
NGUYỄN KIM ĐƯỜNG – Một số vấn đề hiện trạng chăn nuôi bò ...
1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ HIỆN TRẠNG CHĂN NUÔI BÒ Ở NGHỆ AN
Nguyễn Kim Đường*
Khoa Nông lâm ngư, Trường Đại học Vinh, 182 Lê Duẩn - Tp. Vinh - Nghệ An
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Kim Đường
Tel: (38) 3.569.332 / 0902.798.290, Fax: (38) 3.855.256; Email: nguyenkimduongdhv@gmail.com
ABSTRACT
Situation of cattle breed and cattle herd in Nghe An
The aim of our study is contribution a part in evaluation the situation and capacity of cattle breed and cattle herd in
Nghe An. We have got results: (i) yellow cattle breed is the main breed raising, then Sind crossbred and other breeds.
(ii) In high mountain yellow cattle is dominated; ratio of Sind crossbred in plain/lowland is higher than that of yellow.
(iii) High ratio of female in cattle herd and ratio of male in cattle herd is rather high. (iiii) Female raising mainly for
reproduction. (v) Reproduction of two breed are normally. (vi) Live weight of cattle female is higher than before, live
weight of Sind crossbred lower than heterosis capacity of this hybrid. (vii) The conditions of cattle raising is
improving, which satistify the demand of yellow cattle, still do not satistify for demand of Sind crossbred. (viii) The
conditions for cattle raising and geographical-ecological effect clearly to cattle production in Nghe An.
Key words: Cattle, geogarphiccal, ecological, yellow, Sind crossbred.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các vật nuôi hiện đang được nuôi ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, con bò
có nhiều ưu thế hơn các vật nuôi khác vì nó giữ một vị trí quan trọng, nổi bật. Theo số liệu
của Cục Chăn nuôi, tại thời điểm 1/8/2007 Việt Nam có khoảng 6,7 triệu con bò, trong đó ở
Nghệ An là 445.304 con (chiếm 6,6% tổng đàn bò Việt Nam).
Việt Nam hiện đang tồn tại nhiều nhóm bò hướng thịt như: bò Vàng, bò Laisind, bò H’Mong,
Bò U đầu rìu, bò Sindhi, bò Brahmann và các nhóm bò hướng sữa như: bò Holstein Friesian
(bò Lang trắng đen hay bò Hà Lan(HF), bò Jersey và các con lai HF hướng sữa F1, F2, F3 .
Các con lai hướng thịt F1, F2, F3... Trong đó, nhóm bò Vàng chiếm một tỷ lệ lớn, tiếp đến là
bò Laisind. Ở Nghệ An, giống bò nội là bò Vàng khá nổi tiếng, và bò lai chiếm tỷ lệ khoảng
34-35% tổng đàn (trong đó chủ yếu là bò Laisind). Để góp phần đánh giá tiềm năng của chăn
nuôi bò ở Nghệ An, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp cho phát triển chăn nuôi bò bền vững
ở Nghệ An, chúng tôi tiến hành điều tra toàn diện “ Một số vấn đề về hiện trạng chăn nuôi bò
ở Nghệ An”.
Trong bài này, chúng tôi sẽ đưa ra một số kết quả về: Quy mô chăn nuôi,vấn đề thu gom, sinh
trưởng và sinh sản, xử lý chất thải chăn nuôi, của tình hình chăn nuôi đàn bò ở Nghệ An.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đàn bò đang được nuôi trong các hộ chăn nuôi bò ở các điểm điều tra
Thời gian nghiên cứu: Điều tra đã được tiến hành từ tháng 7/2007 đến 3/2008.
Địa điểm nghiên cứu: Điều tra tại tỉnh Nghệ An

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 13-Tháng 8-2008
2
Nội dung nghiên cứu
Điều tra theo phiếu câu hỏi đã có sẵn, riêng khối lượng của bò được tính theo công thức của
Viện Chăn nuôi (VCN,1980) trên cơ sở các số đo dài thân và vòng ngực mà chúng tôi đo
được trực tiếp trên từng con bò.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu là: phương pháp điều tra đại diện, chọn mẫu ngẫu
nhiên. Nghệ An có 18 huyện, thị xã và thành phố Vinh, trong đó 5 huyện vùng núi cao, 5
huyện vùng núi, 7 huyện đồng bằng, 1 thị xã và 1 thành phố. Chúng tôi đã chọn 2 huyện Đồng
bằng, 2 huyện miền Núi và 1 huyện Vùng núi cao để điều tra.
