Chính trị quốc gia, 1996; Nguyễn Tĩnh Gia: "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý", Tạp chí Nghiên cứu lý
  4. luận, số 2/1997; Nguyễn Chí Mỳ: "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Ngọc Long (chủ biên): "Giáo trình đạo đức học", Nxb Chính trị quốc gia, 2000; Nguyễn Văn Lý: "Kế thừa và đổi mới những giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế trị trường Việt Nam hiện nay", Luận án Tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000; Nguyễn Thế Thắng: "Tìm hiểu tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh", Nxb Lao động, Hà Nội, 2002; Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (Đồng chủ biên), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Nguyễn thế Kiệt (chủ nhiệm đề tài), Kỷ yếu đề tài cấp bộ (2002-2003), Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và xu hướng biến động, Hà Nội, 2003; Trần Văn Phòng: "Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay", Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2003. Một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề xây dựng đạo đức cho cán bộ, đảng viên của các tác giả như: Đặng Thanh Giang: "Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" (qua thực tế ở tỉnh Thái Bình), Luận văn Thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2001; Dương Xuân Lộc: "Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên hiện nay" (qua thực tế ở Thành phố Hồ Chí Minh), Luận văn Thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2001; Trương Thế Thắng: "Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Hà Giang hiện nay", Luận văn Thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2003... Như vậy, vấn đề đạo đức, đạo đức cách mạng, xây dựng đạo đức cho cán bộ, đảng viên đã được nhiều cá nhân và tập thể tác giả đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng vấn đề nâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên nói chung và ở Hải Phòng nói riêng hiện nay là vấn đề đòi hỏi được tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: "Vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị
  5. trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hải Phòng hiện nay" để viết luận văn thạc sĩ Triết học. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Phân tích thực trạng đạo đức cán bộ, đảng viên trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Hải Phòng, từ đó đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho họ ở Hải Phòng hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ - Làm rõ tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay. - Làm rõ yêu cầu về đạo đức cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng hiện nay. - Phân tích thực trạng đạo đức cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng hiện nay. - Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện KTTT ở Hải Phòng hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, thông thường cán bộ là đảng viên. Tuy nhiên, có cán bộ không là đảng viên. Ngược lại, không phải đảng viên nào cũng là cán bộ. Do vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn là đạo đức của người cán bộ là đảng viên và đạo đức của người đảng viên. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Hải Phòng hiện nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận
  6. Luận văn dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời luận văn kế thừa các thành tựu của một số công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến nội dung mà đề tài luận văn đề cập. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; phương pháp điều tra xã hội học... đã được sử dụng để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề tài đặt ra. 6. Cái mới và ý nghĩa của luận văn 6.1. Cái mới của luận văn Làm rõ thực trạng đạo đức của cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng hiện nay; qua đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng trong điều kiện KTTT hiện nay. 6.2. ý nghĩa của luận văn - Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và giảng dạy môn Đạo đức học, môn Xây dựng Đảng... trong các trường đại học và các trường chính trị tỉnh, thành phố. - Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để đề ra kế hoạch, giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên ở thành phố Hải Phòng. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
