Men lam
TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN THANH GIAO
Đêm càng khuya, dòng sông càng rực rỡ, trong vắt ánh trăng thanh. Anh không ngủ
được, chẳng biết vì nhà lạ hay vì trăng. Anh lặng lẽ ra đứng trước lan can lầu ngóng
xuống. Gió vuốt ve mặt nước, sóng lao xao lấp lánh như những lưỡi búa vàng... Ngưi ta
bảo trăng hút nước biển tạo ra thủy triều và hút lòng người để tạo thành thơ nhạc, những
Xô-nátÁnh trăng và những Tỳ bà hành với Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt / Một vầng
trăng trong vắt lòng sông...
Hành trình tìm lại bí ẩn men lam của dòng họ anh lúc đầu tưởng chừng như là chuyện mò
kim đáy biển... Chỉ có mấy dòng ghi trong gia phả: cụ tổ là một nghệ nhân xuất sắc của
làng gốm Bát Tràng, làm một đĩa cổ men lam lung linh phép lạ, nhưng không ai biết giá
trị của nó, trừ chúa Nguyễn Hoàng...
Từ Pa-ri, anh về Hà Nội, sang thăm làng gốm... Làng đẹp, bán buôn tấp nập nhưng cũng
khá xô bồ... Anh dò đường, tìm vào xưởng gốm của lão nghệ nhân nổi tiếng nhất vùng,
chọn mua một số tranh gốm, tranh đĩa... Ông lão thấy anh thích chơi gốm nên mời sang
ngôi biệt thự mới cất, khoe tượng, khoe tranh... Chuyên trò càng lúc càng tương thân,
tương đắc, anh lân la dò hỏi đĩa cổ men lam... Ông lão vui miệng kể: “Tôi có nghe từ cụ
tổ về chiếc đĩa men lam tuyệt kỹ ấy. Gọi là đĩa Trương Chi... Truyền rằng khi tình c
được chiếc đĩa men lam lạ lùng đó, chúa ưu ái, đãi người tạo ra nó như bậc đệ nhất tài
danh. Nhưng lúc bị nghi kỵ, mạng sống bị đe dọa, phải chạy vào Nam thì chúa mang theo
chiếc đĩa cổ cùng người tạo ra nó... Qua gần nửa thiên niên kỷ lưu lạc, chiếc đĩa mất tăm
và bí quyết men lam đĩa cổ cũng thất truyền...”
Anh nghiền ngẫm lời của lão nghệ nhân và quyết vào Nam, theo sự dẫn dắt của tiềm thức
bãng lãng khói sương, cùng sự thôi thúc của dòng máu âm thm chảy trong huyết quản...
Anh chọn mua một suất du lịch Mekong Tour, vì anh thấy trong chương trình có mục
“tham quan nhà cổ”, với hy vọng mơ hồ; hơn nữa, anh muốn đi chơi một mình cho thảnh
thơi đầu óc.
Sau mấy giờ lênh đênh sóng nước, dọc những rặng bần trùng điệp xanh mướt ven bờ,
thuyền ghé cho khách lên thăm một ngôi nhà cổ, rồi ăn chiều với tôm càng nướng, cá he
vàng nấu mẵn và nghỉ lại một đêm... Giữa vùng xanh um cây trái miệt vườn mà người
xưa cất một ngôi nhà lu, dù sàn bằng gỗ, cũng là rất lý thú, để hôm nay, anh có dịp qua
đêm tại đây. Chẳng phải chỉ có dòng sông và ánh trăng khiến anh không ngủ được. Mà
tâm tư anh bị xáo trộn dữ dội từ khi bước vào phòng khách ngôi nhà... Bây gira ngắm
sông đêm, anh thấy lòng cũng lấp lánh những lưỡi búa vàng, xôn xao cùng gió...