Mỗi huyện chúng tôi chọn 3 xã (1 xã chăn nuôi bò khá, 1 xã trung bình và 1 xã yếu). Mỗi xã
chúng tôi chọn ngẫu nhiên 50 hộ để thu thập số liệu.
Xử lý số liệu
Các số liệu thu được chúng tôi xử lý trên phần mềm Excel. 13.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Cơ cấu đàn bò
Sau khi xử lý thống kê các số liệu điều tra thu được chúng tôi đã tập hợp các kết quả vào một
số nội dung để đánh giá. Các nội dung và các kết quả đó như sau:
Chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu với tổng số 1150 phiếu điều tra, xử lý thống kê các số
liệu thu thập được chúng tôi có các kết quả như: Số năm kinh nghiệm trong việc nuôi bò của
các hộ là 9,12 năm (1- 40 năm). Phân tích cơ cấu giống và cơ cấu đàn bò chúng tôi có các kết
quả trên Bảng 1a.
Bảng 1a. Cơ cấu về các giống và cơ cấu đàn bò đang nuôi ở Nghệ An
Giống bò Tổng số hộ
(hộ) Tổng số bò
(con) Bê theo mẹ
(%) Bò < 3 tuổi
(%) Bò > 3 tuổi
(%)
689 100%
2378 100%
Bò vàng 415 60,2 1600 67,3 22,00 30,09 47,91
Bò Laisind 257 37,3 754 31,6 23,50 28,48 48,02
Bògiốngkhác*
17 2,5 24 1,1 - - -
Ghi chú: * không kể bò sữa, vì bò sữa giành cho một báo cáo riêng.
Cơ cấu giống của đàn bò chủ yếu là 3 nhóm: Bò Vàng, bò Laisind và các giống khác. Số liệu
Bảng 1a cho thấy, bò Vàng vẫn là giống bò được nuôi chủ lực ở Nghệ An, tiếp đến là bò
Laisind và các giống khác. Điều tất yếu có thể dự báo khi nhìn vào cơ cấu giống của đàn bò, đó
là vần đề năng suất. Bò Vàng là giống bò địa phương, nhỏ con, khối lượng thấp và tỷ lệ thịt xẻ
thấp. Do vậy, một khi giống bò này chiếm phần lớn trong đàn thì ảnh hưởng đến năng suất và
sản lượng là tất yếu và rất lớn.
Cơ cấu đàn bò ở hai giống chính gần giống nhau: ít nhất là bê theo mẹ ở bò vàng, tiếp đến là bò
dưới 3 năm tuổi và nhiều nhất là bò trên 3 năm tuổi ở bò Vàng. Nhìn vào cơ cấu đàn bò trên cho
ta thấy thêm một số vấn đề như: Tỷ lệ bê theo mẹ ở cả 2 giống đều thấp, điều đó nghĩa là, tỷ lệ
đẻ của bò cái trong độ tuổi sinh sản hàng năm chưa cao và một vấn đề nữa là nạn “Giết bê non

NGUYỄN KIM ĐƯỜNG – Một số vấn đề hiện trạng chăn nuôi bò ...
3
để bán đặc sản bê thui ” đang khá phát triển ở Nghệ An. Do vậy, sẽ làm cho tốc độ tăng đàn của
đàn bò chậm. Đàn bò trên 3 năm tuổi chiếm tỷ lệ bò cao, như vậy là đàn bò có độ tuổi lớn - hơi
già, điều này có nghĩa là đàn bò chậm được thay thế. Khi xem xét cơ cấu giống của đàn bò theo
vùng địa lý sinh thái (Bảng 1b)
Bảng 1b. Cơ cấu các giống bò phân theo vùng địa lý sinh thái của Nghệ An
Bò Vàng Bò Laisind Vùng đại diện Tổng
(con) n % n %
Đồng bằng (Quỳnh Lưu + Hưng Nguyên) 757 336 40,00 421 60,00
Miền núi (Thanh Chương + Nghĩa Đàn) 1125 675 55,61 450 44,39
Núi cao (Quỳ Châu) 572 559 97,77 13 2,23
Tổng cộng 2454 1570 63,97 884 36,03
Kết quả Bảng 1 cho thấy, có sự khác nhau rất rõ rệt về cơ cấu giống của đàn bò giữa các vùng.
Vùng đồng bằng bò Laisind chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn bò vàng; ở vùng núi bò Vàng chiếm tỷ
cao hơn bò Laisind, ở vùng núi cao bò vàng chiếm ưu thế tuyệt đối.
Tuy nhiên, nhìn ở khía cạnh số lượng thì đàn bò ở vùng núi nhiều hơn ở vùng đồi núi và vùng
đồi núi lại nhiều hơn vùng đồng bằng (572 con/3 xã điều tra ở Quỳ Châu so với 512 con/3xã
điều tra ở Nghĩa Đàn hoặc Thanh Chương so với 378 con/3 xã điều tra ở Quỳnh Lưu hoặc
Hưng Nguyên ).
Có hiện trạng này là vì: Diện tích đất tự nhiên ở vùng đồng bằng hẹp, mật độ dân số cao, do vậy
nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có hạn chế, bò được nuôi nhốt ở nhà là chính, thức ăn cho chúng là cỏ
trồng, cỏ cắt, tận dụng các nguồn phụ phế phẩm nông công nghiệp. Song, do trình độ hiểu biết khoa
học của người dân khá cao, khả năng đầu tư tốt hơn vùng núi cao và vùng đồi núi, điều kiện tự
nhiện thuận lợi hơn, nên về số lượng đàn bò thì hạn chế, nhưng chất lượng đàn bò cao hơn hẳn vùng
núi cao và vùng núi. Các kết quả thu được trong nghiên cứu này của chúng tôi phù hợp với các kết
quả nghiên cứu của Hoàng Mạnh Quân (2001), ( Nguyễn Kim Đường và Lê Đình Phùng, 2003b).
Quy mô chăn nuôi bò của các hộ
Chúng tôi đã tiến hành điều tra về quy mô chăn nuôi bò ở các hộ tại các điểm điều tra đã được
chọn, kết quả thu được có trên Bảng 2.
Bảng 2. Quy mô chăn nuôi bò ở các hộ tại 3 vùng địa lý sinh thái ở Nghệ An
Đồng bằng Vùng núi Vùng núi cao Quy mô
(con) n
(số hộ) n % n % n % Chung
(%)
1-3 480 240 80,00 175 58,33 65 43,34 64,00
4-6 154 60 20,00 89 29,67 35 23,33 24,54
7-9 58 0 0 26 8,67 26 17,33 6,93
>10 58 0 0 10 3,33 24 16,00 4,53
Tổng 750 300 100 300 100 150 100 100
Kết quả thu được cho thấy, quy mô đàn bò nuôi trong các hộ tại các vùng điều tra còn nhỏ:
Trung bình chỉ ở mức 3,86 con/hộ. Trong đó, có tới 64% số hộ điều tra chỉ nuôi 1-3 con/hộ,
24,54% hộ nuôi 4-6 con, 6,93% hộ nuôi 7-9 con và chỉ 4,53% số hộ nuôi trên 10 con/hộ. Các
kết quả này của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu của Hoàng Mạnh Quân (2001).