  7. Chương 1 tầm quan trọng và yêu cầu của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hải Phòng hiện nay 1.1. Tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 1.1.1. Đạo đức và đạo đức cách mạng; quan hệ kinh tế và đạo đức 1.1.1.1. Đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức - xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực nhằm hướng dẫn con người tiến tới cái thiện, cái chân, cái mỹ... chống lại cái ác, cái giả, cái xấu... Đạo đức luôn là một động lực tinh thần to lớn đối với sự phát triển, tiến bộ của xã hội. Vì vậy, trong mỗi thời đại lịch sử, để phù hợp với sự tiến bộ của xã hội, giai cấp thống trị đều đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức và điều chỉnh các hành vi, cách ứng xử của con người sao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội. Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, quan niệm về đạo đức đã để lại không ít những giá trị to lớn. Nhưng do những hạn chế về thế giới quan, phương pháp luận và những thiên kiến giai cấp, nên tất cả các quan niệm về đạo đức trước C.Mác đều thiếu luận cứ khoa học. Hầu hết các quan niệm đó đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo. Đạo đức học trước C.Mác bằng cách này hay cách khác đã trở thành một trong những công cụ tinh thần của giai cấp thống trị dùng để duy trì trạng thái ổn định tạm thời của các chế độ xã hội cũ, bảo vệ địa vị thống trị của các giai cấp thống trị. Trên cơ sở của những tiến bộ trong đời sống vật chất, phương thức sản xuất và những thành quả của sự phát triển khoa học, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin dùng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, đồng thời kế thừa một cách có phê phán những giá trị đạo đức đạt được trong lịch sử lâu dài của nhân
  8. loại, làm một cuộc cách mạng có tính chất bước ngoặt về đạo đức. Quan điểm mác-xít cho rằng: Đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quyết định; quan hệ đạo đức là biểu hiện của quan hệ vật chất xã hội và biến đổi theo đời sống vật chất xã hội. Nghĩa là, theo quá trình phát triển của xã hội, trên cơ sở phát triển của sản xuất vật chất mà đạo đức được hoàn thiện dần dần. Đạo đức phát triển từ thấp đến cao cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, thông qua sự đấu tranh, lọc bỏ, kế thừa để tiến bộ không ngừng. Như vậy, đạo đức xét về bản chất là sự phản ánh tồn tại xã hội, là tồn tại xã hội được nhận thức, bị quy định bởi tồn tại xã hội. Điều đó giải thích một cách khoa học sự khác nhau, thậm chí đối lập nhau giữa đạo đức học mác-xít với những hệ thống đạo đức khác nhau trong lịch sử. Đạo đức thường được xét ở ba góc độ: nhận thức luận, chức năng, hệ giá trị. Dưới góc độ nhận thức luận: Đạo đức là một hiện tượng tinh thần, một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội. Tính đặc biệt của nó thể hiện trong quá trình hình thành các quy tắc đạo đức, là do sự thừa nhận của số đông trong xã hội hay sự thừa nhận của một giai cấp nhất định. Dưới góc độ chức năng: Chức năng cơ bản nhất của đạo đức là điều chỉnh hành vi của con người bằng chuẩn mực và quy tắc theo yêu cầu của xã hội, nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội hay lợi ích cơ bản của giai cấp đề ra chuẩn mực, quy tắc đạo đức ấy. Với chức năng nhận thức và chức năng giáo dục, nó giúp con người hình thành những quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực cơ bản để đánh giá hành vi đạo đức xã hội và những hành vi đạo đức của bản thân. Cách tiếp cận từ hai góc độ trên đây còn được bổ sung bằng cách thứ ba, đó là xem xét đạo đức với tính cách là một hệ giá trị. Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, thường bao giờ cũng được khẳng định hoặc phủ định một lợi ích, một quan niệm đương thời xác định. Vì vậy, đạo đức là một hệ giá trị. Lợi ích là cơ sở khách quan của giá trị. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, do lợi ích căn bản khác nhau mà các giai cấp quan niệm về giá trị đạo đức khác nhau, thậm chí đối lập nhau.
  9. Như vậy, nội hàm của khái niệm đạo đức không chỉ hạn định ở đặc trưng là một hình thái ý thức xã hội, là một phương thức cơ bản điều chỉnh hành vi con người mà đạo đức còn là một hệ giá trị bao gồm những giá trị chung và những giá trị riêng. Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về đạo đức, ở một mức độ khái quát nhất, chúng ta có thể hiểu: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [49, tr. 8]. Đạo đức bao gồm: ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức và thực tiễn đạo đức. ý thức đạo đức là ý thức của con người về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại. ý thức đạo đức bao hàm các yếu tố tạo thành là tri thức, tình cảm và ý chí đạo đức. Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức. Nó là một bộ phận hợp thành của quan hệ xã hội. Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, của ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức vào trong đời sống của con người. ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là những yếu tố tạo nên cấu trúc của đạo đức. Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập mà liên hệ tác động lẫn nhau, tạo nên sự vận động phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức. Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, đạo đức không sinh ra đạo đức mà đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử. Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế - xã hội. Ph. Ăngghen nhận xét: "Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của
  10. xã hội lúc bấy giờ" [55, tr. 137]. Sự phát triển của ý thức đạo đức của người nguyên thủy đến ý thức đạo đức của xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người. 1.1.1.2. Đạo đức cách mạng Đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản là thành quả phát triển cao trong lịch sử tiến hóa lâu dài của đạo đức. Nó là kết quả của sự phủ định biện chứng những giá trị đạo đức đã đạt được trong lịch sử. Nếu như đạo đức của xã hội có đối kháng giai cấp được xây dựng trên sự bất bình đẳng, sự nô dịch và sự áp bức bóc lột giữa người và người thì đạo đức cách mạng được xây dựng trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa người với người. Nếu như đạo đức tư sản kích thích sự phát triển cá nhân một cách cực đoan trở thành chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, kích thích những dục vọng thấp hèn, những bản năng ở con người, vật hóa con người, thì đạo đức cách mạng phát triển cá nhân trong sự hài hòa với cộng đồng xã hội, hạn chế những dục vọng, bản năng thấp hèn ở con người. Đạo đức cách mạng kích thích phát triển và giữ vai trò chỉ đạo mặt ý thức, mặt xã hội của con người, nâng con người lên đúng tầm vị trí làm người. Có thể nói, đạo đức cách mạng - đạo đức cộng sản chủ nghĩa không những khác mà hoàn toàn đối lập với đạo đức của giai cấp bóc lột (đạo đức chủ nô, phong kiến, tư sản). Đạo đức cộng sản là nền đạo đức có giá trị phổ biến và nhân đạo. Theo V.I. Lênin, đạo đức mới là những gì "góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản..." [45, tr. 369]. Đạo đức cộng sản biểu hiện sự sáng tạo mang tính quần chúng rộng rãi. Các giá trị đạo đức cộng sản chủ nghĩa mang đầy ý nghĩa cao cả và vì con người. Những giá trị ấy nói lên bản chất sáng tạo của trí tuệ, của ý thức danh dự, của lòng dũng cảm và những phẩm chất cao quý của con người. Nền đạo đức ấy vừa là sản phẩm của nền sản xuất xã hội đầy sáng tạo và nhân văn, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
  11. Nhằm nhấn mạnh vai trò nhân tố tinh thần của đạo đức mới - đạo đức cách mạng - đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong việc góp phần vào thắng lợi của cách mạng XHCN, và để phù hợp với thực tiễn cách mạng XHCN trong giai đoạn hiện nay, trong luận văn này chủ yếu sử dụng khái niệm "Đạo đức cách mạng" theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là: "Tuyệt đối trung thành với nhân dân", "ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng", "làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng"; "quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch"; "đặt lợi ích của Đảng lên trên hết"; "luôn hòa mình với quần chúng" v.v... ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, khái niệm đạo đức cách mạng được vận dụng một cách khá linh hoạt, mềm dẻo - điều này phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể. ở mức độ khái quát nhất, theo Người, đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ [61, tr. 285]. Đạo đức cách mạng Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam, là sự phản ánh quá trình đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp tiến bộ khác nhằm giành độc lập dân tộc và đi lên xây dựng CNXH. Đạo đức cách mạng xét dưới góc độ nhận thức, là kết quả của sự phản ánh tồn tại xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội. Nh ưng với tư cách là một
  12. hình thái ý thức xã hội đặc biệt, luân lý đạo đức phản ánh cái bản chất của tồn tại xã hội. Cho nên đạo đức cách mạng kế thừa những đặc điểm của hệ thống lý luận đạo đức trong lịch sử; phản ánh quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Sự khác nhau căn bản giữa đạo đức cách mạng với các hệ thống đạo đức khác là ở tính cách mạng và khoa học của nó. Đạo đức cách mạng là đạo đức phản ánh lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động khác, nó mang bản chất giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lại độc lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH. Mục tiêu lý tưởng đó phù hợp với quy luật vận động tất yếu của lịch sử xã hội và quy luật tiến bộ của đạo đức nhân loại; vì nó hướng tới mục tiêu giải phóng triệt để con người khỏi khổ đau, áp bức bóc lột, bất công trong xã hội hiện thực. Mục tiêu này, theo cách nói của C.Mác: "Phải lật đổ tất cả những quan hệ biến con người thành một sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bị bỏ rơi, bị khinh rẻ..." [51, tr. 581]. Tính cách mạng, khoa học trong lý luận đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh sự sáng tạo qua thực tiễn cách mạng Việt Nam với tư cách là nguồn gốc chủ yếu của nó, mà còn thể hiện sự phê phán, kế thừa, chọn lọc tinh hoa truyền thống đạo đức dân tộc và đạo đức nhân loại trong quá trình hình thành và phát triển đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh cho rằng: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta... Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy... [68, tr. 92].
  13. Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ tư tưởng, thái độ đối với di sản đạo đức của nhân loại. Nắm vững phương pháp biện chứng duy vật của C.Mác, dựa trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người đã có thái độ khoa học và cách mạng trong việc kế thừa những yếu tố hợp lý của các hình thái ý thức đạo đức trước đó để góp phần hình thành nên lý luận về đạo đức cách mạng ở Việt Nam. Thực tiễn cách mạng nước ta cũng đã chứng tỏ những giá trị đạo đức cách mạng là hệ giá trị hàng đầu trong hệ thống những giá trị đạo đức của xã hội Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua. Tính cách mạng và khoa học của đạo đức cách mạng thể hiện trong hệ thống những nguyên tắc cơ bản, nó không mang tính cố định, giáo điều, mà đòi hỏi phải được bổ sung, phát triển cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng. ở các giai đoạn khác nhau của cách mạng, trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã bổ sung và phát triển những nội dung đạo đức cách mạng cụ thể. Ví dụ: Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng yêu cầu cán bộ phải "am hiểu con đường chính trị..." [3, tr. 528] và Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến niềm tin cộng sản: "Giữ chủ nghĩa cho vững", ý thức giữ "bí mật", trách nhiệm tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng... nhằm chuẩn bị tinh thần và lực lượng cho Tổng khởi nghĩa thắng lợi. Sau thắng lợi Chiến dịch Đông Xuân năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ cầm cự, khó khăn gian khổ, quyết liệt hơn. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ vừa đẩy mạnh kháng chiến vừa thực hiện kiến quốc, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, khi viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao tinh thần học tập, nhất là học tập lý luận Mác - Lênin; đề cao chuẩn mực đạo đức "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"; nhấn mạnh lề lối, tác phong làm việc khoa học... nhằm khắc phục tình trạng đội ngũ cán bộ còn yếu kém về lý luận, tác phong công tác, đạo đức lối sống. Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào khôi phục kinh tế, chuẩn bị tiền đề cho CNXH, tạo hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, trước yêu cầu mới của thực tiễn xây dựng CNXH, trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là tác phẩm "Đạo đức cách mạng",
  14. Người đề cập nhiều đến chủ nghĩa tập thể, đấu tranh loại trừ chủ nghĩa cá nhân, nhất là các biểu hiện quan liêu, đặc quyền, đặc lợi... ở cán bộ có chức, có quyền. Như vậy, lý luận đạo đức cách mạng đã luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bổ sung và phát triển theo yêu cầu thực tiễn cách mạng nước ta. Từ "Tư cách người cách mệnh" đến "Đạo đức cách mạng", đến "Di chúc" được coi là những mốc đánh dấu sự phát triển về nội dung đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ những phân tích trên, cho phép tác giả luận văn đưa ra quan niệm về đạo đức cách mạng như sau: Đạo đức cách mạng là đạo đức phản ánh thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động; là sự thống nhất hữu cơ giữa những phẩm chất đạo đức tạo nên nền tảng nhân cách của người cách mạng; là động lực thúc đẩy người cách mạng trong quá trình hoạt động cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đạo đức cách mạng được hiểu với nội dung là tổng hòa các phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Đó là lòng trung thành vô hạn với mục tiêu, lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa tập thể, lao động tự giác, sáng tạo, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính trung thực, tính nguyên tắc, tính khiêm tốn, tinh thần dũng cảm... Những phẩm chất đạo đức cách mạng trên thống nhất hữu cơ trong nhân cách của người cách mạng. Đạo đức cách mạng không ngừng được củng cố và phát triển cùng với sự thắng lợi ngày càng to lớn của cách mạng XHCN, của phương thức sản xuất XHCN, trở thành nền đạo đức chung của loài người. Tuy nó chưa phải là nền đạo đức tuyệt đối chân chính cuối cùng, nhưng như Ph.Ăngghen nói: hiện nay nó "đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai... là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài" [55, tr. 136]. 1.1.1.3. Quan hệ giữa kinh tế với đạo đức
  15. Quan hệ giữa kinh tế với đạo đức là mối quan hệ biện chứng, trong đó, suy cho cùng yếu tố kinh tế đóng vai trò quyết định đối với đạo đức. Sự tác động của kinh tế đối với đạo đức tuân theo quy luật chung về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng. Theo C.Mác, phương thức sản xuất vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung; không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ, trái lại tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ. V.I.Lênin cũng nhấn mạnh: "Chủ nghĩa duy vật lịch sử thừa nhận rằng tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của loài người. Trong hai trường hợp đó ý thức chỉ là phản ánh của tồn tại, nhiều lắm thì cũng chỉ là một sự phản ánh gần đúng, không khớp, chính xác một cách lý tưởng" [48, tr. 404]. Từ đó suy ra là phải lấy sự tồn tại của con người để giải thích ý thức của con người, chứ không phải ngược lại. Phần lớn các nguyên nhân thay đổi ý thức xã hội nằm trong phương thức sản xuất, chứ không phải trong đầu óc của người ta, không phải trong triết học mà là trong kinh tế. Quá trình phát triển sản xuất là quá trình không ngừng giải phóng con người cả về lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần (trong đó có đạo đức). Xã hội càng phát triển, kinh tế càng phát triển, thì con người càng có điều kiện hoàn thiện mình. Tuy nhiên, sự tác động của kinh tế đến đạo đức không phải bao giờ cũng theo chiều thuận mà còn có cả chiều nghịch. Thực tế chứng minh, có khi kinh tế phát triển cao, nhưng đạo đức có sự tha hóa, thụt lùi hoặc có sự tiến bộ cục bộ và sự tha hóa cục bộ. Nước Mỹ kinh tế rất phát triển, nhưng quan hệ xã hội, quan hệ đạo đức không phát triển lành mạnh hay chí ít cũng không có sự tăng tiến tương ứng với kinh tế. Thái Lan có một thời kỳ tăng trưởng kinh tế rất nhanh, song nền đạo đức cũng xuống cấp và hiện nay là nơi có tỷ lệ người nhiễm HIV hàng năm cao trên thế giới. Điều đó nói lên rằng, điều kiện kinh tế là quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với chế độ chính trị và đạo đức xã hội, nhưng nhân tố chủ quan cũng chiếm một vị trí quan trọng. Theo Nhà tương lai học A.Toffler, trong lịch sử nhân loại, nhiều nước kém phát triển chỉ là kinh tế thôi, còn văn hóa không phải là kém phát triển.
  16. ở một góc độ khác, đạo đức là nhân tố, động lực của sự phát triển kinh tế. Trong KTTT, lợi nhuận và hiệu quả là mối quan tâm lớn của người sản xuất. Bởi vậy, có người cho rằng, các nhân tố đạo đức can thiệp vào kinh tế sẽ cản trở sự tăng trưởng kinh tế. Đây là cách hiểu không đúng, họ đã cố tình gạt bỏ mọi quy phạm đạo đức ra khỏi các hoạt động kinh tế; là cách hiểu cực đoan mang tính thực dụng và ngày càng tỏ ra không thể đứng vững trước yêu cầu phát triển của nền KTTT. Thực tế cho thấy, không phải mọi chính sách mang lại hiệu quả kinh tế cao đều có ý nghĩa tích cực cho sự phát triển đạo đức và ngược lại những gì không có hiệu quả kinh tế đều vô đạo lý. Giải quyết mâu thuẫn này trong các trường hợp cụ thể và ưu tiên cao nhất phải dành cho mục tiêu xã hội. Tính toán lỗ lãi không nằm ngoài tư duy kinh tế, nhưng đó không phải là mục đích cuối cùng. Trong CNXH, ý nghĩa nhân bản của chính sách kinh tế là ở chỗ vừa đáp ứng nhu cầu vật chất của con người, vừa tạo điều kiện vật chất cho sự phát triển đạo đức, nhân cách của con người. Chính sách kinh tế mà bất chấp yêu cầu xã hội, không mang trong nó nhân tố xã hội, mục tiêu xã hội, thì trật tự kỷ cương của kinh tế sẽ bị phá vỡ, khả năng tha hóa của con người vẫn diễn ra. Nhận thức một cách sâu sắc mối quan hệ biện chứng này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển" [26, tr. 113]. Còn tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta xác định: "Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội" [30, tr. 89]. Mặt khác, trong cạnh tranh mọi gian dối tầm thường dần dần bị lọc bỏ và cuối cùng thắng lợi chủ yếu là công nghệ, phương pháp quản lý mới. Xã hội tồn tại và phát triển không phải bằng lừa dối, đầu cơ, buôn lậu, hàng giả... mà bằng trình độ và sức sáng tạo của con người. Sáng tạo không chỉ là điều kiện kinh tế, tất yếu kinh tế, mà còn là hành động của lý trí, của lương tri.
  17. Đạo đức được nảy sinh từ các hoạt động kinh tế, nhưng nó tác động trở lại với kinh tế và có vai trò nhất định trong đời sống xã hội. Sự tác động của đạo đức đến kinh tế thể hiện thông qua các chức năng sau: + Chức năng điều chỉnh hành vi. + Chức năng giáo dục. + Chức năng nhận thức (chức năng phản ánh). Tuy nhiên, sự tác động của đạo đức đến các lĩnh vực hoạt động kinh tế nhiều hay ít còn phụ thuộc vào những yếu tố sau: Thứ nhất: Phụ thuộc vào bản thân ý thức đạo đức tiến bộ hay lạc hậu. Nếu đạo đức tiến bộ thì sự tác động của nó đối với các hoạt động kinh tế sẽ phát triển theo chiều hướng tích cực, còn ngược lại, đạo đức lạc hậu sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế. Thứ hai: Phụ thuộc vào ý thức đạo đức thâm nhập vào quần chúng nhiều hay ít. ý thức đạo đức thâm nhập vào quần chúng càng sâu rộng thì sự tác động tích cực của đạo đức đến đời sống kinh tế - xã hội càng có hiệu quả. Ngược lại, nếu ý thức đạo đức mà thâm nhập ít, nó không thể tạo ra được phong trào quần chúng thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Thứ ba: Phụ thuộc vào khả năng của giai cấp cầm quyền hiện thực hóa t ư tưởng, đường lối lãnh đạo và ý thức đạo đức của mình đối với xã hội, đất nước đến đâu. Nếu giai cấp cầm quyền có tư tưởng, ý thức đạo đức tiến bộ, đường lối đúng đắn thì giai cấp đó hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình, thúc đẩy, lãnh đạo nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Ngược lại, nếu là hệ tư tưởng, ý thức đạo đức phản tiến bộ, đường lối lãnh đạo không đáp ứng với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nó sẽ tạo ra một lực cản lớn trên con đường đi lên của xã hội. Sự tác động của kinh tế đến đạo đức được thực hiện thông qua nhiều "khâu trung gian" như: Chế độ chính trị, chính sách kinh tế - xã hội, pháp luật... Bởi vì:
  18. Một là, kinh tế và đạo đức là hai yếu tố của quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Xét đến cùng, đạo đức là sự phản ánh của các quan hệ kinh tế. Song tình hình kinh tế không tác động một cách tự động đối với đạo đức. Vai trò quyết định của kinh tế được thực hiện, như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: thường thường là một cách gián tiếp thông qua các mắt khâu quan trọng đó là chính sách kinh tế - xã hội được thể hiện trong thực tế đời sống. Hai là, các chính sách kinh tế - xã hội tác động đến các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội và các giá trị đạo đức xã hội. Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội là khuôn mẫu ứng xử của xã hội đòi hỏi các cá nhân trong xã hội phải tuân theo, đồng thời nó là thước đo đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. Sức mạnh của dư luận, niềm tin cá nhân, tập quán, truyền thống xã hội sẽ là điều kiện đảm bảo cho các nguyên tắc, chuẩn mực đó có hiệu lực trong việc uốn nắn, điều chỉnh, đánh giá hành vi đạo đức của cá nhân, làm thay đổi tình cảm đạo đức của cá nhân. Mặt khác, giá trị đạo đức là cái được con người lựa chọn và đánh giá như một việc làm có ý nghĩa tích cực được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương. ở đây, lợi ích xã hội là tiêu chuẩn khách quan của các giá trị đạo đức. Do đó, chỉ khi nào những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ thì mới có giá trị. Như vậy, giá trị đạo đức được xác định bởi mức độ phù hợp của chúng đối với yêu cầu của tiến bộ xã hội. Điều đó khẳng định vai trò của chính sách kinh tế xã hội đối với những nguyên tắc và các giá trị đạo đức xã hội. Ba là, các chính sách kinh tế - xã hội tác động đến dư luận, tập quán, truyền thống xã hội góp phần điều chỉnh hành vi của các cá nhân. Thông qua chính sách kinh tế - xã hội tạo nên dư luận, tập quán, truyền thống xã hội. Nó ca ngợi, khuyến khích cái thiện, cái tốt; phê phán, lên án cái ác, cái xấu. Dư luận xã hội một khi được củng cố, phát triển bởi các chính sách kinh tế - xã hội sẽ phát huy sức mạnh to lớn trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức. Nó giáo dục ý thức đạo đức cho các cá nhân, tuyên truyền những tư tưởng, những chuẩn mực đạo đức xã hội, biến nó thành thước đo,