Cô hướng dẫn tua xinh đẹp giới thiệu cùng khách:
- Ngôi nhà này xây từ lâu đời... Cây thủy tùng sau bàn thông thiên kia đứng ở đó đã ngót
trăm năm... Lúc nó bằng cườm tay, có người đòi chặt đi làm cán siêu đao trong cuộc
tranh quyền của các tín đồ giáo phái, nhưng ông chủ ngôi nhà khăng khăng giữ lại nên nó
còn được sống tới hôm nay...
Anh ngắm những cành tùng xòe ra hình nón, lá kim nhỏ lăn tăn, bụng nghĩ chẳng biết
ông chủ nhà này là ai, và hậu duệ của ông, cũng như mình, qua bao nhiêu năm biển dâu
dời đổi, giờ ra sao...... Nhưng cô hướng dẫn đã mời khách theo những bậc thang xây hình
trăng khuyết bên ngoài lên lầu...
Phòng khách sang trọng, với bộ xa-lông đóng theo kiểu Lu-i XVI bằng gỗ nu quí nhất
trong các loại gỗ, thớ cây xoắn xuýt, lấy từ những u trong thân cổ thụ,. Hai bên là hai b
bàn ăn mặt cẩm thạch, gỗ trắc, có bộ ấm trà để sẵn. Cô gái rót trà ướp sen trong chiếc ấm
có quai trúc, đốt ngắn như đốt ngón tay, mà cô gọi là trúc quân tử, vào chén quhồng
mời khách. Anh đứng ngắm bức tranh thêu phkín một bên tường, hình chim công ngoái
đầu nhìn bộ lông đuôi rực rỡ, trong khi du khách vuốt ve mặt gỗ cẩm lai của chiếc bàn
thờ, khảm xà cừ óng ánh tích Lưu Bị cầu hôn Giang Tả trong tiếng trầm trồ... Cạnh đó là
tủ chén với những muỗng “cổ lầu”, những đĩa “trúc lâm thất hiền” và những bát ăn mà cô
hướng dẫn lưu ý khách là dưới trôn có chữ “nội phủ”... Anh tưởng tim mình ngưng đập
khi thấy một chiếc đĩa đặt trên đế gỗ mun ba chân, màu men lam, vẽ cảnh người chèo
thuyền giữa dòng sông có hàng liễu rũ bên bờ và ngôi lầu có cô gái ngồi bên cửa sổ
chống tay lên cm, mắt đăm đắm nhìn xuống nước; trên lầu, trăng bị mây che mờ và dưới
sông lao xao sóng gợn... Mặt đĩa ghi hai câu thơ chữ Nôm. Cô hướng dẫn nói:
- Đây là một cổ vật rất quí vẽ tích Trương Chi Mỵ Nương... Tương truyền nếu ai khóc
đầy chiếc đĩa này thì sẽ thấy anh Trương Chi chèo thuyền động đậy trên dòng nước...
Du khách ồ lên, xúm xít lại xem chiếc đĩa... Có người hỏi:
- Vậy đã có ai khóc đủ để anh Trương Chi chèo thuyền động đậy chưa?
Cô gái nói:
- Thưa, chưa có ạ...
Mọi người cười xòa, ý rằng đây chỉ là một trò câu khách...
Còn anh, anh vẫn chưa hết xúc động: cái đĩa men lam Trương Chi mà cả dòng họ anh thì
thầm truyền nhau suốt mấy trăm năm chẳng lẽ lại nằm ở đây? Anh hỏi cô gái với giọng
run run:
- ơi, cô có biết hai câu thơ này viết gì không?
- Thưa quí khách, đó là: Không cầm đến chén thì thôi / Hễ cầm đến chén lại thấy người
hò khoan...
Khắp người anh nổi hết gai ốc... Một ý nghĩ lóe trong đầu như chớp: Mật mã chế tác và
thưởng thức men lam giấu trong những câu thơ...?