Có sự khác nhau về quy mô đàn bò nuôi trong các hộ tại các vùng sinh thái khác nhau. Ở
vùng đồng bằng (Hưng Nguyên và Quỳnh Lưu) chỉ nuôi bình quân 1,71 con/hộ, có tới 80% số

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 13-Tháng 8-2008
4
hộ nuôi với quy mô 1-3 con và chỉ có 20% số hộ nuôi 4-6 con/hộ, không có hộ nào nuôi trên
6 con. Ở vùng núi (Thanh Chương và Nghĩa Đàn) nuôi bình quân 3,63 con/hộ, có tới 58,33%
số hộ nuôi 1-3 con/hộ, 23,33% số hộ nuôi 4-6 con/hộ, 8,67% số hộ nuôi 7-9 con và 3,33% số
hộ nuôi trên 10 con/hộ. Ở vùng núi cao (Quỳ Châu) nuôi bình quân 6,52 con/hộ, có tới
43,34% số hộ nuôi 1-3 con/hộ, 25,54% số hộ nuôi 4-6 con/hộ, 17,33% số hộ nuôi 7-9 con và
16% số hộ nuôi trên 10 con/hộ. Nguyên nhân của sự khác biệt này tương tự như chúng tôi đã
phân tích ở trên. Chúng tôi đã tiến hành điều tra về quy mô chăn nuôi bò theo nhóm hộ khá,
trung bình và yếu tại các điểm điều tra, các kết quả thu được ở Bảng 3.
Bảng 3. Quy mô đàn bò nuôi ở các nhóm hộ điều tra
Khá Trung bình Yếu Quy mô
(con) n (hộ) % n (hộ) % n (hộ) % Chung
1-3 125 50,00 154 61,67 200 80,00 63,89
4-6 63 25,00 50 20,00 42 16,67 20,55
7-9 29 11,67 21 8,33 8 3,33 7,78
> 10 33 13,33 25 10,00 0 0 7,78
Các kết quả trên Bảng 2 cho thấy, có 2 xu hướng ngược nhau về quy mô đàn bò trong các
nhóm hộ có khả năng kinh tế và chăn nuôi khác nhau.
Quy mô đàn bò nhỏ (1-3 con) tăng dần từ nhóm hộ khá xuống nhóm hộ yếu. Quy mô đàn bò
4-6, 7-9 và trên 10 con/hộ giảm dần từ nhóm hộ khá đến nhóm hộ trung bình và thấp nhất ở
nhóm hộ kém. Các kết quả thu được của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Hoàng Mạnh
Quân (2001), Nguyễn Kim Đường và Lê Đình Phùng (2003b)
Quy mô đàn bò có sự khác nhau giữa các nhóm hộ khá, trung bình và kém là hoàn toàn phù
hợp. Bởi lẽ các hộ khá, khả năng đầu tư lớn hơn các hộ trung bình và kém. Các hộ khá thì
hiểu biết khoa học kỹ thuật, khả năng tư duy kinh tế...đều tốt hơn nhóm hộ kém và trung bình.
Tình hình giới tính theo độ tuổi của đàn bò nuôi tại Nghệ An
Để phân tích đàn bò chúng tôi nhận thấy cần đi sâu vào hai nhóm bò dưới 3 và trên 3 năm tuổi
(Bảng 4),
Bảng 4. Phân bố đàn bò ở Nghệ An theo độ tuổi và giới tính
Bò dưới 3 tuổi Bò trên 3 tuổi Giống
bò n (con) % Đực (%) Cái (%) n % Đực (%)
Cái (%)
Bò vàng 562 38,57
41,64 58,36 895 61,43
14,52 85,48
Lai Sind 216 27,94
30,56 69,44 357 72,06
13,17 86,83
Chung 778 33,25
36,10 63,90 1352
66,74
13,84 86,15
Qua phân tích chúng tôi thấy, ở cả hai giống, tỷ lệ bò trên 3 năm tuổi đều cao hơn tỷ lệ bò
dưới 3 năm tuổi là khá nhiều. Bò Vàng bò trên 3 năm tuổi nhiều hơn bò dưới 3 năm tuổi tới
22,86% và ở bò Laisind sự khác biệt này lên tới 44,12%.
Trong đàn bò tỷ lệ bò cái cao hơn bò đực ở cả 2 lứa tuổi và ở cả 2 giống. Bò ở lứa tuổi dưới 3
năm, bò Laisind có tỷ lệ cái cao hơn hẳn bò Vàng. Ở lứa tuổi trên 3 năm, tỷ lệ đực cái ở 2 giống
là tương đương nhau. Có kết quả này là do, có thể bò Laisind có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn
đạt khối lượng giết thịt ở tuổi non hơn, nên đã giết thịt sớm, làm giảm tỷ lệ nhanh hơn bò Vàng,

NGUYỄN KIM ĐƯỜNG – Một số vấn đề hiện trạng chăn nuôi bò ...
5
ngược lại bò Vàng sinh trưởng chậm, khối lượng đạt thấp, giết thịt ở tuổi già hơn nên tỷ lệ giảm
chậm hơn so với bò Laisind.
Tỷ lệ bò đực trên 3 năm tuổi ở bò Vàng là 14,52% và ở bò Laisind là 13,17%, tỷ lệ này là khá
cao, đặc biệt là ở nhóm bò Vàng. Từ các số liệu này chúng ta có thể thấy được rằng, bò cái vẫn
được phối giống chủ yếu do nhảy trực tiếp, nói cách khác là công tác thụ tinh nhân tạo cho đàn
bò còn hạn chế.
Tình trạng này dẫn tới hai kết quả: Tỷ lệ bò lai tăng chậm và đàn bò có thể bị đồng huyết do bò
đực giống chăn thả, tự phối giống trực tiếp cho bất kỳ bò cái nào khi chúng động dục do không
quản lý được công tác phối giống.
Tình hình sử dụng của bò nuôi tại Nghệ An
Phân tích đàn bò theo mục đích sử dụng (Bảng 5) chúng tôi nhận thấy, đàn bò chủ yếu được
dùng vào mục đích sinh sản.
Bảng 5. Tình hình sử dụng bò ở đàn bò Nghệ An
Giống Tổng Sinh sản (%) Nuôi lấy thịt (%) Cày kéo (%)
(con) Số con % Số con % Số con %
Bò vàng 1457 856 58,73 388 26,65 213 14,62
Bò lai Sind 573 327 57,03 126 22,02 120 20,95
Chung 2030 1183 58,28 514 25,32 333 16,40
Bò được sử dụng vào mục đích lao tác (cày, kéo) không còn nhiều. Bò nuôi để lấy thịt cũng
không có tỷ lệ cao. Điều này là không hợp lý, có thể do số liệu chỉ phản ảnh đàn bò hiện đang
nuôi, mà phần lớn bò đã được bán để giết thịt ở độ tuổi nhỏ (bê thui) và ở lứa tuổi lớn hơn thì
chưa có sự vỗ béo. Cả hai vấn đề này của việc “giết thịt bò” đều dẫn đến một kết quả là năng
suất thịt và sản lượng thịt thương phẩm của đàn bò bị hạn chế.
Tuy nhiên, nhìn từ một khía cạnh khác, đó là năng lực chăn nuôi như khả năng đầu tư, đặc
biệt là đầu tư về thức ăn cho đàn bò ở lứa tuổi và khối lượng lớn hơn còn hạn chế nên phải kết
thúc (giết thịt) sớm.
Tình hình thu gom và xử lý các chất thải chăn nuôi bò trong các hộ
Kết quả điều tra về thu gom và xử lý các chất thải chăn nuôi bò trong các hộ được trình bày
trên Bảng 6.
Bảng 6: Tình hình thu gom và xử lý các chất thải chăn nuôi bò trong các nông hộ
Địa bàn Thu gom chất thải (%) ủ phân sinh học (%) Khí sinh học (%)
Hưng Nguyên 73,33 33,33 3,34
Quỳnh Lưu 72,55 34,47 3,18
Thanh Chương 65,45 32,16 2,39
Nghĩa Đàn 63,33 35,12 1,67
Quỳ Châu 61,75 18,25 0,00
Chung 65,53 30,67 2,12
Về phân và nước thải, phần lớn đều được thu gom và xử lý. Tuy nhiên, do phần lớn các chất
thải chăn nuôi bò được thu gom với mục đích vệ sinh chuồng trại, sử dụng bón trực tiếp cho