  19. đánh giá, điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân nhằm đạt tới sự phù hợp giữa hành vi đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội. Bốn là, chính sách kinh tế - xã hội còn góp phần nâng cao nhận thức đạo đức cho các cá nhân. Sự nhận thức đạo đức bao gồm hai trình độ tình cảm và tư tưởng đạo đức, kinh nghiệm và lý luận đạo đức. Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Nó là sự phản ánh và thể hiện kinh nghiệm chung sống và kinh nghiệm lịch sử - thực tiễn của con người. Nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội. Đạo đức cộng sản là thành quả phát triển cao trong lịch sử phát triển lâu dài của đạo đức. Nó là kết quả của sự phủ định biện chứng những giá trị đạo đức đã đạt được trong lịch sử. C.Mác, Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng và V.I.Lênin là người kế thừa và phát triển. Đạo đức cách mạng ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và cùng Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng, bồi dưỡng cho các thế hệ cách mạng ở nước ta thực hiện mục đích cuối cùng là giải phóng triệt để con người, trước hết là giai cấp công nhân và các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động khác thoát khỏi áp bức, bất công xã hội. Đạo đức và kinh tế có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, trong đó yếu tố kinh tế suy cho cùng đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, đạo đức cũng là động lực cho sự phát triển kinh tế. Trong điều kiện của nền KTTT định hướng XHCN hiện nay của Việt Nam, mối quan hệ giữa kinh tế với đạo đức càng đặc biệt được quan tâm. 1.1.2. Tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 1.1.2.1. Khái niệm cán bộ và đảng viên Cán bộ - theo Từ điển tiếng Việt - có hai nghĩa cơ bản sau:
  20. Thứ nhất, là khái niệm chỉ "người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong nhà nước" [70, tr. 121] như: cán bộ nhà nước; cán bộ khoa học; cán bộ chính trị v.v... Thứ hai, là khái niệm chỉ "người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ" [70, tr.121]. Trong khuôn khổ đề cập của luận văn này chúng ta hiểu cán bộ theo cả hai nghĩa như trên. Đảng viên - theo Từ điển tiếng Việt - có hai nghĩa sau: Thứ nhất, "người ở trong tổ chức của một chính đảng" [70, tr.291]. Thứ hai, "đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (nói tắt)" [70, tr.291]. Trong khuôn khổ của luận văn này chúng ta hiểu đảng viên theo nghĩa thứ hai. Hiện nay ở nước ta, khái niệm cán bộ thường kèm theo từ công chức hoặc viên chức, được dùng để chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước, thuộc diện biên chế nhà nước. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, người cán bộ thường là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nên có thêm cụm từ ghép cán bộ, đảng viên. Như vậy, ở một góc độ nhất định, khái niệm cán bộ công chức và cán bộ, đảng viên có nghĩa gần giống nhau. Vừa là cán bộ công chức vừa là đảng viên cộng sản. * Một số đặc điểm hoạt động của người cán bộ, đảng viên: Khi đi sâu vào xem xét, phân tích cho thấy, hoạt động của cán bộ, đảng viên có những đặc điểm sau: - Phạm vi tác động của người cán bộ, đảng viên là rất rộng, bởi vì, mọi lĩnh vực, tất cả các vùng miền, đơn vị sản xuất, kinh doanh, lực lượng vũ trang; nghiên cứu khoa học, văn hóa nghệ thuật... của đất nước đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và đều cần có sự hiện diện, tác động của người cán bộ, đảng viên. Bất kỳ ở đâu, từ đồng bằng, thành thị, cho đến hải đảo, vùng núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, nếu có con người lao động sản xuất, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì tại đấy có tổ
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2