Anh liếc nhanh về phía cô gái: gương mặt thanh tú, vóc dáng cân đối, đặc biệt là đôi mắt
thăm thẳm như ẩn chứa những điều huyền diệu sâu xa... Cô gái cũng liếc nhìn anh... Hai
ánh mắt giao nhau như hai ánh chớp và cả hai đều cảm thấy lòng mình xao động...
Anh không hỏi gì thêm, biết rằng mình đang mang một bí mật hệ trọng không thể khinh
xuất mà hé lcho ai... Anh chỉ còn cách đi theo cô gái, lắng nghe lời cô và lặng lẽ ngắm
cô...
Đêm nay, đứng nhìn dòng sông lao xao sóng bủa dưới trăng, anh tự hỏi: Cô gái là ai?
Hình như mình đã gặp cô từ kiếp nào thưở trước... Có phải... Anh khe khẽ ngâm mấy câu
thơ thuộc lõm bõm:
Ngày xưa có anh Trương Chi
Người thì thật xấu mà hát thì thật hay
Và:
Cô MNương nghe tiếng hát thì thương
Mà trông thấy mặt anh chàng lại chê...
Đêm sâu lắng khiến câu thơ có sức âm vang lạ lùng. Ánh trăng giật mình run rẩy trên mặt
sông... Tiếng sóng bủa lao xao hay tiếng thơ, tiếng nhạc...
Anh chợt nghe tiếng chân bước nhẹ sau lưng, và tiếng hỏi dịu dàng:
- Anh chưa ngủ ư?
Anh hồi hộp quay lại và nhn ra cô hướng dẫn viên quen thuộc trong bộ váy ngủ mong
manh... Tim anh đập rộn:
- Vâng, tôi thấy khó ngủ...
- Vì sao vậy anh?
- Có lẽ vì sóng nước... Vì trăng... Còn cô?
- Em... cũng vậy...
Anh lúng túng giây phút, nhưng chợt nhớ ra:
- À này, hai câu trong đĩa cổ mà cô đọc lúc chiều có phải lấy ra từ bài thơ Trương Chi
không?
- Phải đó anh.
Anh hồi hộp hỏi cô trong hơi thở gấp:
- Cô có thuộc cả bài đó không?
- Có anh ạ. Nghề của em mà. Em phải tìm học...
- Vậy thể đọc cho tôi nghe được không?
- Được thôi. Nhưng khá dài. Cả một chuyện tình mà anh...
- Tôi có thi giờ... Tôi rất cần bài đó... Nhưng... có phiền cô không?
- Phiền gì đâu anh. Em cũng có thời giờ mà...
- Vậy cô đọc cho tôi chép lại nhé?
- Vâng... Như giữa những câu mà anh ngâm nga lúc nãy, có một đoạn anh nhảy cóc... Em
biết anh không thuộc, và cũng biết anh đang tha thiết với bài này, nên em ra đây... phục
vụ quí khách...
Cô nhoẻn cười. Anh cầm ngay tay cô:
- Ôi, cám ơn em nhiều lắm! Đoạn ấy ra sao, em đọc coi...
Cô ngập ngừng hỏi:
- Mà anh có cho là em... bạo dạn quá không...
- Ôi em! Anh hiểu mà! Nghề nghiệp mà! Sao dằn lòng được...
- Cảm ơn anh... Đoạn này ai cũng biết, nhưng thuộc lời thơ thì bập bõm... Như anh vậy...
Đây: Ngày xưa có anh Trương Chi / Người thì thật xấu mà hát thì thật hay / Cô Mỵ
Nương người ở lầu tây / Con quan thừa tướng ngày rày cô cấm cung / Anh Trương Chi
dưới dòng sông / Chở đò ngang dọc suốt đêm đông anh dãi dầu / Đêm thanh chàng hát
một câu / Gió đưa thoang thoảng đến lầu cô Mỵ Nương / Cô Mỵ Nương nghe tiếng hát
thì thương / Mà trông thấy mặt anh chàng lại chê...
Anh tràn xúc động, cầm tay cô lắc mạnh: